Tam Tạng Kinh

三藏經

A: Tripitaka, The three great books of buddhism.

P: Tripitaka, Les trois grands recueils bouddhiques.

Tam: Ba, số 3, thứ ba. Tạng: chứa. Kinh: kinh sách.

Tam Tạng Kinh là ba bộ kinh quan trọng nhứt của Phật giáo, chép lại tất cả lời thuyết pháp của Đức Phật Thích Ca trong suốt 45 năm hoằng pháp của Ngài, tạo thành một nền giáo lý và triết lý rất cao siêu của Phật giáo.

Tam Tạng Kinh gồm ba bộ:

· Kinh Tạng,
· Luật Tạng,
· Luận Tạng.

Tam Tạng Kinh, tiếng Phạn: Tripitaka là 3 cái giỏ:

· Kinh Tạng: giỏ đựng Kinh (Sutra Pitaka),
· Luật Tạng: giỏ đựng Luật (Vinaya Pitaka),
· Luận Tạng: giỏ đựng Luận (Abhidharma Pitaka).

Ngay khi Đức Phật Thích Ca còn sanh thời, Tam Tạng Kinh chưa được chép ra. Sau khi Đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn được 3 tháng, vào năm thứ 8 triều vua A-Xà-Thế, Đệ nhứt Tổ Sư Ma Ha Ca Diếp triệu tập 500 vị đại đệ tử của Đức Phật đã đắc quả A-La-Hán, họp đại hội kết tập kinh điển tại thành Vương Xá, để ghi lại những Phật ngôn quí báu.

- Ngài A-Nan đọc lại những lời khuyên dạy của Đức Phật, chép lại thành Kinh Tạng.

- Ngài Ưu-Pa-Ly nhắc lại những giới luật mà Đức Phật đã truyền dạy, chép lại thành Luật Tạng.

- Ngài Ma-Ha Ca-Diếp trả lời các câu hỏi phần Vi Diệu Pháp, giáo lý cùng tột, sắp xếp chép lại thành Luận Tạng.

Đó là lần kết tập kinh điển đầu tiên, tập trung toàn thể giáo lý của Phật giáo, sắp đặt chép lại thành Tam Tạng Kinh.

Kinh được chép bằng tiếng Phạn, trên lá bối (lá buông).

Vì có những khuynh hướng làm sai lạc giáo lý của Phật, nên 100 năm sau, 700 vị Thánh tăng lập Đại hội nhắc lại và xác định Phật ngôn. Đó là lần kết tập kinh điển lần thứ nhì.

Rồi 136 năm tiếp theo, đời vua A-Dục, có 1000 vị Thánh tăng họp Đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba.

Vào năm 83 trước Tây lịch, tại nước Tích Lan phía Nam Ấn Độ, dưới triều vua Vatta Gamani Abhaya, các Thánh tăng lại họp Đại hội kết tập kinh điển lần thứ tư tại Aluvihara, một ấp nhỏ cách Kandy lối 30 cây số. Tại đây lần đầu tiên Tam Tạng Kinh được chép bằng tiếng Pali trên lá bối.

I. Kinh Tạng (Sutra Pitaka):

Kinh Tạng gồm những bài pháp có tánh cách khuyên dạy mà Đức Phật Thích Ca giảng cho bực xuất gia và hàng cư sĩ, trong nhiều cơ hội khác nhau, trong đó có một vài bài giảng của các đại đệ tử của Phật được Đức Phật chấp nhận như: Xá Lợi Phất, Mục Kiều Liên, A-Nan,... Phần lớn các bài pháp nầy nhắm vào lợi ích của các vị Tỳ Kheo và đề cập đến đời sống cao thượng của bực xuất gia.

Kinh Tạng gồm có 5 bộ:

1. Trường A-Hàm, chép lại những bài pháp dài.
2. Trung A-Hàm, chép lại những bài pháp dài bực trung.
3. Tạp A-Hàm, chép lại những câu kinh tương tự nhau.
4. Tăng Nhứt A-Hàm, chép các bài pháp sắp xếp theo số.
5. Tiểu A-Hàm, chép lại những câu kệ vắn tắt.

II. Luật Tạng (Vinaya Pitaka):

Luật Tạng được xem là cái neo vững chắc bảo tồn con thuyền Giáo Hội trong cơn phong ba bão táp của lịch sử.

Phần lớn Luật Tạng đề cập đến giới luật và nghi lễ trong đời sống xuất gia của các Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni.

III. Luận Tạng (Abhidharma Pitaka):

Luận Tạng thâm diệu và quan trọng nhứt trong toàn thể giáo pháp của Đức Phật, vì đây là phần triết lý cao siêu, là vi diệu pháp, là tinh hoa của Phật giáo.

Muốn thông hiểu giáo lý của Phật giáo, phải học Luận Tạng, vì trong đó là giáo lý cùng tột của Phật.

Luận Tạng gồm 7 bộ:

1. Phân loại giáo pháp.
2. Những phân hạng.
3. Bài pháp và các nguyên tố.
4. Quyển sách về những cá tính.
5. Những điểm tranh luận.
6. Quyển sách về những cặp đôi.
7. Quyển sách đề cập đến Nhân Quả tương quan.