Thập Thiên Can - Thập nhị Địa Chi
ID019977 - Tự Điển : Thập Thiên Can - Thập nhị Địa Chi 🖶 Print this Tự Điển
dictionary : Cao Đài Tự Điển - Vần TH
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Thập Thiên Can - Thập nhị Địa Chi

十天干 - 十二地支

A: Ten Heavenly Stems - Twelve Earthly Branches.

P: Dix Troncs Célestes - Douze Branches Terrestres.

Thập: Mười, hoàn toàn. Thập nhị: 12. Thiên can: Can của Trời. Địa Chi: Chi của Đất.

Thập Thiên Can là 10 Can Trời, gồm: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí.

Thập nhị Địa Chi là 12 Chi Đất, gồm: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Thập Thiên Can và Thập nhị Địa Chi được đặt ra là để tính thời gian và để làm lịch.

Thời gian thì có: Hội, Chuyển, Nguơn, Kỷ, Năm, tháng, ngày, giờ. Làm lịch thì người xưa căn cứ chu kỳ quay của Mặt trăng, nên gọi là Âm lịch, xác định các mùa và tiết trong năm.

Thập Thiên Can và Thập nhị Địa Chi được đặt ra vào thời vua Hiên Viên Huỳnh Đế. Vua Huỳnh Đế sai ông Đại Nhiễu chế ra Thập Thiên Can và Thập nhị Địa Chi để tính thời gian mà làm lịch cho dân dùng.

■ Tại sao dùng con số 10 để chế ra Thập Thiên Can?

Bởi vì trước thời vua Huỳnh Đế là vua Phục Hy tìm ra được Hà đồ, do quan sát các chấm đen trắng trên lưng con Long Mã xuất hiện ở sông Hoàng Hà mà lập thành. Nhờ đó, vua Phục Hy chế ra Tiên Thiên Bát Quái.

Trên Hà đồ có tất cả 10 con số chia ra đứng theo Ngũ Hành. Do đó, người xưa dùng con số 10 để chế ra Thập Thiên Can.

■ Tại sao dùng con số 12 để chế ra Thập nhị Địa Chi?

Bởi vì khoa Thiên văn thời xưa nhận thấy Mặt trời quay xung quanh Trái đất giáp một chu kỳ gọi là 1 năm, Mặt trăng quay chung quanh Trái đất giáp một chu kỳ là một tháng. Một năm có 12 tháng, tức là một năm có 12 chu kỳ quay của Mặt trăng. Do đó, người xưa dùng số 12 chế ra Thập nhị Địa Chi để gọi tên của 12 tháng.

Khi đã có Thập Thiên Can và Thập nhị Địa Chi rồi thì người xưa cho phối hợp lại để tính năm, tháng, ngày, giờ.

Sự phối hợp khởi đầu là: GIÁP TÝ, tức là lấy 2 chữ đầu của Can và Chi ghép lại.

Ghép tiếp theo là: Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão,..........

Ghép như thế thì sau 60 lần sẽ trở lại chữ: GIÁP TÝ.

Vậy chu kỳ phối hợp Thập Thiên Can và Thập nhị Địa Chi là 60.

Theo lịch của nhà Hạ (vua Hạ Võ) qui định đặt tên cho tháng Giêng là tháng Dần, gọi là Kiến Dần, bởi vì làm lịch là để cho dân dùng biết mùa màng thời tiết gieo trồng, mà Nhơn sanh ư Dần nên lấy chữ Dần làm tháng giêng đầu năm.

Kế tiếp, tháng 2 là tháng Mão, tháng ba là Thìn,......, tháng 11 là Tý, tháng 12 là Sửu. Tháng giêng năm sau là Dần.

Mỗi một Địa Chi được tượng trưng bằng một con vật rất gần gũi với con người, kể ra:

Tháng giêng gọi là tháng Dần, tượng trưng: con Cọp.
Tháng hai gọi là tháng Trâu, tượng trưng: con Mèo.
Tháng ba gọi là tháng Thìn, tượng trưng: con Rồng.
Tháng tư gọi là tháng Tỵ, tượng trưng: con Rắn.
Tháng năm gọi là tháng Ngọ, tượng trưng: con Ngựa.
Tháng sáu gọi là tháng Mùi, tượng trưng: con .
Tháng bảy gọi là tháng Thân, tượng trưng: con Khỉ.
Tháng tám gọi là tháng Dậu, tượng trưng: con .
Tháng chín gọi là tháng Tuất, tượng trưng: con Chó.
Tháng mười gọi là tháng Hợi, tượng trưng: con Heo.
Tháng 11 gọi là tháng , tượng trưng: con Chuột.
Tháng 12 gọi là tháng Sửu, tượng trưng: con Trâu.