Thành tín

誠信

A: The sincerity and faith.

P: La sincérité et la foi.

Thành: Nên việc, kết quả, trở nên. Tín: tin tưởng, đức tin.

Thành tín là lòng thành thật và sự tin tưởng (đức tin).

Niệm Hương: Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp.

(Người theo đạo cốt là ở tấm lòng thành thật và đức tin, hai thứ đó hợp lại).

- Lòng thành thật là nguồn gốc của các tánh tốt.

Người không có lòng thành thì mất nhân cách vì mình đã tự dối mình, dối lương tâm mình, thì giá trị của mình còn thấp hơn là những người bị mình lừa dối.

Muốn thành thật với người thì trước hết phải thành thật với chính mình. Thành thật với chính mình là lấy công tâm mà xét đoán mình: từng lời nói, từng cử chỉ, ý tưởng, phải xem xét gắt gao kỹ lưỡng để nhận biết chỗ hay chỗ dở. Phải đủ can đảm nhận lỗi mình, và phải biết sữa chữa cho trở nên tốt đẹp.

Thành thật với người là tránh xa vọng ngữ, xảo trá.

Hoàn toàn thành thật với mình, hoàn toàn thành thật với người, đó là Chí thành, cái đức tốt trên tất cả các đức tánh tốt, mà mọi người, dù đời hay đạo phải trau giồi un đúc đặng bước lần đến chỗ Chí thiện.

Khi tụng niệm kinh kệ, nếu không có lòng Chí thành thì tụng luống công vô ích. Phải có thành mới có cảm, có cảm mới có ứng, có ứng mới có linh nghiệm. Tụng niệm mà không có lòng thành, dù bày biện đủ thứ cho long trọng, cũng không có Đấng thiêng liêng nào đến chứng giám. Chứng là chứng cái lòng thành của mình chớ không phải do lễ vật cúng hiến.

- Đức tin là nguồn gốc của người tu.

Chúng ta phải tin tưởng tuyệt đối Đức Chí Tôn, những lời dạy bảo của Đức Chí Tôn và thực hành theo đó. Đức tin mà vững chắc thì không còn sợ một điều gì đe dọa mình, kể cả việc đe đọa đến sanh mạng mình. Phương ngôn Tây phương: Đức tin có thể dời được núi non.

Các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật thường dùng huyền diệu làm ấn chứng cho người để củng cố Đức tin cho người hầu dễ bề độ rỗi. Tùy theo trình độ về tâm lý, về kiến thức của mỗi người, các Đấng thiêng liêng bày ra cho mỗi người một cách thích hợp để tạo Đức tin và dẫn dắt vào đường đạo đức.