Tiểu ngã - Đại ngã
ID019145 - Tự Điển : Tiểu ngã - Đại ngã 🖶 Print this Tự Điển
dictionary : Cao Đài Tự Điển - Vần T
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Tiểu ngã - Đại ngã

小我 - 大我

A: Atman - Brahman.

P: Atman - Brahman.

Tiểu: Nhỏ, ít, dùng để nói tự khiêm. Đại: lớn. Ngã: cái ta (le moi, the I).

Tiểu ngã là cái ta nhỏ bé, tức là cái ta của một con người, một tiểu hồn, một tiểu linh quang.

Đại ngã là cái ta to lớn, tức là cái ta của Thượng Đế, là Đại hồn, Đại linh quang.

Đạo Bà La Môn gọi Tiểu ngã là Atman, Đại ngã là Brahman. Con người tu hành đắc đạo, khi thể xác chết thì Atman xuất ra hòa nhập vĩnh viễn vào Brahman.

Đối với Phật giáo, hai từ ngữ: Tiểu ngã và Đại ngã có ý nghĩa khác.

"Đại ngã là cái ta to lớn, ấy là cảnh Niết Bàn mà Phật chứng được. Cũng viết: Chơn ngã, Thật ngã. Đối với: Bổn ngã, vọng ngã (tức là Tiểu ngã).

Phật đắc tám đức tự tại (Bát tự tại), rời khỏi mọi sự hệ lụy, đối với muôn pháp, hằng được tự tại, đó tức là Đại Niết Bàn, tức là Đại ngã.

Đại ngã cũng kêu tắt là Ngã. Trọn bộ Niết Bàn Kinh luận về lý Đại ngã ấy và sở trường về 4 lý: thường, lạc, ngã, tịnh (thường còn, an vui, tự tại, trong sạch). Ngã ở đây là Đại ngã, cái ta lớn hoàn toàn tự tại, siêu việt mọi chi phối và hệ lụy." (Trích trong Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn)

Phật giáo cho rằng, con người bàn luận nhiều về Đại ngã và Tiểu ngã là làm chuyện vô ích, phí thời gian, vì nó không giúp ích gì cho sự nghiệp diệt khổ và giải thoát.