Tâm tánh

Có hai trường hợp:

* Trường hợp 1 Tâm tánh:

心性

A: The heart and character.

P: Le coeur et caractère.

Tâm: lòng dạ. Tánh: tánh tình, tánh nết.

Tâm tánh là lòng dạ và tánh nết.

Tâm tánh tương thông: sự cảm thông lẫn nhau giữa tâm tánh của người nầy với người khác.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Phần nhiều trong các con chưa để hết tâm tánh giúp ích vào đường chánh giáo.

* Trường hợp 2 Tâm tánh:

心 - 性

A: The conscience - Character.

P: La conscience - Le caractère.

Mỗi người đều có một cái Tâm ẩn khuất bên trong, vô hình vô ảnh, nhưng rất mầu nhiệm thiêng liêng. Người chỉ biết được Tâm chớ không thể thấy Tâm.

Khi Tâm thể hiện ra ngoài bằng cử chỉ, hành động, lời nói thì gọi là Tánh. Thánh nho nói: Tánh tự Tâm sanh, nghĩa là cái Tánh do từ cái Tâm sanh ra. Do đó, Tâm và Tánh liên hệ chặt chẽ mật thiết với nhau, làm cho đôi khi người ta nghĩ rằng: Tâm cũng là Tánh, mà Tánh cũng là Tâm.

Khi Tâm rung động trước những sự vật biến đổi bên ngoài và Tâm phát tiết ra thì gọi là Tình. Tình ấy do Tâm cảm động mà ra nên gọi là Tình cảm.

So sánh với chơn linh và chơn thần của con người thì:

· Tâm là chơn linh (Thần).
· Tánh là chơn thần (Khí).
 
1. Tâm
2. Tánh
3. Liên quan giữa Tâm và Tánh

1. Tâm

■ Chữ TÂM, viết theo Hán 心 tự tượng trưng hình trái tim: ở trên có 3 cái dấu tượng trưng 3 cái cuống (ống dẫn máu), ở dưới là cái túi chứa máu.

Ông Trần Đoàn hiệu là Hi Di, mô tả chữ Tâm 心 và nói ý nghĩa của nó trong 4 câu thơ Hán văn sau đây:

Tam điểm như tinh tượng,
Hoành câu tự nguyệt tà.
Phi mao tùng thử đắc,
Tố Phật dã do tha.

GIẢI NGHĨA:

Ba điểm như hình ngôi sao,
Nét cong nằm ngang như mảnh trăng xế.
Mang lông theo đó mà được,
Nên Phật do đó vậy.

[Chú thích: Phi: khoát áo vào mình. Tố: nên.]

Cái Tâm của con người được ví với trăng sao trên bầu trời, nên nó rất mầu nhiệm cao cả.

Thành Tiên tác Phật cũng do nơi Tâm, mà trở lại làm loài cầm thú mang lông đội sừng cũng do Tâm.

Nếu người giữ được cái Tâm luôn luôn lương thiện, bác ái và công bằng, thì sẽ trở thành Tiên, Phật.

Nếu người để cho cái Tâm buông lung trở nên vạy tà, gian ác, thì sẽ gây ra biết bao ác nghiệp, nên phải bị đọa đày thành loài quỉ ma, hoặc luân hồi trở lại cõi trần mà làm thú cầm đền bồi tội lỗi.

■ Ngày xưa người ta nghĩ rằng, trái tim là chỗ nghĩ ngợi, lo lắng, cũng là nơi phát xuất tình cảm, bởi vì có nhận xét là khi ta vui thì tim ta như nở lớn ra, khi buồn phiền thì trái tim như co thắt lại, khi giận dữ thì tim đập liên hồi.

Lần lần người ta mới khám phá ra là sở dĩ tim nở lớn hay tim co thắt là do các dây thần kinh đem mệnh lệnh từ khối óc truyền xuống.

Nhưng ai đã ra các mệnh lệnh ấy?

Ra các mệnh lệnh ấy chính là một chủ nhân vô hình, ngự tại một nơi kín đáo trong cơ thể con người.

Vị chủ nhơn đó được nhiều tôn giáo, nhiều phái triết học, gọi bằng nhiều danh từ khác nhau, nhưng tựu trung thì chỉ có một:

· Người đời thường gọi là: Lương tâm, Linh hồn.

· Nho giáo gọi là: Chơn tâm, Linh giác, Thần minh.

· Lão giáo gọi là: Thiên lương, Huyền quan nhứt khiếu.

· Phật giáo gọi là: Chơn như, Phật tánh, Chơn tâm, Bổn lai diện mục.

· Đạo Cao Đài gọi là: Chơn linh, Tiểu linh quang, Tiểu Thượng Đế.

Tâm hay chơn linh, sở dĩ được gọi là Tiểu Thượng Đế là vì nó chính là một điểm Linh quang, được Thượng Đế chiết ra từ khối Đại Linh quang của Ngài để ban cho mỗi người, nên nó có đầy đủ bản chất của Thượng Đế là trọn lành trọn tốt, linh diệu vô cùng, hướng dẫn con người làm điều hay sự phải, thuận tùng Thiên lý, để tiến hóa và tiến hóa mãi cho đến khi trở về nguồn cội sanh ra nó là Thượng Đế mới thôi.

■ Tâm là cái bổn nguyên của Trời phú cho mỗi người để làm cái Thần minh chủ tể trong con người. Cái Tâm nầy luôn luôn có khuynh hướng thuận tùng Thiên lý, nên gọi là Chánh tâm.

Nhờ có Chánh tâm, con người mới có lương tri lương năng để hiểu biết điều nhơn nghĩa, lẽ phải trái. Người ta sở dĩ không làm được điều nhơn nghĩa như bực Thánh Hiền là vì người ta để cho vật dục che lấp cái Tâm.

"Cái Tâm của con người sáng suốt, quán cổ tri kim, hay khiến con người làm điều hay sự phải, giục con người mến đạo đức chuộng tinh thần, biết thuận theo Thiên lý.

Nhưng người phải nhớ lấy, đừng cho lòng dục dấy lên, thì tội tình gây ra mãi. Cái Tâm là thiện, là sáng suốt, nhưng bị vật dục bên ngoài đưa đẩy vào làm cho choáng hết cái thanh quang, sanh lòng quấy quá.

Người quân tử bao giờ cũng giữ cái Tâm cho thanh bạch, tịnh an, không cho phóng túng chạy bậy ra ngoài. Biết cách gìn giữ cho định cái Tâm, rồi thì trăm mạch lưu thông khí huyết, nhơn dục tịnh tận, Thiên lý lưu hành.

Tâm Tánh không không, chẳng một vật chi dính vào. Ấy là: Vạn pháp qui tông, Ngũ hành hiệp nhứt.

Chớ con người để cho cái Tâm buông lung thì sự chết một bên chơn, quỉ vô thường chực rước. Vậy người phải suy cạn nghĩ cùng.

Thí dụ như con gà, con chó, nó rủi sẩy ra, mình còn biết đi tìm kiếm nó về thay, lựa là cái Tâm của mình tản lạc ra ngoài mà không biết đem trở lại sao?

Tâm là cái kho chứa đồ. Nhưng kho chứa khi đựng đầy rồi, không chứa đặng thêm nữa, chớ cái Tâm chứa đựng bao nhiêu cũng được.

Con người nên làm chủ cái Tâm, gìn cái ý mà bảo tồn lấy Tam bửu, Ngũ hành. Tam bửu là báu nhứt của con người: thành Phật Tiên cũng do đó, mà làm ma quỉ cũng tại đó."

"Tiên phàm cũng bởi tại Tâm ra,
Tâm vạy thì làm những quỉ ma.
Tâm chánh còn nuôi thành Thánh đức,
Tiểu nhân vì bởi mất đi mà." (Đại Thừa Chơn Giáo)

■ Đạo Cao Đài gọi Tâm là Tiểu linh quang hay điểm linh quang, vì nó được chiết ra từ khối Đại linh quang của Thượng Đế, nên nó có đầy đủ bản chất của Thượng Đế.

Đức Chí Tôn Thượng Đế có dạy rằng:

"Bạch Ngọc từ xưa đã ngự rồi,
Cần gì hạ giới vọng cao ngôi.
Sang hèn trối kệ, Tâm là quí,
Tâm ấy tòa sen của Lão ngồi."

Đức Chí Tôn cũng có nói rằng:

Nơi lòng Thầy ngự động Thầy hay.

Thánh nho cũng có nói:

"Nhơn tâm sanh nhứt niệm, Thiên Địa tất giai tri."

Nghĩa là: cái Tâm của con người sanh ra một niệm thì Trời Đất ắt hẳn đều biết rõ.

Thầy đã nói rằng, nơi thân phàm các con mỗi đứa, Thầy đều cho một chơn linh gìn giữ cái chơn mạng sinh tồn.

Thầy tưởng cũng chẳng cần nói, các con cũng hiểu rõ rằng: Đấng chơn linh ấy vốn vô tư, mà lại đặng phép giao thông cùng cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật và các Đấng trọn lành nơi Ngọc Hư Cung, nhứt nhứt điều lành và việc dữ đều ghi chép không sai, đặng dâng vào Tòa Phán xét.

Bởi vậy, một mảy không qua, dữ lành đều có trả; lại nữa, các chơn linh ấy, tánh Thánh nơi mình, đã chẳng phải gìn giữ các con mà thôi, mà còn dạy dỗ các con, thường nghe đời gọi lộn lương tâm là đó.

Bởi vậy, chư Hiền và chư Thánh nho nói rằng: Khi nhơn tức khi Tâm, Hoạch tội ư Thiên vô sở đảo dã."

"Như các con nói dối, trước chưa dối với người thì các con đã nói dối với lương tâm, tức là chơn linh." (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển)

■ Đức Phật Mẫu giáng cơ tại Báo Ân Từ ngày 15-8-Đinh Hợi (1947) dạy về chữ Tâm như sau:

"Đời hay Đạo cũng vậy, muốn lập nền tảng cho sự thái bình, phải cần lập Tâm cho chơn chánh, đĩnh đạc, để gieo sự hòa nhã yêu đương, rồi mới mong tề gia trị quốc. Bạo tàn áp bức, oai võ chế kềm, chẳng qua là tạo cảnh khổ về sau, không trường tồn được.

Vậy cần trau chữ Tâm cho lắm! Cái thất bại của Đạo và Đời vừa qua là nơi kẻ cầm quyền không trọn tâm đức và nếu được hòa hiệp thành một khối chặt chẽ rồi thì các con mới dìu dắt nhơn sanh khỏi lo lầm lạc.

MẸ khuyên các con, dầu Hiệp Thiên hay Cửu Trùng, nên gắng sức lập Tâm đặng để công vào Đạo.

Trong lúc nầy, nhơn sanh thiếu người giáo hóa, cửa Đạo thành ra bến chợ đời, hỗn loạn quanh co, mưu thần chước quỉ, trông vào há chẳng hổ chung cho nhau? Nếu mình tự toại mà chẳng để công, dầu MẸ có thương, cũng không tư vị sau nầy.... MẸ để lời dưới đây cho các con dùng làm chuẩn thằng trong bước Đạo:

Gắng sức trau giồi một chữ Tâm.
Đạo đời muôn việc khỏi sai lầm.
Tâm thành ắt đoạt đường tu vững,
Tâm chánh mới mong mối Đạo cầm.
Tâm ái nhơn sanh an bốn biển,
Tâm hòa thiên hạ trị muôn năm.
Đường Tâm cửa Thánh dầu chưa vẹn,
Có buổi hoài công bước Đạo tầm.

Hãy suy nghĩ và thật hành bao nhiêu đó, các con sẽ đắc đạo tại thế vậy. THĂNG."

Tóm lại:

Mỗi người đều có một cái Tâm, đó là chơn linh hay điểm linh quang do Đức Chí Tôn ban cho mỗi người để làm một vị Thần minh chủ tể con người.

Do đó, bản chất của Tâm là:

- Lương thiện, chơn chánh, nên gọi nó là Lương tâm, ưa đạo đức, chuộng tinh thần, thuận tùng Thiên lý.

- Sáng suốt, phân biệt thiện ác, chánh tà, tốt xấu, tức là có được lương tri lương năng.

- Dao động luôn luôn theo sự biến đổi của cảnh vật bên ngoài nên gọi là Tâm viên ý mã (Tâm như con khỉ, ý như ngựa).

Thất tình lục dục luôn luôn chực hờ, lấy sự thỏa mãn vật dục làm miếng mồi ngon nhử cái Tâm đi theo đường tà của chúng.

Cho nên, chỗ tối yếu của huyền năng chánh pháp là Tịnh Tâm, để điều khiển lục dục thất tình, hướng chúng vào đường cao thượng.

Nhơn dục được lặng yên thì mới vẹt được vô minh, Tâm mới tỏ rạng.

2. Tánh

Thông thường, người ta hiểu Tánh là nết xấu hay nết tốt của con người. Nhưng theo triết lý của tôn giáo, Tánh có ý nghĩa khác hẳn và rất cao siêu.

■ Theo Nho giáo, sách Trung Dung viết rằng: "Thiên mệnh chi vị Tánh", nghĩa là: Mạng Trời gọi là Tánh.

Như vậy, Tánh là cái mà Trời phú cho con người nên Tánh đó phải thiện. "Nhơn chi sơ, Tánh bổn thiện" (con người mới sanh ra thì Tánh vốn lành). Khi lớn lên, có thể con người trở nên hung dữ thì cái lẽ đó là do con người không biết gìn giữ cái Tánh bổn thiện để cho vật dục lôi kéo vào đường tà vạy.

Do đó, sự giáo dục con người phải lấy cái bổn thiện đó làm căn bản, gìn giữ nó, trau giồi nó để cho nó phát triển thành người tốt.

Trong sách Đại Thừa Chơn Giáo (Đại Thừa Chơn Giáo), Thánh giáo dạy về chữ Tánh như sau:

"Tánh là cái nguyên lý sở dĩ sanh ra nhơn loại, thế nên cái bản nguyên tinh thần của con người là Lý. Lý ấy rất linh diệu thiêng liêng của Trời đã phân ra mà ban cấp cho mỗi người, nên Lý ấy tức là Tánh vậy.

Của Trời là Lý, về người là Tánh, vì thế nên Trời với người mới có thể ứng tiếp liên lạc nhau rất mật thiết. Bởi vậy, hễ muốn tính sự gì, tuy chưa làm ra mà Trời đã biết trước. Trời với người cũng đồng một Lý một Khí thì không cảm ứng nhau sao được?

Vậy, người nếu biết trau giồi cái linh Tánh cho thiệt sáng suốt anh minh thì tự nhiên giao tiếp với Trời thiệt là chẳng khó. Thế mà người đã linh hơn vật, đã có cái bổn Tánh thiêng liêng rất quí báu vô giá như vậy, cớ sao người chẳng trau giồi mà cứ để lu lờ nhơ bẩn, ngày một chồng lấp thêm lên mãi mãi. Ôi! Khờ lắm thay! Dại lắm thay! Nghiêu Thuấn cũng là người, mà dầu Tiên Phật thì trước kia cũng vẫn là người chớ sao."

THI BÀI
"Tánh dốt nát ngu hèn người tạo,
Giam hãm vào lục đạo luân hồi.
Bởi chưng chẳng biết trau giồi,
Đặng cho bổn tánh phục hồi cội căn.
Tánh thì thiện như trăng tỏ rạng,
Tánh ấy là Thiên mạng ban cho,
Tánh đâu lại có vạy vò,
Tánh lành thông suốt ráng mò kiếm ra.
Tâm Tánh đặng hiệp hòa Trời Đất,
Mà thông đồng muôn vật thế gian.
Tánh như thể một con đàng,
Không đi, đường ắt mọc tràn chông gai.
Tánh như nước chảy dài là thiện,
Tánh luyện rèn phát triển tinh vi.
Tánh là cách vật trí tri,
Người người cần phải gắng ghi trau giồi."

■ Do nơi cái Tánh mà nhơn sanh được chia làm ba hạng người: thượng trí, trung nhơn và hạ ngu.

Bậc Thượng trí giữ được cái Tánh thiên nhiên chí thiện chí mỹ, khỏi phải học mà xử thế không sai lẽ Đạo.

Bậc Trung nhơn thì cái Thiên Tánh có biến đi phần nào, nhưng hễ có học thì mau thức tỉnh và Tánh lần lần trở nên trong sạch.

Bậc Hạ ngu thì cái Thiên Tánh đã quá lu lờ gần như bị che lấp hết. Nhưng nếu có người khổ công dẫn dắt tập rèn thì cũng lần lần mở mang tâm trí được.

3. Liên quan giữa Tâm và Tánh

■ Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giảng về Tâm và Tánh chép ra như sau:

"Nhà nho nói: Tánh tự Tâm sanh (cái Tánh do từ cái Tâm sanh ra). Đó là lý thuyết của đạo Nho. Chỉ biết có một điều là quan sát có thể thấy hiện tượng mà tả trạng hình, vì đạo Nho chưa phải là một tôn giáo huyền bí.

Còn Đức Chí Tôn đến dạy ta biết rằng: Tánh là chơn tướng của chơn thần, còn Tâm là chơn tướng của chơn linh.

Chí Tôn dạy: Tánh của mỗi chúng ta là hình thể thứ nhì của ta. Hình thể thứ nhứt là Tâm tức chơn linh; thứ nhì là Tánh tức chơn thần, thứ ba là xác phàm thú chất nầy.

Chí Tôn hỏi: Tại sao từ trước đến giờ, theo triết lý đạo Nho lấy nghĩa "Tánh tự Tâm sanh" mà tả ra? Bởi vì nó liên quan mật thiết cùng nhau. Trong Tâm mình như thế nào thì xuất Tánh ra y như vậy.

Nhà Nho thấy hiện tượng mà đặt tên, còn Đức Chí Tôn chỉ rõ cho biết: chơn thần cũng tấn bộ như chơn linh. Mỗi cá nhân đều có hai năng lực ấy có đủ quyền năng đào tạo ra hình hài xác thịt của ta.

Một chơn linh cao trọng tự nhiên có một chơn thần cao trọng." (Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp)

THI BÀI
"Người quân tử chẳng xa Tâm Tánh,
Gìn cái Tâm cho chánh đáng tin.
Nó là một vật thần minh,
Đừng cho lục dục thất tình lấp chôn.
Giồi luyện mãi tâm hồn hiển đạt,
Hậu thì làm mà bạc thì thôi.
Ngày đêm cố gắng tô bồi,
Cũng như ngọc báu có giồi mới xinh.
Tâm thì thiện mà linh uyên bác,
Giữ cho còn thì phát Thiên cơ.
Đừng cho hư hỏng vất vơ,
Muốn ngăn nước phải đắp bờ trước khi.
Người để Tâm mất đi Mạng dứt,
Trong thân người quí nhứt là Tâm.
Mất đi nào khác thú cầm,
Thánh Hiền biết giữ cái Tâm cho còn.
Tâm nắn đúc muốn tròn hay méo,
Tâm như người thợ khéo đó con.
Tâm gìn đừng để hao mòn,
Làm cho nhơ bẩn thì còn chi không?
Nghiêu Thuấn với nhơn đồng là đó,
Người với ta nào có khác chi.
Thánh Hiền làm đặng khó gì,
Biết nuôi Tâm Tánh gọi thì Phật Tiên."
(Đại Thừa Chơn Giáo)

■ Tâm và Tánh rất quan trọng và liên quan mật thiết với nhau như thế, nên trong các phép luyện đạo của Tam giáo đều chú trọng luyện Tâm và Tánh:

· Nho giáo dạy: Tồn Tâm dưỡng Tánh.
· Phật giáo dạy: Minh Tâm kiến Tánh.
· Lão giáo dạy: Tu Tâm luyện Tánh.

a) Nho giáo: TỒN TÂM DƯỠNG TÁNH:

Mạnh Tử cho Tánh là bản nguyên của Trời phú cho, tức là Thiên lý chí linh chí diệu. Ông cho rằng người ta có Tánh ấy tất có Tâm ấy, Tâm với Tánh là một vậy.

Tâm là phần chủ tể trong người ta. Hễ hiểu rõ cái Tâm thì ta biết rõ cái Tánh; biết rõ cái Tánh thì biết rõ Trời Đất và vạn vật, tức là cách vật trí tri đó vậy.

Giữ cho còn cái Tâm của mình, nuôi cái Tánh của mình là để thờ Trời vậy (Tồn kỳ Tâm, Dưỡng kỳ Tánh, sở dĩ sự Thiên dã).

Tâm là cái thần minh của Trời. Trời cho ta cái Tâm ấy để làm Tâm thì Tâm ta với Trời là một thể. Đó thực là cái đạo Nhất quán của Đức Khổng Tử.

Biết cái Tâm của ta là Trời, giữ cái Tâm cho ngay chánh, nuôi cái Tánh cho hoàn toàn sáng suốt, nhứt động nhứt tịnh đều thuận cái Thiên lý tự nhiên. Ấy là sự chơn thực thờ Trời vậy.

Ta đã biết Tánh, biết Trời thì ta chỉ chuyên nhất ở sự nuôi Tánh (Dưỡng Tánh) và sự sửa mình (Tu thân) cho toàn cái của Trời đã phú cho ta, rồi cứ an vui mà đợi mệnh Trời, chứ không lấy sự thọ yểu mà hại cái bổn nguyên chí thiện.

Học để giữ cái Tâm (Tồn Tâm) và nuôi lấy cái Tánh (Dưỡng Tánh), biết rõ lẽ Trời mà theo cái chánh mệnh của mình, ấy là cái tinh thần của Nho giáo.

Bởi cái học Duy Tâm ấy, cho nên Mạnh Tử rất chú trọng sự Tồn Tâm, Tồn Tánh, Dưỡng Khí, và Trì Chí.

Vạn sự hay dở đều ở cái Tâm cả. Bởi vậy, cái học của người quân tử cần phải Tồn Tâm, nghĩa là giữ cho còn cái bổn Tâm hư linh của mình. Muốn Tồn Tâm thì không gì bằng quả dục (ít ham muốn).

Cái Tâm mà Mạnh Tử nói ở đây là cái Lương Tâm của người. Có Lương Tâm thì biết điều nhân điều nghĩa, lẽ phải lẽ trái. Có Lương Tâm thì có lương năng lương tri, tức là cái giỏi cái biết rất tự nhiên, rất mẫn tiệp.

Chỉ vì ta đắm đuối vào vật dục, cho nên cái Lương Tâm mới mờ tối đi, thành thử ta bỏ mất nhơn nghĩa.

Bởi thế, người quân tử lấy sự giữ cái Tâm hồn nhiên thuần hậu như cái Tâm của đứa trẻ con làm quí.

Tánh là cái Lý toàn nhiên ở trong Tâm người ta, tức là cái phần tinh thuần của Trời phú cho. Ta nhờ có Tánh mới biết nhân nghĩa, biết phải trái. Cho nên, trước hết ta phải nuôi lấy cái Tánh đừng để mờ tối đi.

Người hơn loài cầm thú là chỉ ở sự giữ được cái Tánh bản nhiên mà thôi. Nếu ta bỏ mất cái Tánh ấy đi, thì người với cầm thú không khác gì nhau cả. (Trích trong sách Nho giáo của Trần Trọng Kim)

b) Phật giáo: MINH TÂM KIẾN TÁNH:

Lục Tổ Huệ Năng của Phật giáo Thiền Tông thông suốt Tâm và Tánh, nên có làm hai bài kệ về Tâm và Tánh như sau:

TÂM:
Không ngờ Tâm mình vốn thanh tịnh,
Không ngờ Tâm mình vốn không sanh diệt,
Không ngờ Tâm mình vốn sẵn đủ các pháp,
Không ngờ Tâm mình vốn không lay động,
Không ngờ Tâm mình hay sanh muôn pháp.
(Phật Học Phổ Thông, TTH)
TÁNH:
Nào dè Tánh mình vốn tự nhiên trong sạch,
Nào dè Tánh mình chứa đầy muôn pháp,
Nào dè Tánh mình vốn không lay động,
Nào dè Tánh mình có thể sanh ra muôn pháp.
(Pháp Bảo Đàn Kinh)

Nếu chẳng biết bổn Tâm thì học Pháp vô ích, bằng biết bổn Tâm và thấy bổn Tánh thì đắc đạo thành Phật.

Pháp môn Giới Định Huệ cũng căn cứ vào việc luyện Tâm và Tánh. Lục Tổ Huệ Năng có bài kệ:

Tâm địa không quấy thì Tánh mình Giới,
Tâm địa không si thì Tánh mình Huệ,
Tâm địa không rối thì Tánh mình Định,
Không thêm không bớt, Tánh mình Kim cang,
Thân tới thân lui vốn là Tam Muội (Chánh Định).

· Tâm địa là đất Tâm, vì Tâm sản xuất ra đạo đức và các pháp.

· Không thêm không bớt, Tánh mình Kim cang, nghĩa là bổn Tánh mình ở nơi Phật cũng không thêm, ở nơi phàm cũng không bớt, thể nó rặt ròng trong sạch, cứng chắc, trải qua muôn vạn kiếp, đời đời chẳng hư hoại, cho nên ví dụ nó là Kim cương.

· Thân tới thân lui vốn là Tam muội, nghĩa là lúc đi lúc đứng, ngồi nằm, nhứt nhứt hành vi đều thường trụ, tự do, thân Tâm đều thanh tịnh, không có một mảy ô nhiễm vọng động, ấy là Tánh mình Tam muội (Chánh định).

Cái pháp môn Đốn giáo của Lục Tổ Huệ Năng chỉ luận ngay Tâm và Tánh, Ngài luận ròng về phép Kiến Tánh, là tôn chỉ và cứu cánh của Thiền Tông.

Muốn đạt mục đích tối cao nầy, phải căn cứ vào các phương pháp: Sám Hối, Thiền định, Trí huệ làm diệu công. Mỗi hành giả phải cầu nơi sức mình (tự lực) tức là cầu nơi bổn Tánh của mình.

Trước hết phải dùng phép Đại thừa vô tướng Sám Hối mà trừ ngay cội rễ của các điều tội lỗi trong Tâm, bỏ Tà theo Chánh, dứt vọng về chơn, lánh dữ làm lành, bảo tồn Tánh đức, lại phải tu Thiền định và Trí huệ để trừ các mối tán loạn và phiền não. Tu các hạnh trên đây thì công đức đầy đủ, niệm niệm thấy Tánh, đắc thành Phật đạo, chứng đắc Niết Bàn.

Minh Tâm kiến Tánh là làm cho sáng tỏ cái Tâm để thấy được cái bổn Tánh tự nhiên của mình mà từ vô thủy đến nay vẫn trong sạch, đó cũng là cái Phật Tánh của mỗi người.

Nếu muốn thấy Phật, cần phải thấy Tánh. Tánh tức là Phật. Nếu không thấy Tánh thì niệm Phật, đọc kinh, gìn giữ trai giới cũng không kết quả gì. (Theo Pháp bảo Đàn Kinh)

c) Lão giáo: TU TÂM LUYỆN TÁNH:

Tu Tâm là sửa lòng để cho lòng vật dục lặng yên, làm cho cái Tâm được tỏ rạng, mạnh mẽ, đứng lên làm chủ nhơn ông bản thân mình, mà điều khiển lục dục thất tình, đem chúng vào đường đạo đức.

Luyện Tánh là rèn luyện cái Tánh cho thiệt không không, không ghen ghét, không giận hờn, không buồn lo, không sợ sệt, không chi hết ráo, để nuôi lấy tư tưởng thanh cao.

Trong phần luyện Tánh, trước hết phải luyện Mạng. Cho nên đạo Tiên có câu: "Tu Tánh, tiên tu Mạng, phương pháp tu hành kính." Nghĩa là: muốn tu Tánh, trước phải tu Mạng, đó là phương vào đường tu hành ngay thẳng.

Tu Mạng là luyện tập cho thân thể khỏe mạnh, tức là phải bảo dưỡng Tinh và Khí.

Luyện Tánh là ngưng Thần nhập Định, huờn Hư.

Vậy trong Lão giáo, việc tu Tâm luyện Tánh chung qui chỉ là luyện Tam bửu (Tinh, Khí, Thần) hiệp nhứt, cho Tam huê tụ đỉnh, Ngũ Khí triều nguơn, đắc đạo thành Tiên tại thế.

Tóm lại:

Tâm và Tánh của con người cũng đồng như một, song Tâm là chủ tể, Tánh là chủ động, nghĩa là còn ở trong thì là Tâm, khi đã phát ra ngoài là Tánh.

Cái Tánh của con người thì bổn thiện, sở dĩ con người làm ác là vì cái Tánh bị nhiễm trược trần và cái Tâm bị lục dục thất tình che lấp.

Nho giáo dạy: Tồn Tâm Dưỡng Tánh, tức là giữ cái Tâm cho còn cái bổn nguyên chí thiện chí mỹ của nó, mà nuôi dưỡng cái Tánh cho luôn luôn được chơn chánh thiện lương.

Phật giáo dạy: Minh Tâm Kiến Tánh, tức là phép Đốn ngộ, trực chỉ vào Tâm, kiến Tánh thành Phật.

Tiên giáo dạy: Tu Tâm Luyện Tánh, tức là luyện Tam bửu (Tinh, Khí, Thần) hiệp nhứt.

Tâm và Tánh được các Đấng Giáo chủ Tam giáo giảng dạy mỗi vị một cách khác nhau, dùng những từ ngữ khác nhau, nên làm cho kẻ hậu học rất khó khăn trong việc tìm hiểu cho đúng đắn.

Ngày nay, thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn Thượng Đế dùng huyền diệu cơ bút dạy Đạo cho nhơn sanh, đã chỉ rõ Tâm và Tánh là cái gì, nguồn gốc của nó từ đâu, để nhơn sanh thấy rằng, tuy Tâm và Tánh được gọi bằng nhiều danh từ, nhiều cách, nhưng chỉ có một chơn lý mà thôi.

- TÂM chính là điểm Linh quang của Đức Chí Tôn chiết ra từ khối Đại Linh quang của Ngài để ban cho mỗi người làm chơn linh hay linh hồn.

- TÁNH chính là chơn thần, do Đức Phật Mẫu ban cho để làm xác thân thiêng liêng bao bọc linh hồn. Nhờ có chơn thần mà con người đầu kiếp xuống cõi trần để có thêm một xác thân phàm.

Do đó, con người nơi cõi trần đều có đủ Tâm và Tánh. Đức Chí Tôn cho con người đầu kiếp xuống cõi trần là để học hỏi và tiến hóa, tiến hóa mãi đến mức Tâm và Tánh tận thiện tận mỹ, chí diệu chí linh, để hiệp nhứt vào Chơn lý hằng hữu bất biến.