Thập Điện Diêm Vương - Thập điện Từ Vương
ID019965 - Tự Điển : Thập Điện Diêm Vương - Thập điện Từ Vương 🖶 Print this Tự Điển
dictionary : Cao Đài Tự Điển - Vần TH
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Thập Điện Diêm Vương - Thập điện Từ Vương

十殿簷王 - 十殿慈王

A: The ten Kings of Hell.

P: Les dix rois de l"Enfer.

Thập: Mười, hoàn toàn. Điện: cung điện, đền vua. Diêm Vương: vị vua cai quản một cửa Địa ngục. Từ Vương: vị vua nhơn từ, có lòng thương xót chúng sanh.

Thập Điện Diêm Vương, cũng được gọi là Thập Điện Từ Vương, là 10 vị vua cai quản 10 cửa Địa ngục, dưới quyền của Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Mười vị vua ấy có nhiệm vụ và quyền hành riêng biệt, được nói rõ trong Từ Ân Ngọc Lịch Minh Kinh, gọi vắn tắt là Kinh Ngọc Lịch, in kèm trong cuốn Hồi Dương Nhơn Quả.

Trong quyển Kinh Sám Hối của Minh Lý Đạo (Tam Tông Miếu) có vẽ hình Thập Điện căn cứ theo Kinh Sám Hối của các Đấng ban cho.

Thập Điện Diêm Vương hay Thập Điện Từ Vương gồm 10 vị vua có phận sự kể ra sau đây: (Viết tắt: ĐN: Địa Ngục)

1. Nhứt Điện: Tần Quảng Vương cầm sổ sống chết.

2. Nhị Điện: Sở Giang Vương coi Đẳng Hoạt Địa Ngục.

3. Tam Điện: Tống Đế Vương coi Hắc Thằng Đại Địa Ngục.

4. Tứ Điện: Ngũ Quan Vương coi Chúng Hiệp Đại Địa Ngục.

5. Ngũ Điện: Diêm La Vương coi Khiếu Hoán Địa Ngục.

6. Lục Điện: Biện Thành Vương coi Đại Khiếu Hoán Địa Ngục.

7. Thất Điện: Thái Sơn Vương coi Nhiệt Não Địa Ngục.

8. Bát Điện: Bình Đẳng Vương coi Đại Nhiệt Não Địa Ngục.

9. Cửu Điện: Đô Thị Vương coi A-Tỳ Địa Ngục.

10. Thập Điện: Chuyển Luân Vương cho đi đầu thai.

(Xem thêm chi tiết nơi chữ: Địa Ngục, vần Đ)

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: "Lại nữa, Hiệp Thiên Đài là nơi của Giáo Tông đến thông công cùng Tam thập lục Thiên, Tam thiên Thế giới, Lục thập bát Địa cầu, Thập Điện Diêm cung, mà cầu siêu cho cả nhơn loại."

Kinh Cầu Siêu:
Chốn Dạ đài Thập Điện Từ Vương,
Thấy hình khổ lòng thương thảm thiết.

Tóm lại, Thập Điện Diêm Vương và 10 cõi Địa Ngục như vừa trình bày trên là theo Kinh Ngọc Lịch từ thời nhà Thanh bên Tàu truyền lại và Kinh Sám Hối của Minh Lý Đạo do các Đấng thiêng liêng giáng cơ ban cho vào năm 1925. Các kinh nầy đều có mục đích khuyến thiện, khuyên con người ráng lo làm lành, tránh làm điều hung dữ, làm lành thì được ban thưởng, làm dữ thì bị trừng phạt.

Nhưng các kinh nầy đều cho trước năm Bính Dần (1926), tức là còn thuộc thời Nhị Kỳ Phổ Độ.

Đến năm Bính Dần, Đức Chí Tôn khai Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, thì năm Bính Dần là kỷ nguyên của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ. Như vậy từ năm Bính Dần (1926) trở về sau thì thuộc Tam Kỳ Phổ Độ.

Khi Đức Chí Tôn mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ thì Đức Chí Tôn cũng Đại khai Ân xá cho toàn cả vạn linh và chúng sanh, dầu nguyên nhân, hóa nhân hay quỉ nhân, nếu biết lập công quả dày dạn trong một kiếp tu thì đủ thành đạo. Đức Chí Tôn lại còn cho đóng cửa Địa ngục, rộng mở cửa Trời:

· Đóng Địa ngục để ân xá tất cả các hồn tội lỗi khỏi bị hành hình, cho đi đầu thai trả quả và lo tu hành.

· Mở rộng cửa Trời để đón rước những người có đầy đủ công đức trở về được Đức Chí Tôn ban thưởng các ngôi vị Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Phật Mẫu Chơn Kinh:
Vô Địa ngục, vô quỉ quan,
Chí Tôn đại xá nhứt trường qui nguyên.

Kinh Giải Oan:
Đóng Địa ngục, mở tầng Thiên,
Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây phương.

Do đó, trong thời Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, không còn có Địa ngục nữa.

Tuy hưởng được nhiều hồng ân của Đức Chí Tôn như thế, nhưng các chơn hồn vẫn tiếp tục sa đọa hằng hà, tội tình chồng chất, nên Đức Chí Tôn phải lập ra một cõi đặc biệt gọi là cõi Âm Quang, để đưa các chơn hồn tội lỗi đến đó học đạo cho biết thiện ác nhân quả, để thức tỉnh mà lo tu hành.

Nơi cõi Âm Quang có Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát giáo hóa các nam tội hồn và Thất Nương Diêu Trì Cung giáo hóa các nữ tội hồn. Các chơn hồn thức tỉnh sau khi được giáo hóa, biết ăn năn chừa lỗi, thì được đưa đi đầu kiếp để trả cho xong Nhơn quả và lo tu hành, cho kịp kỳ Hội Long Hoa sắp tới.