Nam Bình Phật Tổ (Nam Bình Vương Phật)
ID017185 - Tự Điển : Nam Bình Phật Tổ (Nam Bình Vương Phật) 🖶 Print this Tự Điển
dictionary : Cao Đài Tự Điển - Vần N
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Nam Bình Phật Tổ (Nam Bình Vương Phật)

南屏佛祖(南屏王佛)

Nam: Phương Nam, nước Việt Nam, người Việt Nam. Bình: che chở, ngăn che (bình phong). Phật Tổ: vị Phật lớn. Vương Phật: vị Phật làm vua.

Nam Bình Phật Tổ là vị Phật lớn che chở nước Việt Nam.

Nam Bình Vương Phật là vị Phật vua che chở nước Việt Nam.

Nơi Điện Thờ Phật Mẫu ở Trí Giác Cung, Địa Linh Động (khi xưa là Trường Qui Thiện), có thờ bức họa Nam Bình Phật Tổ, đặt tại vị trí ngó ngay vào bửu điện thờ Đức Phật Mẫu.

Đây là nơi duy nhứt thờ Nam Bình Phật Tổ. Báo Ân Từ, cũng như các Điện Thờ Phật Mẫu khác đều không có thờ Nam Bình Phật Tổ.

Nam Bình Vương Phật

Nhìn bức họa Nam Bình Phật Tổ trên bàn thờ, chúng ta thấy Ngài mặc áo tràng, tay rộng, màu nâu lợt pha vàng, tay mặt cầm quạt, chân mang thảo hài, có dáng dấp như một ông Tiên; Ngài lại cầm bình bát nơi tay trái, và có vành tai dài thòng xuống như tai Phật; Ngài có râu lún phún trên miệng và càm, lại đội mão giống như mão của ông quan nơi triều đình.

Do đó, chúng ta thấy nơi Ngài như có sự phối hợp của Tam giáo: Nho giáo, Tiên giáo và Phật giáo.

Phía trên bức họa là 4 chữ Nho lớn: 南屏佛祖 (Nam Bình Phật Tổ) viết theo hàng ngang. Bên cạnh đứng của bức họa có hai hàng chữ Nho thẳng đứng, chép ra như sau:

有濟於人有濟於物誰謂其顛
錯有我佛佛其有靈馨香拜乞
Hữu tế ư nhơn, hữu tế ư vật, thùy vị kỳ điên,
Thác hữu ngã Phật, Phật kỳ hữu linh, hinh hương bái khất.

Giải nghĩa:

Hữu tế ư nhơn: có cứu giúp người.

Hữu tế ư vật: có cứu giúp vật.

Thùy: ai. Vị: Bảo rằng. Kỳ: hư tự. Điên: khùng.

Thác hữu ngã Phật: lầm có ta là Phật. Thác: lầm.

Phật kỳ hữu linh: Phật ấy có linh thiêng. Hinh: mùi thơm bay xa. Hương: cây nhang. Bái: lạy. Khất: xin.

Hai câu chữ Nho trên không phải là hai câu liễn đối, nên trong bức họa viết hai hàng không bằng nhau, hàng ngoài có 16 chữ và hàng trong có 8 chữ, nghĩa là:

Có cứu giúp người, có cứu giúp vật, ai bảo ấy điên?
Lầm có ta là Phật, Phật ấy có linh, đốt nhang thơm vái lạy cầu xin.

Nguồn gốc bức họa Nam Bình Phật Tổ:

Chúng tôi có hỏi một vài vị lão thành của Trường Qui Thiện về nguồn gốc bức họa Nam Bình Phật Tổ thì quí vị ấy đều trả lời rằng: "Trong chuyến Đức Phạm Hộ Pháp Á du, sang Đài Loan, rồi qua Nhựt Bổn để rước xác tro của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để về nước, có người Tàu ở Đài Loan đem tặng Đức Phạm Hộ Pháp bức họa Nam Bình Phật Tổ nầy."

Chúng tôi liền kiểm tra lại bằng cách đọc trở lại rất kỹ tập "Nhựt Ký Á Du" do ông Sĩ Tải Bùi Quang Cao ghi lại, chúng tôi không thấy có chỗ nào nói về vụ người Đài Loan tặng bức họa Nam Bình Phật Tổ cho Đức Phạm Hộ Pháp. Rất may lúc đó, ông Bùi Quang Cao (bây giờ là Giám Đạo Cao) còn sống khỏe mạnh, nên chúng tôi trực tiếp đến hỏi ông Cao.

Trong chuyến Á du nầy, Đức Phạm Hộ Pháp đem ông Cao theo làm thơ ký, kiêm nhân viên nhiếp ảnh và quay phim, cho nên tất cả việc xảy ra, ông Cao đều hay biết để ghi nhựt ký. Ông Sĩ Tải Bùi Quang Cao xác nhận một cách quả quyết với chúng tôi hai ba lần rằng, nhứt định không có người Tàu nào đem tặng cho Đức Phạm Hộ Pháp bức họa Nam Bình Phật Tổ, bởi vì đây là sự kiện lớn tốt đẹp, đâu cần phải giấu giếm.

Mặt khác, chúng tôi lại dò hỏi về vấn đề thời gian: Đức Phạm Hộ Pháp trao cho Trường Qui Thiện bức họa Nam Bình Phật Tổ vào ngày tháng năm nào?

Chúng tôi được cho biết chắc chắn là Đức Phạm Hộ Pháp đem giao bức họa Nam Bình Phật Tổ cho Ban Giám Đốc Trường Qui Thiện vào năm Canh Dần (1950), không nhớ rõ ngày nào nhưng trước ngày làm Lễ Sinh Nhựt mừng Lục tuần Đức Phạm Hộ Pháp (ngày mùng 5 tháng 5 năm Canh Dần) và Đức Ngài dạy đặt tại vị trí như chúng ta thấy hiện nay.

So sánh về thời gian, chúng ta thấy, bức họa nầy đã có từ năm 1950, mà Đức Phạm Hộ Pháp Á du khởi hành vào ngày 1-8-Giáp Ngọ (dl 28-8-1954) và trở về ngày 16-9-Giáp Ngọ.

Kết luận: Bức họa Nam Bình Phật Tổ có trước ngày Đức Phạm Hộ Pháp đi Đài Loan tới hơn 4 năm.

Chúng tôi may mắn gặp ông Lãnh Nhạc Huỳnh Minh Mẫn, ông thuật lại cho chúng tôi nghe, vào khoảng năm 1950, Đức Phạm Hộ Pháp sai ông đi Sài Gòn, đến nhà Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng để lấy bức họa Nam Bình Phật Tổ đem về Tòa Thánh cho Đức Ngài. Khi đến nơi, gặp Ngài Tiếp Pháp, trình bày công việc, thì Ngài Tiếp Pháp mở tủ lấy ra hai bức họa, cuốn tròn lại, gói thật kỹ, giao cho ông đem về Đức Phạm Hộ Pháp. Sau đó, Đức Ngài đem xuống giao cho Trường Qui Thiện một tấm để thờ nơi Đền Thờ Đức Phật Mẫu, còn một tấm thì giao cho Đầu phòng Trần Thái Lang thờ nơi Hộ Pháp Tịnh Đường ở Địa Linh Động.

Ngoài ra, ông Lãnh Nhạc Huỳnh Minh Mẫn còn cho chúng tôi biết, ông Nhạc Sư Lê Ngọc Hội có làm tờ giải thích về Đức Nam Bình Phật Tổ, và bảo chúng tôi đi sưu tầm tờ giải thích nầy để biết rõ thêm.

Nhờ sự tiết lộ của ông Lãnh Nhạc Mẫn, chúng tôi liền tìm đến nhà người con trai của Ngài Tiếp Pháp là ông Trương Minh Tánh ở Sài Gòn, chúng tôi được ông Tánh cho biết, Ngài Tiếp Pháp cũng có một bức họa Nam Bình Phật Tổ, lộng kiếng treo nơi phòng khách, nhưng màu áo tràng là màu xanh chớ không phải màu nâu vàng lợt, thời gian quá lâu nên bức họa nầy bị mối ăn hư hết, rất uổng, và ông Tánh cũng cho biết, bức họa nầy hình như do ông Lỗ Bá Hiền đem lại tặng Ngài Tiếp Pháp.

Sau đó, chúng tôi lại đi sưu tầm bài giải thích của ông Nhạc Sư Lê Ngọc Hội về Nam Bình Phật Tổ, may mắn được Nhạc sĩ Lê Minh Dương, tín đồ Trường Qui Thiện, lấy ra cho mượn xem. Bài của Nhạc Sư Hội đề tựa là: "CẢM TƯỞNG vì sao có tiểu tượng của Nam Bình Phật Tổ thờ ở Đền Thờ Phật Mẫu, cũng như có mặt Ngài ở Trí Giác Cung."

Cuối bài, đề ngày là: "Tòa Thánh Tây Ninh, lập ngày 15-4-Quí Sửu (d 17-5-1973), Nhạc Sư Lê Ngọc Hội, Chưởng quản Bộ Nhạc Trung Ương, bút hiệu Tiêu Tràng."

Nội dung, Nhạc Sư Hội viết: Nam Bình Phật Tổ chính là Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma của Phật giáo, vị Tổ Sư đời thứ 28 của Phật giáo Ấn Độ, đem y bát sang Trung hoa để mở mang Phật giáo ở Trung hoa vào thời vua Lương Võ Đế.

Chúng tôi nhận thấy lời giải thích nầy của Nhạc Sư Hội không phù hạp với lời giải thích của Đức Phạm Hộ Pháp, nên không chép vào đây cho thêm dong dài. (Muốn biết tiểu sử của Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma, xin quí vị xem chữ: Nhứt Tổ, vần Nh).

Ý nghĩa sự thờ Nam Bình Phật Tổ (Nam Bình Vương Phật): (do Đức Phạm Hộ Pháp giải thích)

* Vào năm Nhâm Thìn (1952), anh em thợ hồ khi xây dựng Báo Ân Từ, có bạch hỏi Đức Hộ Pháp về việc thờ Đức Nam Bình Phật Tổ.

Đức Hộ Pháp dạy như sau: - Khuôn bao hình chữ nhựt ở tấm vách ngoài ngó vào Điện Thờ Phật Mẫu, để trống, sau nầy sẽ đắp hình Nam Bình Vương Phật, cũng như Đền Thánh có hình Hộ Pháp ngự trên ngai trông vào Bát Quái Đài đó vậy.

Anh em thợ hồ bạch: - Xin Thầy cho biết hình Nam Bình Phật Tổ thế nào để sau nầy mấy con đắp.

Đức Hộ Pháp nói: - Chừng nào có Điện Thờ Phật Mẫu (ĐTPM) thì Thầy sẽ cho biết, không có gì lạ. Đền Thánh là Bạch Ngọc Kinh tại thế có hình Hộ Pháp mặc Thiên phục khôi giáp, thì nơi ĐTPM, lẽ dĩ nhiên hình của Ngài không mặc Thiên phục, chỉ mặc áo cà sa nhà Phật mà thôi. Nơi Trí Giác Cung, Thầy có dạy thờ Nam Bình Vương Phật trong ĐTPM rồi.

* Đàn cơ tại Cung Đạo Tòa Thánh đêm 26-6-Nhâm Tý (dl 4-8-1972) lúc 20 giờ 15, Phò loan: Hiến Pháp - Khai Đạo.

Đức Phạm Hộ Pháp giáng cơ.

Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa bạch hỏi Đức Hộ Pháp: "Nơi Báo Ân Từ Tòa Thánh thờ Phật Mẫu, phía ngoài đối diện với bửu điện thì không có tượng chi hết, chỉ ở Địa Linh Động có tượng thờ vị Nam Bình Phật Tổ. Xin Đức Ngài chỉ giáo."

Đức Phạm Hộ Pháp giáng cơ đáp: "Nên đặt vào một nghi tiết riêng biệt, vì Đấng ấy có công mở Đạo tại Việt Nam."

Ngài Bảo Đạo bạch hỏi tiếp: "Nơi các Điện Thờ Phật Mẫu sau nầy cũng phải thờ hay không?"

Đức Phạm Hộ Pháp đáp: "Dùng riêng một chỗ cho Người mà thôi."

Qua lời giải thích của Đức Phạm Hộ Pháp: một là với anh em thợ hồ vào năm 1952 lúc Đức Ngài còn sinh tiền, hai là với Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa vào năm 1972 khi Đức Ngài đã qui Thiên giáng cơ giải đáp, chúng ta thấy có hai điểm quan trọng để thờ Nam Bình Phật Tổ:

1. Nơi Tòa Thánh thờ Đức Chí Tôn, có Hộ Pháp mặc Thiên phục với khôi giáp (vì đây triều nghi của Đức Chí Tôn) đứng ở Hiệp Thiên Đài nhìn thẳng vào Bát Quái Đài, thì nơi Điện Thờ Phật Mẫu (ĐTPM) cũng tương tự như vậy, cũng phải có tượng Nam Bình Vương Phật, nhưng không được mặc khôi giáp, chỉ mặc áo cà sa (vì Đức Phật Mẫu không có triều nghi, chỉ có tình Mẹ con), đứng đối diện với bửu điện thờ Phật Mẫu.

2. Thờ Nam Bình Phật Tổ vì Đấng ấy có công mở Đạo tại nước Việt Nam.

Đức Hộ Pháp không nói đích danh Nam Bình Vương Phật là Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, nhưng tất cả chúng ta đều hiểu Nam Bình Vương Phật chính là Đức Phạm Hộ Pháp.