Thiện đức - Thiện công - Thiện ngôn
ID020241 - Tự Điển : Thiện đức - Thiện công - Thiện ngôn 🖶 Print this Tự Điển
dictionary : Cao Đài Tự Điển - Vần TH
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Thiện đức - Thiện công - Thiện ngôn

善德 - 善功 - 善言

Thiện: Lành, tốt, trái với ác; giỏi khéo. Đức: ở đây chỉ cái đức tánh của mỗi người. Công: nỗi vất vả làm việc. Ngôn: lời nói.

Thiện đức là tánh đức lành, muốn giúp người hoạn nạn.

Thiện công là công việc lành, đó là công quả.

Thiện ngôn là lời nói lành, giúp người an vui.

Đức Phạm Hộ Pháp giải thích về: Thiện đức, Thiện công, Thiện ngôn, cho các thợ hồ công quả xây cất Tòa Thánh ngày 26-10-Bính Tý, dl 37-11-1936), xin trích ra sau đây:

"Đức Hộ Pháp nói: - Bần đạo hỏi mấy em về đây làm công quả tự mình đi hay là có ai biểu?

Mấy vị công thợ trả lời: - Mấy con là người hiến thân Phước Thiện thì trọn quyền Hội Thánh sai khiến. Khi nghe Châu Tri mộ công quả, mấy con mới vâng lịnh ông Đầu Họ biểu về đây.

Đức Ngài nói: - Điều đó tạo công lập vị hay chuộc quả, đứng vào hàng "giáo nhi hậu thiện", là nghe lịnh làm theo.

Nếu có em nào tâm đức minh mẫn, được "bất giáo nhi thiện" là thiện công thiện ngôn đó vậy. Hạng nầy gọi là phi thường, khỏi vào nhà Tịnh họ cũng đoạt pháp được, là vì họ sẵn là nguyên nhân, do hiểu biết mà làm, họ tự tạo âm chất, thật hành điều nghĩa, điều thiện, là Thể pháp, tức nhiên có thể đoạt Bí pháp, có điều thiếu một việc, muốn đắc pháp phải có chơn sư khai khiếu mới trọn vẹn được, đó mới gọi là "thượng phẩm chi nhơn".

Còn mấy em đây là "trung phẩm chi nhơn giáo nhi hậu thiện", mấy em tạo thiện đức được là biết nghe lời Hội Thánh.

Người ta có tài thì làm việc hay, còn mình dở thì làm việc thường. Bần đạo tỉ dụ một việc thường để mấy em dễ hiểu: Phận mình dốt thì làm theo dốt. Muốn tạo Thiện đức, Thiện công, Thiện ngôn là như vầy: Mình nghe đâu bị tai nạn khốn khổ thì trong đêm ấy nằm tính và thương xót, nghe chỗ đó bị tai nạn, mình định sáng ngày rủ anh em hay tự mình đi, dầu sáng ngày tằm sắp chín hoặc có mối lợi gì đó cũng bỏ, đi đến trợ giúp việc tai nạn đó, là Thiện đức, nghĩa là khi mình tính.

Khi đến nói như vầy: Thưa anh, tôi nghe anh bị tai nạn, tôi đến để xin phép giúp anh một ngày, hoặc là vác một cái cây, hoặc là giúp một đồng bạc, vậy xin anh vui lòng cho tôi giúp với một nghĩa mọn.

Khi mình nói là Thiện ngôn, khi mình làm là Thiện công. Chớ không phải ỷ có của rồi nói sỗ sàng: Đây tôi cho anh một đồng bạc mua gạo ăn đỡ đói. Như vậy là chưa thiện ngôn.

Mấy em đừng có phân bì việc lập công với Đạo, bực Chức sắc mà không làm được còn mình là tín đồ làm gì!

Mấy em phải hiểu rằng, cái tâm đức từ thiện ở cửa Đạo không phân biệt lớn hay nhỏ, dầu nhỏ lớn đều làm được. Hễ ai có nguyên căn thì làm được."