Qui Thiện - Trường Qui Thiện
ID018306 - Tự Điển : Qui Thiện - Trường Qui Thiện 🖶 Print this Tự Điển
dictionary : Cao Đài Tự Điển - Vần Q
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Tòa Thánh ngày 16 tháng giêng năm Kỷ Sửu.

(13 Février 1949)

HỘ PHÁP (ấn ký)

IX. ÔNG ĐINH CÔNG TRỨ BỊ ÁM SÁT CHẾT.

Vào đêm 25-5-Kỷ Sửu (dl 21-6-1949), một vị công quả của Trường QT là ông Lê Minh Dương thấy bóng ông Đốc Trường xách cái đèn đi về phía nhà Minh Thiện, bỗng nghe có 3 tiếng súng nổ về phía đó, ông Dương liền chạy đến thì thấy ông Đốc Trường Đinh Công Trứ nằm chết tại cửa hông mé phải của nhà Minh Thiện và trên mặt có vết máu. Ông Dương liền la lên cho mọi người trong Trường biết, chạy tới, liền khiên xác ông Đốc Trường để nằm trên giường. Lúc đó xem đồng hồ là 10 giờ 35 phút tối. Lau vết máu trên mặt thì thấy có 3 vết đạn bắn trúng vào mặt trổ ra sau, làm ông chết liền tại chỗ.

Sáng hôm sau, Ban Tẫn liệm trung ương xuống lo tẫn liệm xác ông Đốc Trường, rồi di quan về Báo Ân Từ trong Nội Ô Tòa Thánh làm lễ tế điện, cầu siêu, chèo thuyền và sau đó đưa linh cữu an táng nơi đất Cực Lạc mới.

Đám tang cử hành rất trọng thể, trang nghiêm và cảm động. Rất đông Chức sắc, tín đồ, và học sinh đưa tiễn đến đất Cực Lạc.

Cái chết thình lình của ông Đốc Trường Đinh Công Trứ làm cho các tín đồ của Trường QT rất hoang mang và rất oán giận những kẻ tổ chức ám sát ông, và cũng làm cho các Chức sắc cảm thấy xao xuyến bất an.

Đức Phạm Hộ Pháp liền cử ông Chí Thiện Lê Văn Trung (sau nầy lên phẩm Hiền Nhơn) xuống Trường Qui Thiện trấn an nhơn tâm và sắp đặt công việc nơi đó.

Ngày 2-6-Kỷ Sửu (dl 27-6-1949), tức là 7 ngày sau khi ông Đinh Công Trứ chết, vào lúc 2 giờ trưa, có đám mưa giông lớn, sấm sét đánh cây Bạch kỳ đứt dây rớt xuống.

Bàn Cai Quản Trường QT báo cáo lên Đức Hộ Pháp, được Đức Ngài phê:

"Qui Thiện, không phải toàn đạo, phải đủ trí phân biệt, đừng mê tín mà ra loạn tâm.

Bần đạo định cho Chí Thiện Trung đến thay thế cho Trứ đặng chỉnh đốn Qui Thiện lại cho thuận Thiên điều. Cả thảy phải van vái và phải tùng mạng lịnh Chí Thiện Trung.

Cây bạch kỳ nó là cây cờ tang của thuyết Nhan Hồi, bất đắc kỳ tử của Nhan Hồi thế nào thì Trứ thế ấy, thấy chưa."

X. RANH GIỚI RUỘNG ĐẤT CỦA TRƯỜNG QUI THIỆN:

Phiên họp ngày 12-11-Canh Dần (dl 20-12-1950) gồm Đại diện các cơ quan Hành Chánh, Phước Thiện, Bàn Cai Quản QT, Cơ Thánh Vệ và quân đội, để ấn định ranh giới ruộng đất dành cho các công quả của Trường Qui Thiện canh tác.

Ranh giới ấy được các cơ quan trong phiên họp thống nhứt quyết định như sau:

- Từ con lộ Kiểm đi ra Bến Kéo trở xuống Qui Thiện, bề dài con lộ nầy tại lộ Khải Hòa đến ngã tư Trảng Nổ, thuộc lô rừng số 48, đo đặng 2600 mét.

- Lộ Kiểm dưới đi ra Giang Tân, tại lộ Khải Hòa đến ranh mới trong lô rừng 48 và 56, đo đặng 2600 mét.

- Cặp theo đường lộ Trung Hòa, từ lộ Kiểm đi Bến Kéo, đến cầu suối Qui Thiện qua Cây Chò, đo đặng 2900 mét.

- Trước Đền Thờ Phật Mẫu qua Suối Trảng Thỏ lớn, Trảng Thỏ nhỏ, tới đồn số 14 của Cơ Thánh Vệ đóng.

XI. CHUYỂN TRƯỜNG QUI THIỆN THÀNH ĐỊA LINH ĐỘNG - TRÍ GIÁC CUNG.

- Ngày 12-6-Tân Mão (dl 15-7-1951), Hội Thánh PT rút ông Chí Thiện Lê Văn Trung về Văn phòng Hội Thánh PT.

- Ngày 14-10-Tân Mão (dl 12-11-1951), Hội Thánh PT bổ 3 vị Giáo Thiện lãnh nhiệm vụ cai quản ở Trường QT gồm:

· Giáo Thiện Trần văn Ninh, coi Lễ Vụ.

· Giáo Thiện Trần Văn Liễu, coi Công Vụ.

· Giáo Thiện Lại Văn Phu, coi Hộ Vụ.

- Ngày 14-10-Nhâm Thìn (dl 30-11-1952), Đức Hộ Pháp ra khẩu lịnh cho ông Đạo Nhơn Dương Văn Khuê xuống cai quản Trường Qui Thiện.

"Do Thánh ý của Đức Hộ Pháp dạy ông Đạo Nhơn Dương Văn Khuê triệu tập Đại Hội toàn thể tín đồ Trường QT tại Hậu Điện Báo Ân Đường ngày 11-11-Giáp Ngọ (dl 5-12-1954). Bảng Phúc trình và Vi Bằng Hội Nhóm được dâng lên Đức Hộ Pháp. Đức Ngài điều chỉnh danh từ và thành phần Ban Trị Sự và các cơ sở (có bút tích sửa chữa).

Ông Tổng Quản và Ban Trị Sự Địa Linh Động vâng lịnh thật hành kể từ ngày 5-12-Giáp Ngọ (dl 29-12-1954) do Huấn Lịnh số 285/VP-HP." (Trích trong Tài Liệu để Tu Học của Trường QT, in năm Quí Sửu - 1973, trang 15)

Như vậy, chúng ta thấy rằng Đức Hộ Pháp đã chánh thức chuyển đổi "Trường Qui Thiện" thành một cơ sở Tịnh Thất là "Địa Linh Động - Trí Giác Cung" vào ngày 5-12-Giáp Ngọ (dl 29-12-1954) do Huấn Lịnh số 285/VP-HP.

Phận sự của Trường Qui Thiện đến đây chấm dứt.

Vị Tổng Quản Ban Trị Sự đầu tiên của Địa Linh Động Trí Giác Cung là ông Đạo Nhơn Dương Văn Khuê. (Yêu cầu xem tiếp: Trí Giác Cung, vần Tr)

TÓM TẮT về TRƯỜNG QUI THIỆN:

Trong thời gian Đức Phạm Hộ Pháp bị đồ lưu hải ngoại, ông Giáo Thiện Đinh Công Trứ qui tụ các thệ hữu Minh Thiện Đàn ở Phú Mỹ lên Tây Ninh mua đất ở Bàu Sen xã Trường Hòa thành lập cơ sở tu hành, gọi là Trường Qui Thiện.

Ngày khởi lập Trường Qui Thiện là ngày khởi công cất Qui Thiện Đường, là ngày 26-9-Quí Dậu (dl 24-10-1943).

Sau đó cất thêm các cơ sở phước thiện như: Nhà Minh Thiện, Khách Thiện đường, Học đường, Y tế, Bảo Sanh, Dưỡng đường, cơ sở Nông Tang, Công nghệ, Thương mãi.

Đặc biệt ông Trứ cất trong Trường QT một Đền Thờ Phật Mẫu, thờ Đức Phật Mẫu, Cửu vị Tiên Nương và Bạch Vân Động chư Thánh. Đền thờ nầy tuy còn bằng cây lợp lá, nhưng đây là Đền Thờ Phật Mẫu đầu tiên của Đạo Cao Đài.

Đức Hộ Pháp cho phép làm lễ Khánh Thành Đền Thờ Phật Mẫu tại Trường Qui Thiện vào ngày 16-7-Mậu Tý (1948).

Một tháng sau, Đức Hộ Pháp cho phép Trường QT tổ chức cúng lễ Hội Yến DTC tại Đền Thờ Phật Mẫu nầy lần đầu tiên vào đêm 14-8-Mậu Tý, sau khi cúng xong Đại lễ Đức Phật Mẫu, và lệ cúng Hội Yến DTC nầy tại Đền Thờ Phật Mẫu Trường QT được duy trì hằng năm từ năm 1948 đến nay.

Ông Đốc Trường QT Đinh Công Trứ bị tử nạn ngày 25-5-Kỷ Sửu (dl 21-6-1949).

Sau đó, Trường Qui Thiện được Đức Hộ Pháp ban Huấn Lịnh chuyển đổi thành Địa Linh Động - Trí Giác Cung vào ngày 5-12-Giáp Ngọ (dl 29-12-1954).

XII. TIỂU SỬ ÔNG ĐINH CÔNG TRỨ (1903-1949)

Ông Đinh Công Trứ sanh năm Quí Mão (1903) tại làng Phú Mỹ, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho.

Ngày rằm Trung nguơn 17-7-Đinh Mão (dl 17-6-1927), ông Trứ nhập môn vào Đạo Cao Đài. Giấy nhập môn còn lưu lại cấp ngày 11-11-Ất Hợi (dl 6-12-1935) do Giáo Sư Thượng Minh Thanh, chủ Thánh Thất Khổ Hiền Trang ký tên.

Ngày 14-10-Đinh Mão (dl 8-11-1927), ông Trứ chấp cơ tại tư gia của ông ở làng Phú Mỹ, được Đức Lý Giáo Tông giáng dạy lập Minh Thiện Đàn tại nhà ông.

Sau đó, ông Đinh Công Trứ và ông Lê Văn Trung (nhà cũng ở gần đó) được Đức Lý Giáo Tông sử dụng làm cặp phò loan chánh thức tiếp nhận các Thánh giáo của các Đấng thiêng liêng tại Minh Thiện Đàn. (Xem chi tiết: Minh Thiện Đàn, vần M)

Ngày 28-2-Kỷ Tỵ (dl 7-4-1929), ông Đinh Công Trứ được Đức Phạm Hộ Pháp chấm thọ Đào Viên Pháp tại Thánh Thất Khổ Hiền Trang, Phú Mỹ, cùng một lượt với 23 vị Đạo hữu khác của Minh Thiện Đàn.

Ngày 13-11-1931 (âl 4-10-Tân Mùi), Ông Trứ và ông Lê Văn Trung được Đức Hộ Pháp và Đức Quyền Giáo Tông chứng giấy Thông Hành đi hành đạo nơi các tỉnh: Mỹ Tho, Bạc Liêu, Rạch Giá, Long Xuyên và Sóc Trăng.

 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

GIẤY THÔNG HÀNH CHO ĐI LO VIỆC ĐẠO

(Feuille de route)

Số: 12

Đạo hữu: ĐINH CÔNG TRỨ làm chức Tín đồ.

Phải đến tại làng Khổ Hiền Trang, Phú Mỹ tỉnh Mỹ Tho mà công quả xem xét cách hành đạo tại: Mỹ Tho, Bạc Liêu, Rạch Giá, Long Xuyên, Sóc Trăng.

Mỗi khi đến làng nào thì Chánh hay Phó Trị Sự và Thông Sự sở tại phải ký tên giấy nầy chứng ngày đến nơi và ngày ra đi về hay là đi qua nơi khác.

Tòa Thánh, le 13 Novembre 1931.
QUYỀN GIÁO TÔNG

(ấn ký)

Thượng Trung Nhựt

HỘ PHÁP

(ấn ký)

Phạm Công Tắc

Chứng kiến hồi đi:

Phú Mỹ, le 10-10-Tân Mùi (1931)

(ký tên đóng dấu)

Thượng Minh Thanh

 

Năm 1936 (Bính Tý), ông Trứ đắc phong Lễ Sanh Giáo Thiện, được Đức Hộ Pháp bổ đi làm Đầu Họ Phước Thiện tỉnh Long Xuyên.

Năm 1938 (Mậu Dần), ông được đổi về làm Đầu Họ PT tỉnh Tây Ninh.

Năm 1939 (Kỷ Mão), ông lãnh lịnh tạm quyền Thủ Bổn Phạm Môn.

Năm 1940 (Canh Thìn), ông lãnh phận sự coi Khách Thiện Đường tại Tòa Thánh.

Ngày 3-1-Quí Mùi (dl 7-2-1943), ông Trứ cùng với hai vị Lễ Sanh Trừu và Giải bị quân đội Nhựt Bổn bắt đem về Sài Gòn tra khảo vì có người tố cáo ba ông chống Nhựt.

Ngày 12-6-Quí Mùi (dl 13-7-1943), Nhựt Bổn thả ba ông ra. Thời gian ba ông bị Nhựt giam cầm là 5 tháng 10 ngày.

Ngày 26-9-Quí Mùi (dl 24-10-1943) ông Đinh Công Trứ qui tụ một số thệ hữu trong Minh Thiện Đàn lên Tây Ninh mua đất ở Bàu Sen xã Trường Hòa, khởi lập Trường QT để làm cơ sở phước thiện và tu hành. Ông Trứ trở thành Chủ Trường QT.

Ngày 19-2-Bính Tuất (dl 22-3-1946), giữa lúc Việt Minh kháng chiến chống Pháp, ông cùng với 8 thệ hữu dùng thuyền đi qui tụ các bạn đạo về Trường Qui Thiện dưới ngọn Bạch Kỳ Nhan Uyên, ông và các bạn ông bị quân đội Pháp bắt vì nghi ông theo Việt Minh, định đem xử bắn, nhưng nhờ hồng phước của Đức Chí Tôn khiến có người đến cứu nên thoát chết.

Ông trở về Trường QT lo xây dựng thêm cơ sở, và đặc biệt tạo được một Đền Thờ Phật Mẫu. Đây là Đền Thờ Phật Mẫu đầu tiên của Đạo Cao Đài, được Khánh Thành ngày 16-7-Mậu Tý (dl 20-8-1948) và sau đó Đức Hộ Pháp cho phép Đền Thờ nầy tổ chức cúng Lễ HộiYến DTC vào đêm 14-8-Mậu Tý.

Đêm 25-5-Kỷ Sửu (dl 21-6-1949), lúc 10 giờ 35 tối, ông Đốc Trường Đinh Công Trứ bị ám sát chết, ông hưởng 47 tuổi.

Khi còn ở Minh Thiện Đàn Phú Mỹ, Đức Lý Giáo Tông ban Đạo hiệu cho ông Trứ là: Hoằng Nhựt Tăng Đạo Sĩ.

Khi ông Trứ qui vị, Đức Hộ Pháp ban tặng cho ông là: Hoằng Thông Tăng Đạo Sĩ.

BÀI GIÁNG CƠ của ÔNG ĐINH CÔNG TRỨ:

Phò loan:

Luật Sự Nhung và Hưởng.

Hầu bút:

Luật Sự Khỏe.

Đàn cơ tại Qui Thiện Đường đêm 26-10-Canh Dần

(dl 5-12-1950), lúc 20 giờ 45.

ĐINH CÔNG TRỨ

Con cúi đầu chào mẫu thân.

Xin chào Em Đào và các bạn nam nữ.

Xin nhờ Em bạch giùm với Sư Phụ, Anh xin kính lời bái tạ ơn Người đã cho phép Anh về giáng cơ.

Thưa mẫu thân, con rất đau lòng cảnh măng tàn mà tre còn tươi tốt, nhưng biết sao, thiêng liêng đã định, vậy cũng đừng trách kẻ vô lương. Sự sanh ly tử biệt không ai thoát khỏi, chỉ khác nhau ở chỗ tử bịnh hay tử nạn mà thôi. Xin thân mẫu chớ vì con mà hao tổn tinh thần.

Em Đào! Em ráng phụng dưỡng mẹ già, cô cùng 3 con thay thế anh. Phải, gánh nặng anh để lại cho Em, anh rất khổ, nhưng cũng đành ngậm tủi mà thôi. Còn Em có hỏi điềm mộng, phải, chính anh đó Em à! Trong thời gian anh vắng bóng, anh vẫn lai vãng cùng thân mẫu, Em, mấy con cùng các bạn.

Chị hai Hậu, chính tôi đó chị ạ.

Em Đào, Em hãy nung chí, đừng vì chút khổ sầu mà phai lảng đó nghe Em. Luôn luôn anh giúp đỡ Em từng bước. Ráng dạy dỗ mấy con cho chúng nên người. Để anh họa mấy bài thi:

HỌA:

Bài thứ 1

Bước Đạo khuyên em phải ráng dò,

Đừng vì bận bịu để buồn xo.

Sử kinh nối chí khươi đèn huệ,

Đạo đức trông gương nhúm lửa lò.

Nợ thế phủi tay chi có sợ,

Bụi trần dính áo khá nên lo.

Dẫn dìu con dại, Em nung chí,

Hiền mẫu từ đây cố gắng mò.

Bài thứ 2

Gái hạnh tiết trinh để đứng đầu,

Đêm đông đâu kể mảnh hàn bâu.

Lửa hương thay trọn khuây niềm nhớ,

Tình nghĩa gắng sâu bỏ nỗi sầu.

Thương bạn tưởng bầy lòng nhắc nhở,

Theo Thầy vì Đạo trí không đâu.

Thế tình ơi hỡi lo chi mệt,

Hãy để tâm trung đến đạo mầu.

Bài thứ 3

Thâu gồm nhơn loại vẫn là đây,

Biến dữ nên lành cũng chốn nầy.

Khuyên chớ ưu sầu xa trí cảnh,

Xin đừng bận bịu tưởng vân đài.

Thơm tho khí tiết lên chiều gió,

Rỡ rỡ danh hiền đến bóng mây.

Hãy ráng quên đời khuây nỗi nhớ,

Đôi lời ly biệt tả nên đây.

Em coi lại trúng vần chăng?

Đào nói: Dạ trúng.

Khóc! . . . Khanh, Lộc, Thọ, ba con ôi! Tình máu thịt phải phân chia! Ba con lại đây cha hôn. (Đưa cần cơ lại đụng đầu hai đứa con). Còn Thọ đâu? Đào đáp: Dạ nó ngủ.

Anh gởi hôn nó, Em trao lại giùm.

Để cha họa lại Bài thi của ba con:

HỌA:

Đau trẻ nay đà cách biệt cha,

Để chân cảnh trí, lệ chan hòa.

Ngập ngừng muốn gọi không nên giọng,

Vận kiếp âu đành phải thở ra.

Khóc . . . Em muốn xin tên cho Em, ba con, cùng Bảy, Bạch, chị Ca. Được, tên đây là danh hiệu thôi, chớ không phải là đạo hiệu:

Em là ANH ĐÀO, con Khanh là THỤY KHANH, con Lộc là THỤY ĐỨC, con Thọ là THỤY HƯƠNG, Bảy là MỘC LAN, Bạch là THÙY NHÂN, chị Ca là THANH TÂM.

Cháu Xinh, muốn xin thi về vận mạng, chú không thể cho.

Bây giờ, xin các bạn nam nữ yên lặng, tôi xin có đôi lời cùng quí bạn:

Quí Bạn cũng vẫn biết sự hành thiện là căn bổn để đưa chúng sanh trở về cùng Thầy và Đức Mẹ. Sự đau khổ của đời do đâu mà hàn gắn, cũng chỉ do nơi lòng từ thiện của các bạn mà nên. Đời khổ não vì nạn chiến tranh, chỉ vì miếng đỉnh chung mà đành quên xương máu, còn chúng ta đây là những kẻ vì đời mà hy sinh tâm chí, cho đến miếng ăn thức mặc cũng bỏ một bên. Có vậy mới mong kêu gọi nhơn sanh tùng lương cải ác. Thân của chúng ta đây là thân của con vật để sai khiến, bởi Đức Chí Tôn và Phật Mẫu càng đổ lụy bao nhiêu thì thân chúng ta lại càng phải quên nhọc nhằn bấy nhiêu. Có vậy mới mong trả trọn hiếu cùng Đại Từ Phụ, cùng Đại Từ Mẫu đặng.

Chúng ta đã lãnh trách nhiệm bồi bổ đời sống của nhơn sanh thì chúng ta phải nhớ công quả là gốc. Đây là Trường Qui Thiện tức là nơi để qui tụ các vị thiện lương.

Vậy thì chúng ta nơi đây phải tỏ rõ sự thiện lương trước nhứt. Các bạn nên nhớ rằng có công mới có đức, có đức mới đắc vị. Muốn cho đức được bền, các bạn khá nên trau giồi tinh thần cho thanh cao. Phải luôn luôn nhớ rằng mình đây là kẻ tôi đòi để cho nhơn sanh ứng dụng, chớ vì chút hao mòn về thể phách mà nỡ quên đường đi trong sáng của chúng ta.

Các bạn hãy đặt trọn đức tin nơi Sư phụ, thì ngày vẻ vang cũng chẳng ở đâu xa.

Xin nhắn lời cùng bạn Trung rằng, bạn hãy khá lưu tâm mà dìu dắt các bạn cho ra thiệt tướng. Còn có những bạn đã phải chí hy sinh, đó cũng do mạng lý, vì nơi đây là Qui Thiện, nếu không thiện ắt chẳng qui, các bạn ráng nhớ.

Tôi chỉ có bấy nhiêu lời nhắn nhủ cùng quí bạn nam nữ. Xin nhớ quí bạn chuyển lời tôi kính bái Sư phụ, Sư bá, Sư cô.

Tôi xin kiếu. THĂNG.

HTÐ: Hiệp Thiên Ðài.

CTÐ: Cửu Trùng Ðài.

CQPT: Cơ Quan Phước Thiện.