Thập hình của Đức Lý Giáo Tông
ID019966 - Tự Điển : Thập hình của Đức Lý Giáo Tông 🖶 Print this Tự Điển
dictionary : Cao Đài Tự Điển - Vần TH
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Thập hình của Đức Lý Giáo Tông

十刑

A: The ten punishments of the Spitual Pope.

P: Les dix punitions du Pape Spirituel.

Thập: Mười, hoàn toàn. Hình: hình phạt.

Thập hình của Đức Lý Giáo Tông là 10 hình phạt do Đức Lý Giáo Tông đặt ra để định án răn phạt các Chức sắc và tín đồ của Đạo Cao Đài khi vi phạm luật pháp của Đạo.

Theo Đạo Luật năm Mậu Dần (1938), chương thứ tư về Tòa Đạo qui định:

LUẬT: Những vị nào phạm luật pháp thì chiếu theo Thập hình của Đức Lý Giáo Tông mà định tội.

Kẻ phạm phải chịu dưới hai quyền luật:

1. Luật: là Tân Luật và Luật Hội Thánh.

2. Pháp: là Pháp Chánh Truyền và Đạo Nghị Định.

Thập hình của Đức Lý Giáo Tông được Hội Thánh ban hành ngay sau khi Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp ký và ban hành 6 Đạo Nghị Định đầu tiên vào ngày 15-10-Canh Ngọ (dl 4-12-1930).

Trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông, tội nặng nhứt thì bị trục xuất ra khỏi đạo, còn tội nhẹ nhứt thì theo hầu người đức hạnh của Hội Thánh định đặng cầu học đạo.

Thập hình của Đức Lý Giáo Tông phân làm hai phần: - Phần phạm pháp gồm 5 hình và - Phần phạm luật gồm 10 hình.

Sau đây, xin chép lại Thập Hình của Đức Lý Giáo Tông:

PHẠM PHÁP

Đệ nhứt hình:

1. Không tuân Pháp Chánh Truyền và Đạo Nghị Định.

2. Phản loạn chơn truyền.

3. Chia phe phân phái và lập Tả đạo Bàng môn.

Những vị nào phạm các điều trên đây thì khép vào tội thứ nhứt trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông, nghĩa là: Trục xuất.

Đệ nhị hình:

Chư Chức sắc Thiên phong không tùng mạng lịnh của Hội Thánh:

1. Thuyên bổ không đi.

2. Không trọn phế đời hành đạo.

3. Bỏ bê phận sự.

Những vị nào phạm các điều trên đây thì bị khép vào tội thứ hai trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông, nghĩa là: Giáng cấp tới tín đồ hay là buộc hành đạo ngoại quốc, trừ ra các xứ lân bang Nam quốc như Ai Lao, Tần quốc.

Đệ tam hình:

1. Làm nhơ danh Đạo.

2. Mượn danh Đạo tạo danh Đời.

3. Lợi dụng danh Đạo làm điều bất chánh.

Những vị nào phạm các khoản trên đây thì bị khép vào tội thứ ba trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông, nghĩa là: Giáng cấp từ đương quyền xuống tới 2 hay là 1 cấp.

Đệ tứ hình:

1. Lấn quyền, giành quyền.

2. Phạm thượng.

3. Tự chuyên sửa cải chơn truyền.

Những vị nào phạm các khoản trên đây thì bị khép vào tội thứ tư trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông, nghĩa là: Ngưng quyền từ 3 năm tới 5 năm.

Đệ ngũ hình:

1. Mê hoặc chúng sanh.

2. Cám dỗ.

Những vị nào phạm các khoản trên đây thì bị khép vào tội thứ năm trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông, nghĩa là: Ngưng quyền từ 1 tới 3 năm và phạt vào Tịnh Thất.

PHẠM LUẬT

Đệ nhứt hình:

1. Không tuân Tân Luật và các luật lệ Hội Thánh.

2. Công kích Hội Thánh.

3. Nghịch mạng.

Những vị nào phạm các khoản trên đây thì bị khép vào tội thứ nhứt trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông, nghĩa là: Trục xuất.

Đệ nhị hình:

1. Tư thông.

2. Dấy loạn chúng sanh.

Những vị nào phạm các khoản trên đây thì bị khép vào tội thứ nhì trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông, nghĩa là: Giáng cấp tới tín đồ hay là buộc hành đạo ngoại quốc, trừ ra các xứ lân bang Nam quốc như Ai Lao, Tần quốc.

Đệ tam hình:

1. Tham lạm tài chánh.

3. Giả mạo văn từ.

Những vị nào phạm các khoản trên đây thì bị khép vào tội thứ ba trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông, nghĩa là: Giáng cấp từ phẩm đương quyền xuống tới 2 hay là 1 cấp.

Đệ tứ hình:

1. Khi lịnh Hội Thánh.

2. Lập quyền riêng.

Những vị nào phạm các khoản trên đây thì bị khép vào tội thứ tư trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông, nghĩa là: Ngưng quyền từ 3 năm đến 5 năm.

Đệ ngũ hình:

Phạm Ngũ giới cấm.

Những vị nào phạm vào luật nầy thì bị khép vào tội thứ năm trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông, nghĩa là: Ngưng quyền từ 1 năm tới 5 năm.

Đệ lục hình:

Cường ngạnh.

Những vị nào phạm vào luật nầy thì bị khép vào tội thứ sáu trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông, nghĩa là: Phạt vào Tịnh Thất từ 1 tháng tới 1 năm, mà còn hành chánh như thường.

Đệ thất hình:

Phạm Tứ đại điều qui.

Những vị nào phạm vào luật nầy thì bị khép vào tội thứ bảy trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông, nghĩa là: Thuyên bổ đi nơi khác chỗ của mình đương hành đạo.

Đệ bát hình:

1. Bê trễ phận sự.

2. Biếng nhác.

Những vị nào phạm các khoản trên đây thì bị khép vào tội thứ tám trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông, nghĩa là: Phải về Tòa Thánh đặng gần Giáo Tông và Hộ Pháp cầu học Đạo.

Đệ cửu hình:

1. Ganh ghét.

2. Hung bạo.

3. Đố kỵ.

4. Xu phụ.

Những vị nào phạm các khoản trên đây thì bị khép vào tội thứ chín trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông, nghĩa là: Phải ăn năn sám hối, thọ tội cùng chúng sanh.

Đệ thập hình:

Phạm Thế luật.

1. Những vị nào phạm vào luật nầy thì bị khép vào tội thứ mười trong Thập hình của Đức Lý Giáo Tông, nghĩa là: Hầu kẻ đức hạnh của Hội Thánh định đặng cầu học Đạo.

2. Những vị nào đã bị luật ngoài đời trừng trị, tùy theo tội hình nặng nhẹ, Tòa Đạo sẽ chiếu theo Thập hình mà trừng trị thêm nữa.

3. Những vị đã phạm tội mất phẩm vị Thiêng phong của mình, phải có luật ân xá của Quyền Vạn Linh và Quyền Chí Tôn mới đặng, nhưng bốn cơ quan toàn thể Chánh trị đạo còn phương tế độ là minh tra công nghiệp, khi những vị ấy đã biết ăn năn, lập nên công nghiệp phi thường, toàn công chúng hoan nghinh và Tòa Đạo minh tra đủ lẽ, thì đặng phép phục sự với một Chức sắc Thiên phong nào của kẻ phạm lựa chọn, hầu phục quyền đoái công chuộc tội thì mới đặng cầu xin phục chức.