Tánh thiện - Thuyết Tánh thiện
ID018803 - Tự Điển : Tánh thiện - Thuyết Tánh thiện 🖶 Print this Tự Điển
dictionary : Cao Đài Tự Điển - Vần T
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Tánh thiện - Thuyết Tánh thiện

性善 - 說性善

A: The good character.

P: Le bon caractère.

Tánh: - Cái nguyên lý sở dĩ sanh ra nhơn loại. - Tánh hạnh, bản chất. Thiện: lành.

Tánh thiện là cái bổn tánh lành mà Trời phú cho người.

Mạnh Tử lập ra thuyết Tánh Thiện, tóm tắt như sau:

"Cái học uyên nguyên của Mạnh Tử là ở Tâm học, trước sau chú trọng ở chữ TÂM và chữ TÁNH.

Ông lý hội được lời của Đức Khổng Tử nói ở thiên Hệ từ trong Kinh Dịch rằng: Nhứt Âm nhứt Dương chi vị Đạo, kế chí giả thiện dã, thành chi giả tánh dã; và ở sách Luận Ngữ rằng: Tánh tương cận dã, tập tương viễn dã; và ở sách Trung Dung rằng: Thiên mệnh chi vị Tánh, mà biết rằng tuy Ngài không nói Tánh thiện hay Tánh ác, nhưng đã gọi Tánh là cái của Trời phú cho thì Tánh tất phải thiện.

Đây ta phải hiểu chữ Tánh của Khổng giáo khác nghĩa chữ Tánh của người ta thường dùng.

Người ta thường nói Tánh là nói gồm tất cả các nết tốt, nết xấu tự nhiên ở trong tâm thần của một vật nào, tức là nói cả cái toàn thể sinh hoạt của vật ấy.

Khổng giáo không hiểu như thế, cho Tánh là cái phần Thiên lý của Trời phú cho, có đủ nhân, nghĩa, lễ, trí, tức là cái Minh Đức nói ở đầu sách Đại Học. Mạnh Tử theo cái ý chỉ ấy mà lập ra thuyết Tánh thiện.

Thuở ấy có người nói: Có tánh thiện, có tánh bất thiện; Tánh có thể làm thiện, có thể làm điều bất thiện; Tánh không thiện cũng không bất thiện; và có người cho rằng: Sinh hoạt ở đời là Tánh.

Mạnh Tử phản đối kịch liệt những ý kiến ấy.

Ngài giải thích rõ cái nghĩa tại sao nói là Tánh thiện: Cứ theo cái bản năng của người ta thì ai cũng có thể làm lành nên mới nói là thiện. Nếu có làm điều bất thiện là không phải cái tội ở cái bản năng của người ta.

Người ta ai cũng có lòng trắc ẩn, ai cũng có lòng tu ố, ai cũng có lòng tôn kính, ai cũng có lòng thị phi. Lòng trắc ẩn là nhân, lòng tu ố là nghĩa, lòng cung kính là lễ, lòng thị phi là trí. Nhân nghĩa lễ trí không phải là ở ngoài mà đúc lên đâu, ta vốn có sẵn cả, chỉ vì không nghĩ đến mà thôi. Cho nên nói rằng: Tìm thì thấy, bỏ thì mất. (Tu ố là ghét điều xấu)

Có người hay hơn hoặc dở hơn gấp hai, gấp năm, đều là vì không biết dùng hết cái bản năng của mình vậy.

Năm được mùa thì con em làm điều hay, năm mất mùa thì con em làm điều bậy. Đó không phải Trời phú cho cái bản năng khác nhau như thế, chỉ tại ta để cái Tâm của ta đắm vào vật dục, cho nên mới hóa ra thế....

Nói rút lại, Mạnh Tử cho cái Tánh là của Trời phú cho người ta là thiện. Nếu có thành ra bất thiện là vì người ta không biết giữ lấy cái bổn tâm, chứ cái nguồn gốc của Tánh là không thể không thiện được.

Mạnh Tử nói: Người ta ai cũng có lòng thương người. Giá bất thình lình người ta thấy một đứa trẻ sắp rơi xuống giếng thì ai cũng có lòng bồn chồn thương xót. Bồn chồn thương xót không phải vì trong bụng có ý muốn cầu thân với cha đứa trẻ ấy, không phải vì muốn cho làng xóm bè bạn khen, không phải là sợ người ta chê cười. Xem như thế thì ai không có lòng trắc ẩn không phải là người, ai không có lòng tu ố không phải là người, ai không có lòng từ nhượng không phải là người, ai không có lòng thị phi không phải là người.

Lòng trắc ẩn là cái mối của nhân, lòng tu ố là cái mối của nghĩa, lòng từ nhượng là cái mối của lễ, lòng thị phi là cái mối của trí. Người ta có bốn mối ấy mà tự bảo không sửa mình được là tự hại mình vậy.

Đã nói ở trên rằng, Mạnh Tử nói Tánh thiện là nói cái bổn nguyên tinh thần, tức là cái Thiên lý của Trời phú cho, chứ không phải nói cái Tánh gồm cả tình dục của người ta.

Những nhà tâm lý học nay xét cái Tánh của khí chất (không phải cái Tánh của Trời ban cho) nên mới nói cái Tánh của người ta có sẵn cả thiện đoan và ác đoan. Thiện đoan là lòng vị tha bác ái, lòng yêu sự hay sự đẹp và sự thật; ác đoan là lòng vị kỷ thị dục. Theo cái học ngày nay như thế thì người thiện hay ác là tùy sự giáo dục, cái tạp quán và cái hoàn cảnh làm cho thiện đoan phát triển hay ác đoan bành trướng.

Cùng một chữ Tánh, song chữ Tánh của ta dùng có nghĩa khác. Nếu xét không kỹ thì ta không hiểu rõ cái thuyết của Mạnh Tử.

Mạnh Tử sở dĩ nói cái Tánh thiện là vì tin có cái Thiên lý chí thiện, mà Tánh của người ta là một phần Thiên lý ấy, tất phải thiện.

Sự giáo dục phải lấy cái thiện căn ấy làm căn bản, rồi giữ cho nó không mờ tối và trau giồi cho nó phát triển ra mà thành người lành người tốt.

Nếu nói rằng, người có Tánh ác hay là không thiện không ác thì không hợp với cái thuyết Thiên lý chí thiện....

Tánh là cái lý toàn nhiên ở trong Tâm của người ta, tức là cái phần tinh thuần của Trời phú cho. Ta nhờ có Tánh ấy mới biết nhân nghĩa, phải trái, cho nên trước hết ta phải nuôi lấy cái Tánh ấy, đừng để nó mờ tối. Người hơn loài cầm thú là chỉ ở sự giữ được cái Tánh bổn nhiên mà thôi. Nếu ta bỏ mất cái Tánh ấy đi thì người và cầm thú không khác nhau chi cả."

Toàn thể học thuyết của Mạnh Tử là căn cứ trên Tánh thiện của Trời phú cho con người. (Trích trong Nho Giáo của Trần Trọng Kim)