Đông Phương Sóc
ID015659 - Tự Điển : Đông Phương Sóc 🖶 Print this Tự Điển
dictionary : Cao Đài Tự Điển - Vần DD(Đ)
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Đông Phương Sóc

東方朔

Theo sách Sử Ký của Tư Mã Thiên, Đông Phương Sóc là một học giả cùng thời với ông, dưới trào vua Hán Võ Đế, năm sanh và năm mất không rõ. Sử gia Tư Mã Thiên chép chuyện Đông Phương Sóc trong chương "Hoạt Kê liệt truyện" trích ra sau đây:

"Thời Vũ Đế có người nước Tề, họ Đông Phương tên là Sóc, thích đọc truyện sách xưa, yêu đạo Nho, xem nhiều sách của các nhà. Lúc đầu, Sóc vào Trường An, đến công xa dâng sách, vào khoảng ba ngàn thẻ tre (thời xưa chưa có giấy viết, dùng dao khắc chữ vào thẻ tre), công xa sai hai người ôm thẻ tre đưa lên mới nổi. Nhà vua ở trong cung đọc, ngừng lại chỗ nào thì đánh dấu chỗ đó, đọc hai tháng mới hết. Chiếu cho Sóc làm quan Lang, thường hầu ở bên cạnh nhà vua. Nhà vua mấy lần gọi đến trước mặt để nói chuyện, không lần nào nhà vua không vui lòng, có khi cho thức ăn trước mặt vua, Sóc ăn xong, còn bao nhiêu thịt thì mang đi làm bẩn hết cả áo.

Mấy lần nhà vua thưởng cho lụa là, Sóc vác lên vai mà đi, dùng tất cả lụa và tiền vua cho để lấy những người con gái đẹp và trẻ ở Trường An. Cứ lấy được một năm lại bỏ, lấy người vợ khác. Nhà vua cho được bao nhiêu tiền của đều tiêu hết vào việc lấy vợ. Các quan Lang xung quanh nhà vua, phân nửa gọi Sóc là anh Cuồng.

Nhà vua nghe vậy nói:

- Nếu Sóc làm quan không có điều ấy thì các ngươi làm sao kịp nó được.

Sóc cử con làm quan Lang, lại làm người yết giả để chầu chực, thường cầm cờ tiết đi sứ. Sóc đi trong điện, có quan Lang bảo: - Người ta đều bảo tiên sinh là người cuồng.

Sóc nói: - Như bọn Sóc đây có thể gọi là trốn đời ở giữa triều đình vậy. Người đời xưa mới trốn đời ở trong núi sâu.

Sóc thường ngồi trên chiếu uống rượu, say bò trên đất mà hát: "Luân lạc cùng với bọn thế tục, ở ẩn nơi Kim Mã. Trong cung điện có thể trốn đời, bảo toàn thân mình, cần gì phải vào nơi núi sâu, ngồi dưới lều cỏ."

Cửa Kim Mã là cửa quan, hai bên có hai con ngựa bằng đồng nên gọi là cửa Kim Mã.

Sóc thường cùng các quan Bác sĩ họp nhau trong cung bàn luận. Những người kia hỏi vặn Sóc:

- Tô Tần, Trương Nghi, một khi gặp các vị vua có vạn cổ xe đều lên địa vị Khanh Tướng, ơn đức lưu lại đến đời sau. Nay ông trau giồi đạo tiên vương, hâm mộ các nghĩa của Thánh nhân, đọc thuộc ngâm nga lời của Kinh Thi, Kinh Thư, Bách gia, kể không thể hết. Viết ở trên tre, lụa, cho rằng trong thiên hạ không ai bằng mình. Như thế có thể gọi là kẻ biết nhiều, có tài biện luận vậy. Nhưng ông đem hết sức hết lòng để thờ Thánh đế, đến nay, ngày qua tháng lại đã được mấy chục năm ròng, mà chức quan chẳng qua là Thị Lang, địa vị thực ra chỉ cầm kích để hầu, như thế có phải còn điều gì thiếu sót chăng? Thế là tại làm sao?

Đông Phương Sóc nói:

- Đó không phải là điều các ông biết được! Thời xưa khác, thời nay khác, có giống nhau đâu! Thời Trương Nghi, Tô Tần, ngày xưa là lúc nhà Chu tan rã, chư Hầu không vào chầu, về chánh trị thì dùng võ lực tranh nhau quyền thế, đem binh giữ nhau, thôn tính nhau, còn lại 12 nước, không ai hơn ai. Nước nào được kẻ sĩ thì mạnh, nước nào mất kẻ sĩ thì mất nước. Vì thế cho nên kẻ sĩ nói được nghe, đi được lọt, thân mình ở địa vị tôn quí, ơn đức lưu lại đời sau, con cháu mãi mãi vinh hiển.

Ngày nay không phải thế nữa! Thánh đế ở trên, ơn đức tưới khắp thiên hạ, chư Hầu theo phục, uy thế vang đến tứ di, cả ngoài bốn biển cũng đều liền như chiếu, thế yên ổn như cái chậu úp sấp, tất cả thiên hạ đều cân bằng, thu vào một nhà, có việc gì muốn làm thì dễ như trở bàn tay. Bấy giờ, người hiền người dở có khác gì nhau nữa đâu! Trong lúc nầy, thiên hạ to lớn, kẻ sĩ và dân chúng đông đúc, những người đem hết tâm lực, học thuyết kéo nhau tụ tập, không thể kể hết.

Những kẻ hết sức theo nghĩa, ăn mặc còn thiếu thốn, có kẻ mất cả thể diện, gia thế. Giả sử Trương Nghi, Tô Tần cùng tôi đều sinh ra ở đời nầy thì họ sẽ không được chức quan Chưởng Cố, chứ làm gì mong đến chức Thường Thị Thị Lang. Truyện có câu: Trong thiên hạ nếu không có điều nguy hại, tai họa thì Thánh nhân cũng không có chỗ để thi thố tài năng. Trên dưới hòa hợp thì người hiền cũng không có cách gì lập công. Cho nên nói rằng thời đổi khác thì việc đổi khác. Tuy nhiên, điều đó đâu phải là để ta không lo tu thân.

Kinh Thi nói: Chuông đánh ở cung, tiếng vang ra ngoài. Hạc kêu nơi ao đầm xa xôi, tiếng nghe trên trời. Nếu mình tu thân thì lo gì không được hiển vinh. Xưa, Thái Công lo làm việc nhân đức, năm 72 tuổi gặp Văn Vương, được thực hành cái thuyết của mình, được phong đất ở Tề 700 năm mà không dứt. Chính vì vậy cho nên kẻ sĩ ngày đêm lo lắng trau giồi việc học, thực hành đạo nghĩa không dám thôi. Nay những người xử sĩ, trên đời tuy chưa gặp thời, vẫn đứng nghiễm nhiên ở một nơi, một mình sừng sững, trên xem Hứa Do, dưới nhìn Tiếp Dư, theo sách lược của Phạm Lãi, trung thành hợp với Tử Tư, thiên hạ hòa bình, tu thân để giữ gìn mình. Nếu mình cô độc, ít có bè bạn, thì đó là lẽ thường. Các ông sao lại nghi ngờ ta?

Các Bác sĩ đều im lặng, không biết dùng lời gì đáp lại.

Ở lan can gác sau cung Kiến Chương có con vật xuất hiện, hình nó giống như con nai. Người ta tâu lên, vua Hán Vũ Đế tới xem, hỏi các quan chung quanh và những người am hiểu đạo Nho nhưng không ai biết là con gì. Vua sai Đông Phương Sóc đến xem, Sóc nói:

- Thần biết. Xin nhà vua cho rượu ngon cơm ngọt đãi thần một bữa tiệc sang thì thần mới nói.

Chiếu nói: - Được.

- Ở nơi nọ có mấy sở công điền, ao cá, mấy khoảnh đất lau lách, bệ hạ cho thần thì Sóc mới nói.

Nhà vua cũng bằng lòng cho. Bấy giờ Sóc mới chịu nói:

- Con vật ấy là con Sô Nha. Nơi xa xôi sắp theo về thần phục nên con Sô Nha xuất hiện trước, răng cửa răng hàm nó như nhau, bằng nhau như không có răng vậy, cho nên gọi nó là Sô Nha.

Sau đó một năm, quả nhiên có vua Hồn Gia của Hung Nô đem 10 vạn người đến đầu hàng nhà Hán. Nhà vua bèn thưởng cho Sóc rất nhiều tiền bạc.

Khi Sóc sắp mất, Sóc can nhà vua:

- Lằng xanh nhung nhúc, đậu ở rào giậu. Người quân tử chớ nghe lời gièm pha. Lời gièm pha làm rối loạn các nước bốn phương. Xin bệ hạ đuổi xa bọn xu nịnh, gạt bỏ lời gièm pha.

Nhà vua nói:

- Ngày nay, Đông Phương Sóc cũng nói được những lời hay đến thế sao!

Vua lấy làm lạ, được ít lâu sau, quả nhiên Sóc mắc bệnh chết. Truyện có câu: Con chim sắp chết thì tiếng kêu thảm thương, người sắp chết thì lời nói hay, là ý nghĩa như vậy."

Trong sách Thần Tiên Truyện của Trung quốc có chép về Đông Phương Sóc như sau đây:

"Đông Phương Sóc tự là Mạn Sảnh, người ở Bình Nguyên. Có một lần ông đi chơi một năm sau mới trở về nhà. Anh của ông hỏi vì sao ông đi chơi lâu như thế?

Đông Phương Sóc đáp rằng: Tôi đi đến bờ biển rong chơi, biển có chỗ nước màu tím làm dơ y phục của tôi, tôi chỉ có cách chạy đến Ngô Uyên để rửa sạch. Tôi mới ra đi buổi sáng, trưa lại trở về, sao anh nói tôi đi mất một năm.

Thời vua Hán Vũ Đế, Đông Phương Sóc dâng thư lên vua, tự cử mình như Mao Toại. Ông viết:

"Thần là Sóc, từ nhỏ mất cha mẹ, được anh và chị dâu nuôi dưỡng. Năm 12 tuổi đi học, ba năm hiểu rành văn sử vận dụng rành mạch. Năm 15 tuổi học kiếm, 16 tuổi học Thi Thư, có thể thuộc 22 vạn chữ, 19 tuổi học binh pháp Tôn Tử, tất cả chiến thuật đều thông suốt. Năm nay tôi 22 tuổi, người cao 9 thước ba, môi đỏ như son, răng đều như bắp, dũng mãnh lanh lẹ, thanh liêm và uy tín, nhân tài như tôi tự giới thiệu cho Ngài, giống như Mao Toại, không có vấn đề gì."

Ngữ khí của Đông Phương Sóc không một chút khiêm tốn, mà còn thổi phồng mình nữa, nhưng bậc anh tài đại lược như Hán Vũ Đế dĩ nhiên có mắt sáng nhận biết được anh hùng, xem biết người nầy không phải tầm thường, nên lập tức phong Đông Phương Sóc làm quan, thường ở Kim Mã Môn hầu Hán Vũ Đế, và thường ban thưởng cho ông.

Đông Phương Sóc dùng đồ vua ban thưởng để cưới một thiếu phụ ở Trường An.

Có lúc ông uống rượu say, ngồi trên đất ca hát: "Ta tránh thế gian làm người trong triều đình. Người đời rất nhơ nhớp, ta muốn ẩn cư trong Kim Mã Môn, cung điện có thể bảo tồn tánh mạng cho ta, đâu cần đi vào rừng sâu mà trốn."

Đông Phương Sóc trước khi chết, nói với các bạn đồng liêu: "Thiên hạ chưa có ai biết được lai lịch của ta, biết ta chỉ có một người là Đại Ngũ Công."

Đông Phương Sóc chết rồi, sau đó Hán Vũ Đế biết việc nầy, đòi Đại Ngũ Công tới hỏi, Đại Ngũ Công nói không biết. Vua hỏi về các tinh tú trên Trời, Đại Ngũ Công nói các tinh tú đều có đủ, chỉ có Tuế Tinh 40 năm nay không biết đi đâu, không ngờ ngày gần đây mới xuất hiện trở lại.

Hán Vũ Đế ngước mặt lên Trời than: "Đông Phương Sóc sống bên ta 18 năm mà không biết ông ta là Tuế Tinh."

Đông Phương Sóc tuy đã trở về cõi Trời, nhưng ông đã để lại cho Hán Vũ Đế nhiều văn chương văn bút của ông, có mục đích khuyên Vũ Đế theo thiện bỏ ác, luôn luôn tu thân.

Do bộ óc khôi hài nên được nhiều người gán cho nhã hiệu là: Hoạt kê chi hùng (người hùng có tài hoạt kê)."

Trong truyện Hớn Rước Diêu Trì, có nói về ông Đông Phương Sóc tu thành Tiên, chép ra như sau đây:

"Lòng mộ Đạo và sự tín ngưỡng nơi Trời Phật đã trải qua các triều đại Đế Vương, dĩ chí đến đời nhà Hớn (Hán), duy chỉ có vua Hớn Võ Đế là thật lòng thành kính và tin tưởng có Đấng Phật Mẫu hơn ai hết.

Từ ngàn xưa, nhơn loại đã tin tưởng và thờ phượng Đấng Phật Mẫu, cũng gọi là Diêu Trì Kim Mẫu hay Bà Thiên Hậu, tin chắc rằng Đấng Vô Hình ấy tạo hóa ra nhơn loại và vạn vật, nhưng chưa ai được may mắn nhìn thấy Đức Phật Mẫu.

Vua Hớn Võ Đế hay Hán Vũ Đế (141-87 trước Tây lịch) là vị vua thứ 5 của nhà Hớn (Hán) bên Tàu, có hùng tài đại lược, nhưng cũng rất tín ngưỡng Trời Phật.

Khi Hớn Võ Đế mới lên ngôi, Ngài có phát nguyện lập một cảnh chùa thật tráng lệ gọi là HOA ĐIỆN để sùng bái Trời Phật. Gọi là Hoa Điện, vì chùa nầy được chạm khắc hình các thứ hoa trên các vật liệu xây dựng, nên mới trông vào thấy như là một Cung Điện toàn bằng hoa.

Ngôi chùa lớn lao cực kỳ xinh đẹp như thế, nhưng nhà vua chưa quyết định thờ Đấng nào, chỉ để trống, chủ tâm là chờ đợi đến chừng nào nhà vua thấy được sự huyền diệu hiện tượng ra thì nhà vua mới sùng bái.

Đến năm Hớn Võ Đế được 61 tuổi, nhà vua định tổ chức một Lễ Khánh Thọ Đáo tuế long trọng, và Ngài có sở vọng là cầu khẩn thế nào cho có Đức Phật Mẫu giáng xuống chứng lễ, nên nhà vua lập bàn hương án trước sân chùa cầu khẩn ngày đêm, mà không biết Đức Phật Mẫu ngự ở nơi nào và có thấu biết chăng.

Lúc bấy giờ có Ông Đông Phương Sóc, tu đắc đạo thành Tiên, mà trước kia Ông có làm quan trong triều đình của vua Hớn Võ Đế, sau về núi tu luyện, đang ngồi tịnh, chợt động tâm, liền đoán biết hiểu rõ mọi việc của Võ Đế nơi triều đình. Ông liền xuống núi, đi đến Kinh đô, vào triều đình yết kiến Võ Đế.

Vua Hớn Võ Đế gặp Đông Phương Sóc thì rất mừng rỡ, thuật hết mọi việc cho Đông Phương Sóc nghe và nói rõ ước vọng của nhà vua nhân cuộc Lễ Khánh thọ Đáo tuế là sở cầu Đức Phật Mẫu đến chứng lễ, mà không biết Phật Mẫu ở nơi nào, và nhờ ai đi thỉnh, may mắn có Đông Phương Sóc tới, vậy nhờ khanh giúp trẫm đi thỉnh Đức Phật Mẫu được chăng?

Ông Đông Phương Sóc tâu rằng:

- Bệ hạ đã định thì Hạ thần xin phục mạng, dầu khổ nhọc thế nào, Hạ thần cũng sẽ đến Diêu Trì Cung thỉnh Đức Phật Mẫu, nhưng kết quả được cùng chăng là do lòng thành cầu nguyện của Bệ hạ. Vậy xin Bệ hạ ban chiếu cho Thần đi thỉnh.

Đoạn Đông Phương Sóc lãnh chiếu chỉ ra đi.

Ông dùng huyền diệu Tiên gia có khác, chỉ trong chốc lát, Đông Phương Sóc đã đến được Diêu Trì Cung nơi cõi Tạo Hóa Thiên. Sóc xin vào yết kiến Đức Phật Mẫu và tâu bày hết các việc của vua Hớn Võ Đế khẩn cầu.

Đức Phật Mẫu cảm động và phán:

- Phật Mẫu sẽ giáng phàm vào đêm Trung Thu chứng lễ Khánh thọ của Hớn Võ Đế theo sự khẩn cầu, sẽ đem theo 4 Tiên đồng Nữ nhạc đờn ngâm bài chúc thọ, và tặng 4 quả Đào Tiên . Khi Phật Mẫu đến có Thanh loan báo tin trước.

Sóc rất vui mừng, bái tạ Đức Phật Mẫu, rồi cấp tốc trở lại trần gian, vào triều tâu bày các việc cho vua Võ Đế rõ.

Nhà vua rất vui mừng và hỏi:

- Thanh loan là gì?

Đông Phương Sóc đáp:

- Thanh loan là con chim loan màu xanh, đó là con chim lịnh của Phật Mẫu, dùng để chở Phật Mẫu du hành khắp nơi.

Xin Bệ Hạ chỉnh trang cho long trọng, tinh khiết và thanh tịnh để nghinh tiếp Đức Phật Mẫu, phải lập bàn hương án bên trong và bên ngoài, xông hương khử trược và cho thật tinh khiết và trang nghiêm.

Đêm rằm Trung Thu năm đó, trăng sáng vằng vặc, đầu giờ Tý, Hớn Võ Đế quì trước Hoa Điện, thành tâm cầu khẩn.

Xảy thấy một con chim Thanh loan đáp xuống sân Hoa Điện. Liền khi đó, Đức Phật Mẫu cùng Cửu vị Tiên Nương và 4 Tiên đồng Nữ nhạc giáng lâm trước Hoa Điện.

Hớn Võ Đế cung nghinh Đức Phật Mẫu vào ngự nơi Chánh điện của Hoa Điện.

Đức Phật Mẫu dạy 4 Tiên đồng Nữ nhạc trao tặng cho Hớn Võ Đế 4 quả Đào Tiên và ca ngâm bài chúc thọ. Ông Tiên Đông Phương Sóc quì, hai tay nâng cái dĩa lên để rước lộc (rước 4 quả Đào Tiên).

Bốn vị Tiên đồng Nữ nhạc ấy có tên là:

- Hứa Phi Yến, - Đổng Song Thành,

- An Phát Trinh, - Vương Tử Phá.

Sau khi chứng lễ Đáo tuế của Hớn Võ Đế xong, Đức Phật Mẫu cùng Cửu vị Tiên Nương và 4 Tiên đồng Nữ nhạc cỡi chim Thanh loan trở về Diêu Trì Cung nơi cõi Thiêng liêng.

Vua Hớn Võ Đế ghi nhớ hình ảnh của Đức Phật Mẫu và Chín vị Nữ Tiên, cho thợ khéo, tạc hình Đức Phật Mẫu và Chín vị Nữ Tiên nơi Hoa Điện để ghi nhớ sự tích và phụng thờ Đức Phật Mẫu."

Sự tích nầy được truyền tụng đến ngày nay.

Chúng tôi sưu tầm được một bài Thánh giáo của ông Đông Phương Sóc, đăng trong Đại Đạo Nguyệt San số 11 (1965), xin chép ra sau đây:

Ngày giáng cơ: 3-6-Mậu Dần (dl 30-6-1938)

"Giáng điển nâng thần bút,

Chào chư Chức sắc Thiên phong,

Có ai biết Ta không? Ta là Đông Phương Sóc.

Nghe nói nhiều tay ham học, hỏi học làm chi? Nói học làm Trời, mà làm người chưa đúng.

Hỏi người tu làm chi? Nói tu thành Phật thành Tiên, mà tánh đảo điên không bỏ.

Hỏi sao không biết hổ, còn ngóng cổ cãi hoài.

Quấy là ai? Phải là ai? Hỏi lại ai ai cũng quấy.

Mắt chưa thấy, tai chưa nghe, mở miệng ra khoe tôi là trí thức, đua chen rộn rực, làm in tuồng quỉ chực dàn chay, kẻ nói dở, người nói hay, dở hay không quyết đoán. Tu lâu năm chầy tháng, tu nhiều ngày kết án dẫy đầy, quấy ăn mặn, phải ăn chay, mặn chay chay mặn. Đã biết Trời trao gánh nặng, sao không lo gánh nặng cho rồi? Xưng mình là đạo đức cao ngôi, sao lại dám bỏ trôi phận sự. Kẻ đa ưu, người đa lự chưa rành, người ganh ghét, kẻ cà nanh thêm sanh ác cảm.

Ôi! Ôi! Nhìn thấy chư hiền mà thảm, thảm cho người rồi thảm cho đời, đời trở lại phá đời, rồi trở lại nói đời quá dữ.

Đạo thì không lo lánh dữ, rồi trở lại trách Trời, có tiền định đổi dời, người sao dám chống Trời ngăn cản. Nay kết phe, mai kết đảng, quyết lòng đánh tản Thiên điều, sớm tự đắc, tối tự kiêu, tưởng rằng Đạo bấy nhiêu là hết.

Một câu kinh chưa biết, dám xưng mình rằng thiệt thông minh, kẻ thì chống, người thì kình, kình chống cho lâu thêm hại.

Kẻ khoe khôn, người nói dại, khôn dại rồi lại tự hại mình.

Xuống bút thần dặn bảo đinh ninh, phải không phải tự mình hỏi lại.

Tự mình hỏi lại tại vì đâu?
Cũng bởi Thiên cơ chẳng dễ dầu.
Dầu chẳng dễ dầu, dầu khó dễ,
Dễ dầu, khó dễ, chớ cơ cầu.
***
Đông Phương nhựt xuất chiếu kiền khôn,
Sóc giáng phân minh rõ xác hồn.
Ca chẳng biết Ca mà kể giọng,
Được dầu không được, giữ cho tồn.

Bần đạo giáng đàn rất hổ! Hổ vì Ca chê chỗ bất tài. Thần Tiên thảm thiết bi ai, thương vì được việc may đành rủi. Ta khuyên đừng có tủi, buổi cuối cùng rủi đó rồi may. Lời xin người chớ vội khoe tài, cơn rắc rối ỷ tài thêm hại.

Sớm hồi tâm suy nghĩ, suy nghĩ thành chớ ỷ không thành, khuyên bớt việc cành nanh, nanh vút nhọn ắt sanh chuyện dữ.

Xúm nhau mưu sự, dạ hằng lo chống cự cho vừa, ngoài kẻ chắc phần đông, lòng quyết chí lấp sông tát biển.

Chưa xong điều hiển mà luận việc vô vi, chẳng rõ chữ trí tri, lại kẻ canh vật lý. Câu tâm linh phước chí, Trời lựa người mà mượn ký thiêng liêng, căn tình dục đảo huyền, ái nữ phụ sớm khuyên chừa bỏ.

Luật Thiên đình treo đó, người tu phải ngó cho tường, pháp nước rõ chán chường, ai sớm biết tìm phương lánh họa. Muốn tu cho khỏi đọa, ta khuyên chừa cái dạ đa nghi, muốn theo đứa vô nghì thì phải mê si chung với nó.

Trương buồm coi chừng gió, gió có ngược có xuôi, mọi việc đều có đầu đuôi, đầu đuôi có chỗ.

Xét sao không biết hổ, phận mình còn nhiều chỗ chưa rồi, hồn dụ dự lôi thôi, trong đó cũng có hồi còn sơ sót. Tranh đua theo nước bọt, không lo học lo hành, giả dối muốn tranh giành, lòng chẳng ưa việc phải.

Ta nói chung cả thảy, muốn theo Thầy thì phải tin Thầy, lời dặn chớ lầm sai, không tu niệm, tội ai nấy chịu. Xét sớm mau lo liệu, đừng để muộn ăn năn, khuyên chớ có dùng dằng, ắt không tròn bổn phận. Chác chi điều cừu hận, làm cho bạn ưu phiền, dứt hết nợ oan khiên, ngày sau mình khỏi đọa.

Đạo lúc nầy rời rã, cũng vì tứ bửu không hòa, Trời định chẳng dung tha, làm lũ yêu tà thêm vỡ mật.

Một còn một mất, còn mất là lẽ tự nhiên, một dữ một hiền, dữ hiền là thay đổi. Ai sớm may gặp hội, cũng trong một lúc nầy, kẻ vô phước chẳng may, rồi đây toan bỏ việc.

Muốn tu phải giả câm giả điếc,
Dầu thiệt hư mình biết lấy mình.
Hành đạo thì tâm tánh cho thanh,
Dầu trong đục tự mình lóng trước.

Ai có công thì hưởng phước, lòng đừng mơ ước uổng công. Muôn việc chi phải trước đề phòng, hơ hỏng ắt không thành việc.

Giáng bút phân rành hơn thiệt, ai sớm biết liệu lo, sâu thì chống, cạn thì dò, đừng để cho đến đỗi giông tuông rồi gió thổi. Cũng trong một lúc nầy, xây chuyển lại chuyển xây, cuộc đời thay đổi. Ta khuyên đừng có vội, ráng an lòng chờ đợi lịnh Trời. Tiếng nói chẳng phải chơi, nhiều lời ắt vương nên tội lỗi. Có tội thì sau sám hối, để lâu ngày thì tội không trừ, việc thiệt dám chê hư, dầu cho Đấng Đại Từ không chế đặng.

Đường ngay mực thẳng, phe đảng tan tành, lời thiệt phân rành, người tu chung hiệp. Chân thiện lo cần kíp, đừng để trễ ngày giờ, nếu biết luận Thiên cơ, đừng ngẩn ngơ chán ngán.

Khuyên đừng chán ngán, ráng lo tròn,
Ấy mới thật là trọn nghĩa con.
Thoả thuận cùng không cơn rắc rối,
Vững bền theo Đạo mới vuông tròn.
ĐÔNG PHƯƠNG SÓC