Thiện ác

善惡

A: Good and bad.

P: Bon et mauvais.

Thiện: Lành, tốt, trái với ác; giỏi khéo. Ác: trái với thiện, tức là Bất thiện. Nếu Thiện là tốt thì Ác là xấu, nếu Thiện là lành thì Ác là hung dữ.

Từ xưa tới nay, các nhà tôn giáo thường định nghĩa Thiện và Ác như sau:

- Thiện là thuận ích, hao tổn là Ác.

- Thiện là thuận lý, trái lý là Ác.

- Thiện là khi có sức chiêu cảm cái quả báo vui sướng, trừ tuyệt những mối đau khổ và phiền não. Điều trái lại là Ác.

- Thiện thì vô tội, Ác là có tội.

- Thi hành đúng theo Ngũ Giới Cấm thì có được Ngũ Thiện. Làm trái với Ngũ Giới Cấm thì được Ngũ Ác.

Cho nên Ngũ Thiện là: Bất sát sanh, Bất du đạo, Bất tà dâm, Bất tửu nhục, Bất vọng ngữ. Ngũ Ác là: Sát sanh, Du đạo, Tà dâm, Tửu nhục, Vọng ngữ.

- Nói thêm chi tiết thì con người chúng ta có Thập ThiệnThập Ác, do thân, Khẩu, Ý tạo ra. Thân tạo ra 3, Khẩu tạo ra 4, Ý tạo ra 3, kể ra:

Thập Ác:

- Sát sanh
- Du đạo
- Tà dâm
- Vọng ngữ
- Lưỡng thiệt
- Ác khẩu
- Ỷ ngữ
- Tham
- Sân
- Si.

Trái với Thập Ác là Thập Thiện.

Tôn chỉ của các tôn giáo chơn chánh nói chung là:

Chư ác mạc tác,
Chúng thiện phụng hành.

Nghĩa là:

- Các điều ác không làm,
- Các điều thiện vâng làm.

- Đạo Cao Đài định nghĩa Thiện và Ác căn cứ vào định luật tiến hóa của Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.

Định luật tiến hóa chi phối toàn cả Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật: mỗi địa cầu, mỗi tinh cầu, mỗi vật, dù vô hình hay hữu hình đều tiến hóa, và tiến hóa mãi mãi trên con đường vô tận, để càng lúc càng hoàn hảo tốt đẹp, càng lúc càng văn minh.

Như vậy, gọi Thiện là tất cả những gì giúp cho sự tiến hóa của chúng sanh, tức là làm cho con người hạnh phúc, vui mừng; làm cho loài vật phát triển tốt đẹp.

Gọi Ác là tất cả những gì trái lại, tức là làm trở ngại sự tiến hóa của chúng sanh, làm cho chúng sanh không tiến hóa hay thoái hóa.