Kỷ nguyên

紀元

A: The year of a new era.

P: L"année d"une nouvelle ère.

Kỷ: ghi chép. Nguyên: bắt đầu.

Kỷ nguyên là ghi chép thời điểm khởi đầu để tính năm từ đó trở về sau.

■ Đối với Tây lịch, người ta dùng kỷ nguyên của Công giáo (nên gọi tắt là Công nguyên) là năm giáng sanh của Đức Chúa Jésus. Năm giáng sanh của Đức Chúa Jésus khởi tính là 1, bắt đầu từ đó đếm dần đến năm nay (năm Canh Thìn) là 2000, tức là Đức Chúa Jésus giáng sanh trước đây 2000 năm.

■ Đối với Phật lịch, Phật giáo dùng kỷ nguyên là năm Đức Phật Thích Ca tịch diệt, tức là năm tử của Đức Thích Ca. Năm đó khởi tính là 1, đếm dần đến năm nay (năm Canh Thìn) là 2544, tức là Đức Thích Ca tử cách nay là 2544 năm, nên ghi: Phật lịch 2544.

■ Đối với Đạo Cao Đài, kỷ nguyên của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là năm Bính Dần, là năm Đức Chí Tôn khai đạo, ứng với Tây lịch năm 1926. Vậy năm Bính Dần khởi tính là 1, năm Đinh Mão tính là 2, năm Mậu Thìn tính là 3, v.v... đếm dần đến nay năm Canh Thìn tính là 75. Vậy là Đạo lịch 75.

Đó là nói chung, nhưng thực tế, Hội Thánh lấy ngày làm Đại Lễ Khai Đạo tại chùa Gò Kén 15-10-Bính Dần để khởi đầu tính năm. Mỗi năm đến ngày nầy thì Đạo lịch tăng thêm 1.

Như thế thì:

· Từ ngày 15-10-Bính Dần đến 14-10-Đinh Mão là Năm Đạo thứ nhứt: Đệ nhứt niên.

· Từ ngày 15-10-Đinh Mão đến 14-10-Mậu Thìn là Năm Đạo thứ hai: Đệ nhị niên.

· v.v... ... ...

· Từ ngày 15-10-Kỷ Mão đến 14-10-Canh Thìn là Năm Đạo 74: Thất thập tứ niên.

· Từ ngày 15-10-Canh Thìn đến 14-10-Tân Tỵ là Năm Đạo 75: Thất thập ngũ niên.

· Từ ngày 15-10-Tân Tỵ đến 14-10-Nhâm Ngọ là Năm Đạo 76: Thất thập lục niên. v.v...

Chúng ta thấy việc tính năm như vậy có phần rắc rối, bởi vì trong cùng một năm âm lịch mà có tới hai Năm Đạo, đầu năm thì Năm Đạo khác, cuối năm thì Năm Đạo khác.

Thí dụ như năm Canh Thìn:

· Đầu năm Canh Thìn thì Năm Đạo là 74,

· Cuối năm Canh Thìn thì Năm Đạo là 75.

Cho nên chúng tôi xin đề nghị lấy năm Khai Đạo (Bính Dần) làm năm kỷ nguyên Đạo lịch, tức là lấy ngày 1-1-Bính Dần làm ngày kỷ nguyên của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Như thế, trọn năm Bính Dần là năm Đạo thứ nhứt.

Trọn năm Đinh Mão là Năm Đạo thứ hai.

Trọn năm Mậu Thìn là Năm Đạo thứ ba. v.v...

Việc chọn ngày 1-1-Bính Dần làm kỷ nguyên Đạo lịch rất hợp lý, vì hai lý do sau đây:

Lý do thứ nhứt: Ngày 1-1-Bính Dần, Đức Chí Tôn đã chánh thức thâu được 12 môn đệ, và trước giờ Giao thừa, Đức Chí Tôn đi thăm các môn đệ nơi tư gia, khi đến nhà mỗi môn đệ Đức Chí Tôn cho một bài thi 4 câu. Đến giờ Giao thừa, Đức Chí Tôn giáng cơ cho bài Thánh giáo đầu tiên dạy các môn đệ khởi đi truyền Đạo cứu độ nhơn sanh.

Trong quyển Đại Đạo Căn Nguyên của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu, trang 17, có chép như sau:

"Tái cầu lại, nhằm 11 giờ khuya, giờ Tý năm Bính Dần, Thượng Đế dạy rằng:

Chư đệ tử nghe: CHIÊU buổi trước hứa lời truyền Đạo, cứu vớt chúng sanh, nay phải y lời mà làm chủ, dìu dắt cả môn đệ Ta vào đường đạo đức đến buổi chúng nó thành công, chẳng nên tháo trút. Phải thay mặt cho Ta mà dạy dỗ chúng nó.

TRUNG, Kỳ, HOÀI, ba con phải lo thay mặt cho CHIÊU mà đi độ người. Nghe và tuân theo.

BẢN, SANG, GIẢNG, QUÍ lo dọn mình đạo đức đặng truyền bá cho chúng sanh. Nghe và tuân theo.

ĐỨC tập cơ, HẬU tập cơ, sau theo mấy anh đặng độ người. Nghe và tuân theo.

Ấy là lời Thánh giáo đầu tiên. Ấy là kỷ niệm ngày Khai Đạo mồng 1 giờ Tý năm Bính Dần vậỵ."

Qua đến ngày mùng 9 tháng giêng năm Bính Dần, Đức Chí Tôn mới ban cho bài thi bốn câu có tên của 12 môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn mà chúng ta đã biết.

Tên 12 môn đệ trong bài thi đó là: CHIÊU, KỲ, TRUNG, HOÀI, BẢN, SANG, QUÍ, GIẢNG, HẬU, ĐỨC, TẮC, CƯ.

Lý do thứ hai: Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, ngày mùng 1 Tết năm Đinh Mão, Đức Chí Tôn giáng cơ kiểm điểm một năm truyền Đạo, độ được hơn 40 000 người theo Đạo.

Như thế, chúng ta mặc nhiên thấy rằng, ngày thực tế Đức Chí Tôn mở Đạo và truyền Đạo là ngày mùng 1 Tết năm Bính Dần.

Còn ngày 15-10-Bính Dần chỉ là ngày làm lễ chính thức ra mắt quốc dân và quốc tế, sự hiện hữu của Đạo Cao Đài.

Sau đây, chúng tôi xin chép lại bài Thánh ngôn đêm giao thừa, rạng ngày mùng 1 Tết Đinh Mão:

"Các con . . . Mừng các con.

TRUNG, CƯ, TẮC, mấy con nhớ đêm nay năm rồi thế nào? Còn nay thế nào chăng? TRỊNH THỊ ÁI NỮ, HIẾU, hai con đã thấy Thầy giữ lời hứa thế nào chăng?

Thầy lập Đạo năm rồi ngày nầy thì môn đệ của Thầy chỉ có 12 đứa, mà 4 đứa đã rơi vào tay Chúa Quỉ, chỉ còn lại 8. Trong 8 đứa thì lại còn một đôi đứa biếng nhác mà không hành đạo.

Thầy hỏi nếu chẳng phải quyền hành Thầy, dầu cho một vị Phật thiệt lớn giáng thế đi nữa, cũng chưa có phương chi độ hơn bốn muôn sanh linh nhờ tay có 6 đứa môn đệ trong một năm cho đặng bao giờ.

Thầy vui mừng, Thầy khen tặng hết thảy bốn muôn môn đệ của Thầy.

THƠ, con đã ngoan Đạo, mà sự ngoan Đạo của con đó còn độ lắm kẻ. Thầy khen con.

BÍNH, Thầy thưởng công con, cho lên chức Phối Sư. Thầy cám cảnh lòng yêu mến của con, Thầy cám ơn lòng đạo đức của con. Sanh linh còn nhờ công con mà thoát qua khổ hải.

BẢN, Thầy thăng chức Giáo Sư.

TRÒ, Thầy cho lên chức Giáo Hữu.

Nhiều đứa khác nữa, ngày mùng 9, Thầy biểu đòi về cho Thái Bạch phong thưởng.

Thầy ban ơn trọn cả các con, dầu không có mặt tại đây cũng vậy. Thầy giở cơ lên, các con đều chun ngang qua cho Thầy ban Phép lành. Thầy cầu cho các con đặng ngoan đạo như THƠ vậy, sửa mình cho nên chí Thánh, vì Đạo năm nay sẽ rõ thấu hoàn cầu, môn đệ tăng thêm hằng hà sa số, phận sự các con lại càng nặng nề hơn nữa, nhưng các con nhớ biết thương Thầy, mà hễ thương Thầy thì ắt thương Đạo, mà hễ thương Đạo thì thương hết chúng sanh. Các con biết Thầy là trọng thì biết trọng Đạo, mà hễ trọng Đạo thì cũng phải trọng cả chúng sanh."

Qua bài Thánh ngôn nầy, chúng ta thấy gì?

Đức Chí Tôn tổng kết một năm khai Đạo, phong thưởng và khen ngợi những Chức sắc có công, ban Phép lành cho toàn cả môn đệ. Đây là ngày kỷ niệm đệ nhứt chu niên Khai Đạo.

Chúng ta thấy rõ năm Bính Dần chính là Năm Đạo thứ 1 của Đạo Cao Đài, tức của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Kết luận:

Kỷ nguyên của Đạo Cao Đài thực sự là ngày 1-1-Bính Dần. Ngày nầy tương ứng với ngày dương lịch là: 13-2-1926.

Với ngày kỷ nguyên nầy, việc tính năm trong Đạo Lịch của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ rất đơn giản: Mỗi năm âm lịch là một Năm Đạo.

Khi đến mùng 1 Tết âm lịch, Năm Đạo tăng thêm 1.

Năm Bính Dần, 1926, Đạo lịch 1 (Đệ nhứt niên)
Đinh Mão, 1927, Đạo lịch 2 (Đệ nhị niên)
Mậu Thìn, 1928, Đạo lịch 3 (Đệ tam niên)
. ... ...
Kỷ Mão, 1999, Đạo lịch 74 (Thất thập tứ niên)
Canh Thìn, 2000, Đạo lịch 75 (Thất thập ngũ niên)
Tân Tỵ, 2001, Đạo lịch 76 (Thất thập lục niên)
Nhâm Ngọ, 2002, Đạo lịch 77 (Thất thập thất niên)

Muốn tính Năm Đạo tương ứng với năm dương lịch, chúng ta lấy năm dương lịch, trừ số 1925.

Năm dương lịch - 1925 = Năm Đạo.

Thí dụ: Năm 1955 Khánh Thành Tòa Thánh Tây Ninh tương ứng với Năm Đạo thứ mấy?

Đáp: 1955 - 1925 = 30. Năm Đạo 30 (Đệ tam thập niên)