Tánh mạng (Tính mệnh)
ID018798 - Tự Điển : Tánh mạng (Tính mệnh) 🖶 Print this Tự Điển
dictionary : Cao Đài Tự Điển - Vần T
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Tánh mạng (Tính mệnh)

性命

A: The character and the life.

P: Le caractère et la vie.

Tánh: - Cái nguyên lý sở dĩ sanh ra nhơn loại. - Tánh hạnh, bản chất. Mạng: Mệnh: cái mạng sống.

Tánh mạng là cái tánh và cái mạng sống của con người.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Rồi rốt cuộc lại thì một trường náo nhiệt phải làm cho tánh mạng của chúng nó vì đó mà phải bỏ liều.

Tánh là biểu thị của Tâm. Tâm bên trong, biểu thị ra ngoài là Tánh. Tâm là chơn linh thì Tánh là chơn thần. Nho giáo nói rằng: Tánh tự Tâm sanh (Tánh do từ cái Tâm sanh ra)

Do đó, người xưa đồng hóa Tâm và Tánh vì chưa biết được chơn thần là thể trung gian giữa thể xác và linh hồn.

Mạng sống của con người do nơi cái thân, biểu thị bằng hơi thở. Hơi thở dứt thì Mạng sống dứt, cái thân chết, nhưng cái Tánh không mất, vì Tánh là chơn thần, chơn thần cùng chơn linh xuất ra khỏi thể xác, trở về cõi thiêng liêng.

Thân con người có Tinh và Khí, nên Mạng ấy cũng là Tinh và Khí.

"Người mới học Đạo, trước hết phải biết hai chữ Tánh Mạng. - Tánh có nguồn là Tâm địa, - Mạng có gốc là chơn tức (hơi thở). Gốc của Mạng phải vững bền, nguồn của Tánh phải trong sạch.

Có kẻ hỏi: - Nguồn Tánh làm sao mới trong sạch?

Trả lời: - Trong ngoài đều quên là trong sạch.

Lại hỏi: - Gốc Mạng làm sao mới gọi vững bền?

Trả lời: - Thần Khí giữ nhau thì đặng vững bền.

Tánh ấy là Thần, Mạng ấy là Tinh và Khí.

Trong Thái Cực đồ có nói: "Vô Cực chi chơn, Nhị Ngũ chi tinh." Hai cái hiệp lại đúng phép thì ngưng tụ mới có con người sanh ra. Cái ta gọi là Tánh đây là Vô Cực chi chơn, còn cái ta gọi là Mạng đây là Nhị Ngũ chi tinh.

(Vô Cực chi chơn là cái Tánh chơn không trong khí Vô Cực. Nhị Ngũ chi tinh là cái tinh ba trong hai số Ngũ, ấy là Khí Mồ Thổ Lão Dương hiệp với Khí Kỷ Thỗ Lão Âm tại cung Khôn, gọi là: Địa thập thành chi, kết thành Đạo khuê.

Bạch Tẫn Lão nhân nói rằng: Vô Cực chi chơn là Lý đó, là Tánh đó; Nhị Ngũ chi tinh là Khí đó, là Mạng đó.

Từ xưa đã có nhiều Đại Nho phát minh ra chỗ bí ảo của: một là LÝ, hai là KHÍ, đủ thấy dưới Trời nầy chẳng đâu có Lý mà không có Khí, cũng chẳng đâu có Khí mà không có Lý; còn trong thân người, chẳng đâu có Tánh mà không có Mạng, chẳng đâu có Mạng mà không có Tánh.)

Vô Dịch Tử nói: Tánh ở trong Tâm, Tâm không một phần thì Tánh hiện ra một phần, Tâm không mười phần thì Tánh hiện ra mười phần. Tánh hiện tức là Tánh tận. (Tận có nghĩa là thiệt hiện, tức là cái chi bị khuất lấp nay đem bày ra chỗ quang minh).

Vậy thì dứt niệm tưởng là cốt để tận Tánh. Tánh tận một phần thì Thần Khí ngưng tụ một phần, Tánh tận 10 phần thì Thần Khí ngưng tụ 10 phần.

Công phu của người học Đạo chẳng có chi khác, bất quá là thung dung mà đạt tới chỗ đó thôi. Đại khái công phu toàn ở chỗ dứt niệm tưởng, tâm tức nương nhau. Phép nầy rất nhanh chóng là tại sao?

Khí là mẹ của Thần, Thần là con của Khí, tâm tức nương nhau như con mẹ gặp nhau. Thần Khí dung hòa thành ra một phiến, khắn khít nhau hoài, lâu rồi sẽ thành đại định. Đó gọi là Đạo: Qui căn phục mạng, căn thâm đế cố, trường sanh cửu thị. (Về gốc để tiếp mạng, gốc sâu thì rễ chắc, đặng mạng sống lâu dài). (Trích Dưỡng Chơn Tập của dịch giả Minh Thiện)

Người xưa chưa khám phá được cái xác thân thiêng liêng tức là chơn thần của con người, nên gọi cái chơn thần ấy là Tánh. Vậy thì Tánh và Mạng của con người chính là Tinh, Khí, Thần, Tam bửu của con người.

Cho nên nói Tu Tánh Luyện Mạng hay Dưỡng Sanh Tánh Mạng, hay Tánh Mạng song tu, đều là nói về phép luyện đạo mà ngày nay gọi là: Luyện Tam bửu (Tinh Khí Thần) hiệp nhứt, tạo được chơn thần huyền diệu, đắc đạo tại thế.