Lập đức

立德

A: The establishment of the virtue.

P: L"établissement de la vertu.

Lập: Tạo ra, dựng nên, đứng thẳng. Đức: kết quả của những việc làm từ thiện.

Lập đức là tạo lập công đức.

Kinh Tụng Cha Mẹ Ðã Qui Liễu:
Thong dong cõi thọ nương hồn,
Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa.

Câu kinh trên cho chúng ta biết rằng: một người dù nam hay nữ, nếu quyết chí tu hành, phế bỏ việc đời, hiến thân hành đạo, miệt mài lập đức bồi công thì nhứt định sẽ cứu được Cửu Huyền Thất Tổ và cứu được linh hồn của cha mẹ, thoát khỏi cảnh đọa đày và được siêu thăng lên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Có ba chứng minh sau đây của ba vị tiền bối:

- Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu.

- Đức Quyền Giáo Tông.

- Ngài Bảo Pháp.

1. Bài Thánh ngôn Đức Chí Tôn dạy Bà Hương Hiếu đi hành đạo, ngày 7-Giêng-Bính Dần (1926):

"Đức Chí Tôn dạy Bà Hương Hiếu đi hành đạo, phổ độ nhơn sanh. Bà Cư (Hương Hiếu) bạch với Thầy rằng:

- Má con mắc ở xa, làm sao con đi độ được?

Thầy: - Hiếu! Con biết một lòng tu niệm đạo đức của con đủ cứu Cửu Huyền Thất Tổ rồi, huống là mẹ con, để Thầy định đoạt, con đừng lo buồn." (Trích ĐS. I. 36)

2. Trong một đàn cơ, Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung hỏi Bát Nương:

- Thân phụ và thân mẫu của Qua có được siêu thăng không? Giờ đây ở đâu?

Bát Nương đáp:

- Em chỉ nói bằng thơ, nếu anh giảng trúng thì nói nữa, còn trật thì lui.

Đức Quyền Giáo Tông năn nỉ:

- Nếu Qua nói trật thì Em thương tình mà chỉ dẫn để cho Qua học thêm với.

Bát Nương nói:

- Bạch Y Quan nay sanh Cực Lạc,
- Bá phụ cùng bá mẫu đặng an.

Đức Quyền Giáo Tông nói:

- Như vậy là thân phụ và thân mẫu của Qua trước ở cõi Bạch Y Quan, nay đã sang ở yên nơi Cực Lạc Thế Giới?

- Đúng đó, ấy là nhờ công tu luyện của anh nên bá phụ và bá mẫu siêu thăng nơi Cực Lạc.

3. Thân mẫu của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu xin phép Đức Chí Tôn giáng cơ để tỏ cho Ngài Hậu biết, nhờ công quả của Ngài Hậu mà Bà được siêu thăng lên Đông Đại Bộ Châu. Phò loan: Bảo Pháp - Hiến Pháp.

Ngày 19-2-1929 (âl 10-1-Kỷ Tỵ).

Mẹ mừng con, Mẹ cám ơn con đó.

Con đâu rõ đặng, ngày nay Mẹ nhờ công con mà đặng thăng cấp. Nay Mẹ đặng vào Đông Đại Bộ Châu. Ấy cũng nhờ ơn của Chí Tôn rất thương mà cho Mẹ vào phẩm ấy. Mẹ chẳng biết lấy chi mà thông công cho hai con và các cháu, nên mới dụng huyền diệu mà Mẹ đã cầu xin Chí Tôn ban cho Mẹ đặng cho con cùng cháu hay rằng, Đức Chí Tôn đã giữ lời hứa cùng con. Nay Mẹ đến khuyên hai con khá lo sao cho tròn phận sự, ngày thêm vun đắp nền Đạo đặng báo đáp Ơn Trên đã hết lòng vì cả nhà ta. Nếu con có lòng ấy thì Mẹ rất vui lòng đó, con hiểu...

Mẹ rất vui thấy lòng con nên Mẹ mới xin phép Chí Tôn đến đây tỏ ít lời cho con hiểu. Vậy con khá an lòng mà lo Đạo, chớ nên vì việc nhỏ mà nao chí nghe!

Tôi chào nhị vị Thánh (nói với Nghĩa và bác vật Lang). Tôi chẳng biết lấy chi cám cảnh cho bằng dùng vài lời nhắc đây: Xin nhị vị khá hết lòng lo hiệp tác mà nâng cao địa vị mình càng ngày cho tột phẩm.

Tôi đây chẳng chi xứng phận mà cũng nhờ ơn Chí Tôn thương tưởng thay! Ấy cũng nhờ sức con mới đặng vậy, không thì biết sao mà kể xiết.

Ấy đó, công của nhị vị càng dày thì Chí Tôn càng yêu dấu. Xin khá để hết tâm chí mà hành phận sự. Ấy là lời tôi xin nhị vị khá để ý.

{Hỏi về việc Ông thân tôi. (Ngài Bảo Pháp hỏi.) }

- Mẹ không dám nói. Thôi Mẹ lui. (Trích trong tập Thánh ngôn chép tay của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu).

"Có học mới biết phương lập đức. Có học thì tâm mới hướng về đức. Đức có Đại Đức và Tiểu Đức.

Đại Đức như nước biển cả, tẩm thấm khắp cả muôn vật.

Tiểu Đức ví như nước trong ao, tẩm thấm có giới hạn. Tiểu Đức chỉ cảm hóa ít người; Đại Đức bao trùm cả thiên hạ.

Lập đức lấy bố thí làm phương tiện.

Bố thí gồm: Thí tài, Thí công, Thí ngôn, Thí pháp.

Thí tài là đem tiền của ra giúp khó trợ nghèo.

Thí công là đem sức lực làm những công việc giúp người

Thí ngôn là đem lời nói mà giúp ý kiến hay cho người để giải quyết những khó khăn của người.

Thí pháp là đem lẽ Đạo để cảm hóa giáo dục người trở nên lành. Những cách bố thí trên, chỉ có Thí pháp là có nhiều công đức hơn cả.

Giúp người đói, giúp người hết khổ hay thoát khỏi tai nạn, cũng chỉ qua một thuở mà thôi, duy chỉ có đem Pháp ra hóa độ người dữ ra hiền, người mê muội ra giác ngộ, lo tu hành để thoát vòng sinh tử luân hồi thì côngđức ấy đời đời chẳng mất.

Lập đức phải đứng trên quan điểm VÔ NGÃ, tức là quên mình mà lo cho người, chẳng cầu người trả, chẳng nghĩ đó là công do ta làm.

Muốn lập đức trên phương diện Thí pháp, cần phải có quyết tâm lớn trên đường tu học. Phải học cho thông, phải hiểu cho rành, quán thông từ Nhơn đạo đến Thiên đạo. Phải cầu bậc cao minh mà thọ giáo. Chớ nên tự mãn, mới học nhom nhem nửa câu mà tự cho rằng mình biết hết, rồi đem cái biết thô thiển đó truyền thụ cho người thì tai hại vô cùng, không lập đức được mà lại còn tổn đức.

Ngày nào học thông chánh lý, lòng thông suốt, trí hiểu rành, nói rành, chẳng còn gì trái với chơn ý của Thánh nhân, ấy là thể theo Thánh nhân mà nói lại lời của Thánh nhân.

Nếu là kẻ mê tín thì ta lấy Chánh tín mà độ họ; nếu là kẻ tư dục thì ta đem công lý giải bày; nếu là kẻ tham lam thì ta đem việc Thí tài mà giảng giải; nếu là kẻ sân hận thì ta đem pháp nhẫn nhục mà độ; nếu gặp kẻ chẳng may lạc vào Tả đạo Bàng môn thì ta đem Chánh đạo mà khai hóa; nếu là người si mê thì ta đem Chánh lý mà mở mang trí tuệ cho họ.

Giáo dục có nhiều phương pháp, phải tùy duyên mà hóa độ, tùy bệnh mà lập phương trị liệu, bệnh nào thuốc nấy.

Chữa bệnh về thân xác thì có lương y; chữa bệnh về Tâm thì chỉ có Thánh nhân. Thánh nhân chữa cả Tâm lẫn thân, thân tâm hiệp trị. Nếu thân chưa trị thì Tâm khó trị. Vì vậy nên thân Tâm phải hiệp trị, ấy cũng là Tánh Mạng Song Tu.

Khi lập đức thì phải lập từ đức nhỏ đến đức lớn.

Đức nhỏ là hóa độ người trong nhà. Đức lớn là cảm hóa nhiều người trong thiên hạ. Đức lớn là đức của bậc Thánh nhân, Đức nhỏ là đức của bậc Sĩ, bậc Hiền.

Đức lớn sáng soi khắp Trời Đất, chói lọi như ánh Thái dương, nên gọi là Minh Minh Đức. Có Minh Minh Đức mới xây dựng được một thế hệ tươi đẹp, mới đào tạo được giống dân mới gọi là Tân Dân. Tân Dân còn gọi là Thân Dân, là thương mọi người như thương mình hay như thương người thân của mình. Vua Nghiêu hằng nói với quần thần: "Các Khanh hãy thương yêu dân như thương yêu Trẫm, dân đói là Trẫm đói, dân rét là Trẫm rét."

Như vậy, đời sao không thạnh trị? Quần thần khi nghe lời nói của Đấng Minh quân như thế thì ai mà chẳng xúc động. Toàn thể quốc dân nghe được lời nói của vua như thế thì ai mà chẳng động lòng. Động lòng vì Đức cả, Nhân lớn, nên cả thảy đều lo tích Đức tu Nhân, mọi người đều no cơm ấm áo. Chẳng còn nghèo, chẳng còn đói, thì đâu còn cảnh trộm cướp, mà chỉ đua nhau làm Nhân, làm Nghĩa, nên nhà nhà không đóng cửa, ngoài đường không ai lượm của rơi, người người thảnh thơi mà an hưởng cảnh thanh bình trời Nghiêu đất Thuấn.

Trên Đức là Đạo. Nhưng chỉ vì đời mất Đạo nên mới đem Đức ra mà nói mà dạy người, nhưng rồi Đức cũng chẳng còn nên mới đem Nhân đem Nghĩa ra mà nói.

Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín gọi là Ngũ Thường, người người đều phải giữ vẹn năm đức ấy thì mới trọn được Nhơn phẩm. Nếu thiếu một thì Nhơn phẩm không tròn.

Nên Mạnh Tử có nói: "Ngũ giả khuyết nhất bất thành vi nhân." (5 cái mà thiếu 1 thì không thành đạo làm người).

Giữ tròn năm Đức ấy là người có phẩm hạnh cao tột.

Nhưng còn Ngũ luân nữa cũng không thể thiếu.

Ngũ thường, Ngũ luân, ấy là Nhơn đạo.

Ở phần Nhơn đạo, việc lập đức đương nhiên dễ hơn ở phần Thiên đạo. Khó ở Thiên đạo là việc Thí pháp. Ở Nhơn đạo cũng có Thí pháp, nhưng chỉ nói pháp của Nhơn đạo mà thôi.

Thực tế trong phương lập đức ở Nhơn đạo, thì Ngũ thường gồm đủ Tánh Mạng Song Tu. Nói là gồm đủ Ngũ thường, chớ đức Nhân bao gồm cả năm đức, nên chỉ cần tu Nhân là bao gồm đủ năm đức.

Nhân là lòng thương yêu. Nhờ lòng thương yêu ấy mà Thần Khí được sung mãn, sáng suốt. Bởi lẽ, hễ làm được một điều lành thì tăng thêm được một phần Dương khí, vì Dương là thiện, mà thiện cũng là Dương.

Trái lại, nếu bỏ Nhân thì rơi vào Ác hành. Làm một việc bất nhân tức là làm ác, mà làm ác thì giảm đi một phần Dương, tức nhiên tăng thêm một phần Âm, Âm là ác đó vậy.

Chừng nào loại bỏ hết được phần Âm. Chỉ còn lại phần Dương, gọi là Thuần Dương, thì đắc đạo vậy." (Theo Chơn Truyền Đạo Học)

Trong Đạo Cao Đài, muốn lập đức cho được trọn vẹn thì phải theo con đường Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng của Cơ Quan Phước Thiện.

Trong Con Đường thiêng liêng hằng sống, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giảng giải như sau:

"Lập vị mình theo Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng, tức là theo Hội Thánh Phước Thiện. Nơi đây, ngoài việc ăn chay, giữ gìn luật đạo, tùng theo chơn pháp của Đức Chí Tôn, còn phải dùng đức để lập vị mình.

Muốn lập đức, phải đi từ Minh Đức, Tân Dân, Thính Thiện, Hành Thiện, Giáo Thiện, Chí Thiện, v.v...

Lập đức là gì? là dùng sự thương yêu để cứu độ chúng sanh, mà Đức Chí Tôn đã có nó: "Sự thương yêu là chìa khóa mở cửa Bạch Ngọc Kinh" là vậy đó.

Các đẳng chơn hồn tái kiếp đang chơi vơi trong Tứ Khổ. Muốn thoát khổ, họ phải thọ khổ, có thọ khổ mới thắng khổ.

Người tu đi theo Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng là dạy người ta thọ khổ để thắng khổ. Muốn dạy người ta thọ khổ, trước hết mình phải thọ khổ đã. Muốn thọ khổ thì không gì hay bằng dùng đức thương yêu. Cho nên bậc thứ nhứt của Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng là Minh Đức đó vậy.

Có thương yêu mới thọ khổ được. Ta thương cha mẹ ta, ta mới chịu khổ mà bảo dưỡng cha mẹ lúc tuổi già, ta thương con ta, ta mới lo tảo lo tần nuôi nó khôn lớn, ta thương những người cô thế tật nguyền, ta mới tầm phương giúp đỡ họ, mà tầm phương giúp đỡ họ là ta thọ khổ đó vậy.

Thọ khổ rồi mới thắng khổ. Thọ khổ không phải một ngày một bữa, mà phải thọ đến nơi đến chốn, nghĩa là nuôi cha mẹ cho đến tuổi già, lo cho con từ bé cho tới lúc nó tự lo cho nó được. Hai điều đó còn dễ, đến lo cho thiên hạ hết khổ mới khó, vì khi lo cho người nầy thì lại đến người khác, và cứ như vậy, trọn kiếp sanh mới gọi là thắng khổ.

Có thắng khổ mới về được với Đức Chí Tôn bằng con đường Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng."