Phần VI: Cơ chế Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
ID025465 - Phần : Phần VI: Cơ chế Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ 🖶 Print this Phần
Thánh Ngôn : Thánh Ngôn Tuyển Tập
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Long Thành (1942-1998)

 

Hiệp Thiên Đài

1. Hiệp Thiên Đài là nơi Thầy ngự.

Hiệp Thiên Đài là nơi Thầy ngự cầm quyền thiêng liêng mối Đạo. Hễ Đạo còn thì Hiệp Thiên Đài vẫn còn.

Thầy đã nói Ngũ Chi Đại Đạo bị qui phàm là vì khi trước Thầy giao chánh giáo cho tay phàm, càng ngày càng xa Thánh giáo mà lập ra phàm giáo, nên Thầy nhứt định đến chính mình Thầy đặng dạy dỗ các con mà thôi, chớ không chịu giao chánh giáo cho tay phàm nữa.

Lại nữa Hiệp Thiên Đài là nơi của Giáo Tông đến thông công cùng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế Giới, Lục Thập Bát Địa Cầu, Thập Điện Diêm Cung mà cầu siêu cho cả nhơn loại. Thầy đã nói sở dụng thiêng liêng, Thầy cũng nên nói sở dụng phàm trần của nó nữa. Hiệp Thiên Đài dưới quyền Hộ Pháp chưởng quản, tả có Thượng Sanh, hữu có Thượng Phẩm. Thầy lại chọn Thập Nhị Thời Quân chia ra làm ba :

2. Phần của Hộ Pháp, chưởng quyền về Pháp thì :

. Hậu là Bảo Pháp (*).
. Đức là Hiến Pháp.
. Nghĩa là Khai Pháp.
. Tràng là Tiếp Pháp.

Lo bảo hộ luật Đời và luật Đạo chẳng ai qua luật mà Hiệp Thiên Đài chẳng biết.

(*) Bảo là giữ gìn; Hiến là dâng; Khai là mở (bày ra); Tiếp là rước.

3. Thượng Phẩm thì quyền về phần Đạo, dươi quyền :

. Chương là Bảo Đạo.
. Tươi là Hiến Đạo.
. Đãi là Khai Đạo.
. Trọng là Tiếp Đạo (**)

Lo về phần Đạo nơi Tịnh Thất, mấy Thánh Thất, đều xem sóc chư môn đệ Thầy, binh vực chẳng cho ai phạm luật đến khổ khắc cho đặng.

(**) Ông Cao Đức trọng đắc phong Tiếp Đạo sau hết

4. Thượng sanh thì lo về phần Đời :

. Bảo Thế thì Phước.
. Hiến Thế: Mạnh.
. Khai Thế: Thâu.
. Tiếp Thế: Vĩnh.

Thầy khuyên các con lấy tánh vô tư mà hành Đạo, Thầy cho các con biết trước rằng: Hễ trọng quyền thì ắt có trọng phạt. (TNHT. QI. Tr 98-99-100)

 

Cừu Trùng Đài

GIÁO TÔNG nghĩa là anh cả các con, có quyền thay mặt Thầy mà dìu dắt các con trong đường Đạo và đường Đời. Nó có quyền về phần xác chớ không có quyền về phần hồn. Nó đặng phép thông công cùng Tam Thập Lục Thiên và Thất Thập Nhị Địa Giái đặng cầu rỗi cho các con, nghe à ! Chư Môn Đệ tuân mạng !

CHƯỞNG PHÁP của ba phái là Đạo, Nho, Thích. Pháp luật Tam Giáo tuy phân biệt nhau, song trước mặt Thầy vốn coi như một. Chúng nó có quyền xem xét luật lệ trước buổi thi hành, hoặc là nơi Giáo Tông truyền xuống, hay là nơi Đầu Sư dâng lên. Như hai đàng chẳng thuận thì chúng nó phải dâng lên cho Hộ Pháp đến "Hiệp Thiên Đài" cầu Thầy giáng xuống mà sửa lại, hay là tùy ý mà lập luật lại. Vậy chúng nó có quyền xem xét kinh điển trước khi phổ thông. Như thảng có " Kinh Luật" chi làm hại phong hóa, thì chúng nó phải trừ bỏ chẳng cho xuất bản. Buộc cả tín đồ phải vùa sức mà hành sự trước mặt luật đời. Thầy khuyên các con ráng xúm nhau vùa giúp chúng nó. Mỗi Chưởng Pháp có ấn riêng. Ba ấn phải có đủ trên mỗi luật, mới đặng thi hành. Chư Môn Đệ tuân mạng !

ĐẦU SƯ có quyền cai trị phần Đạo và phần Đời của chư môn đệ. Nó đặng quyền lập luật, song phải dâng lên cho Giáo Tông phê chuẩn. Luật lệ ấy, phải xem xét một cách nghiêm nhặt, coi phải có ích cho nhơn sanh chăng. Giáo Tông buộc phải giao cho Chưởng Pháp xét nét trước khi phê chuẩn.

Chúng nó phải tuân mạng lịnh Giáo Tông, làm y như luật lệ Giáo Tông truyền dạy. Như thảng luật lệ nào nghịch với sự sanh hoạt của nhơn sanh, thì chúng nó đặng phép nài xin hủy bỏ.

Thầy khuyên các con phải thương yêu và giúp đỡ lấy nó. Thầy lại dặn các con : như có điều chi cần yếu thì khá nài xin nơi nó.

Ba chi tuy khác, chớ quyền luật như nhau. Như luật lệ nào Giáo tông đã truyền dạy, mà cả ba đều ký tên không tuân mạng, thì luật lệ ấy phải trả lại cho Giáo Tông, Giáo Tông truyền lịnh cho Chưởng Pháp xét nét lại. Chúng nó có ba cái ấn riêng nhau, mỗi tờ giấy chi chi phải có ấn mới thi hành nghe à ! Chư Môn Đệ tuân mạng !

PHỐI SƯ mỗi phái là 12 người, cộng là 36 người ; trong 36 vị ấy có ba vị Chánh Phối Sư. Ba vị ấy đặng thế quyền cho Đầu Sư mà hành sự ; song chẳng đặng quyền cầu phá luật lệ, nghe à ! Chư Môn Đệ tuân mạng !

GIÁO SƯ có 72 người, trong mỗi phái là 24 người. Giáo sư là người để dạy dỗ chư môn đệ trong đường Đạo với đường Đời. Buộc chúng nó lo lắng cho các con nhu anh ruột lo cho em. Chúng nó cầm sổ bộ của cả tín đồ, chúng nó phải chăm nom về sự tang, hôn của mỗi đứa.

Như tại Châu Thành lớn, thì mỗi đứa đặng quyền cai quản cúng tế Thầy như thể Đầu Sư và Phối sư. Chúng nó đặng quyền dâng sớ cầu nài về luật lệ làm hại nhơn sanh, hay là cầu xin chế giảm luật lệ ấy. Chúng nó phải thân cận với mỗi môn đệ như anh em một nhà cần lo giúp đỡ ! nghe à !… Chư Môn Đệ tuân mạng !

GIÁO HỮU là người để phổ thông chơn đạo của Thầy. Chúng nó đặng quyền xin chế giảm luật lệ Đạo. Ba ngàn Giáo Hữu chia ra đều, mỗi phái là 1000 ; chẳng nên tăng thêm hay là giảm bớt. Chúng nó đặng phép hành lễ khi làm chủ các chùa trong mấy tỉnh nhỏ.

LỄ SANH là người có hạnh, lựa chọn trong chư môn đệ là hành lễ. Chúng nó đặng quyền đi khai đàn cho mỗi tín đồ, Thầy dặn các con hiểu rõ rằng Lễ sanh là người Thầy yêu mến, chẳng nên hiếp đáp chúng nó. Như vào đặng hàng Lễ Sanh, mới mong bước qua hàng chức sắc. Kỳ dư Thầy phong thưởng riêng, mới đi khỏi ngả ấy mà thôi, nghe à ! Chư Môn Đệ tuân mạng !

- Đầu Sư muốn lên Chưởng pháp thì nhờ ba vị công cử nhau.
- Phối Sư muốn lên Đầu Sư thì nhờ 36 vị kia công cử.

- Giáo Sư muốn lên Phối Sư thì nhờ 72 vị kiaxúm nhau công cử.
- Giáo Hữu muốn lên Giáo Sư thì nhờ 3000 vị kia xúm nhau công cử.
- Lễ Sanh muốn lên Giáo Hữu thì nhờ cả Lễ Sanh xúm nhau công cử.
- Môn đệ muốn lên Lễ Sanh thì nhờ cả môn đệ xúm nhau công cử.

Kỳ dư Thầy giáng cơ phong cho người nào thì mới ra khỏi luật lệ ấy mà thôi.

Còn Giáo Tông thì hai phẩm Chưởng Pháp và Đầu Sư tranh đặng, song phải chịu cho toàn môn đệ công cử mới đặng, kỳ dư Thầy giáng cơ ban thưởng mới ra khỏi luật lệ ấy mà thôi. Chư Môn Đệ tuân mạng ! (TNHT. QI. Tr 62-63-64-65)

 

Cừu Trùng Đài Nữ Phái

Thánh giáo của ĐỨC LÝ THÁI BẠCH:

Hội Thánh nghe Lão ban sắc phục cho nữ phái; nghe và từ đây xem sắc tốt ấy mà hành lễ theo đẳng cấp.

Nữ phái phải tùng Đầu Sư nữ phái, song tùng quyền của Giáo Tông và Chưởng Pháp. Đầu Sư nữ phái cũng phải chịu công cử theo luật Hội Thánh ban hành, theo luật Hội Thánh phân xử đường Đời và đường Đạo. Đầu Sư nữ phái mặc một Đạo phục y như Đạo phục Đầu Sư nam phái, phải đội một Ni-Kim-Cô như các vải chùa, toàn hàng trắng chín giải, áo có thêu bông sen. Cái Kim- Cô có choàng từ đầu tớùi gót. Đội mão Phương Thiên, trên chót Phương Thiên ngang đầu tóc có Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh-Khí, đi giày vô ưu màu trắng, trên chót có chữ Hương, nghe à !

Phối Sư cũng mặc in như vậy, song không có mão Phương Thiên, áo ba giải nhưng trước ngực có Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh- Khí, nghe à !

Giáo Sư mặc áo ba giải, đội Kim-Cô bằng hàng trắng không đi giày.

Giáo Hữu mặc Đạo phục như Giáo Sư, đầu không đội mão mà giắt một bông sen, trên bông sen có Thiên Nhãn Thầy.

Lễ Sanh nữ phái mặc như Giáo Hữu, nhưng choàng ngang trên đầu một đoạn vải mỏng, cột ra sau ót, thả một mí dài, một mí ngắn ; ngay đầu tóc có giắt một bông sen. ( TNHT. QI. Tr 94-95 )

 

Quyền Vạn Linh

1. Càn Khôn Thế Giới chỉ có hai quyền.

"Các con phải nhớ rằng toàn càn khôn thế giới chỉnh có hai quyền: trên là quyền hành Chí Tôn của Thầy, dưới là quyền hành của sanh chúng. Thầy đã lập hình thể hữu vi của Thầy, nghĩa là Hội Thánh của Đại Đạo ngày nay rồi thì Thầy cũng phải ban quyền hành trọn vẹn của Thầy cho hình thể ấy đặng đủ phương tận độ chúng sanh, còn các con cả thảy đều đứng vào hàng sanh chúng, dưới quyền hành chuyển thế của đời, nghĩa là toàn nhơn loại đồng quyền cùng Thầy mà tạo hóa vạn linh vốn là con cái của Thầy, vậy thì vạn linh cũng có thể đoạt vị vào hàng Thần, Thánh, Tiên, Phật đặng."

2. Quyền Vạn Linh và Chí Linh hiệp một Đạo mới ra thiệt tướng.

Thầy nói rõ : quyền Chí Tôn là Thầy, quyền vạn linh là sanh chúng, ngày nào quyền lực Chí Tôn đặng hiệp một cùng vạn linh thì Đạo mới ra thiệt tướng. Thầy đã ban quyền hành Chí Tôn của Thầy cho hai đứa làm đầu Hội Thánh là Giáo Tông cùng Hộ Pháp. Vậy thì quyền hành Chí Tôn của Thầy đặng trọn vẹn khi Giáo Tông cùng Hộ Pháp hiệp một. Còn cả nhơn loại thì là quyền lực vạn linh. Quyền hành Chí Tôn của Thầy duy có quyền hành Vạn Linh đối phó mà thôi.

Thái Bạch hằng giận các con rằng : mọi điều chi nó đã hiệp đồng cùng Hộ Pháp mà ban hành, thì các con lại còn khi lịnh mà xem rẻ rúng. Vậy thì từ đây hễ có mạng lịnh chi đã đủ hai đứa nó hạ truyền thì các con phải hội đủ nhơn sanh, Hội Thánh và Thượng Hội mà xét nét cho cặn kẻ phân minh, đặng thi hành phận sự. ( TNHT. QII. Tr 81-82 )

* Chú thích của người chép về tổ chức quyền Vạn Linh:

Quyền Vạn Linh là quyền lực của ba tổ chức nhân sự:

- Hội nhơn sanh.
- Hội Thánh.
- Và Thượng Hội.

Ba hội nầy nhóm riêng, khi duyệt xét một vấn đề gì, nếu cả ba hội đều đồng ý, thì ý kiến chung ấy mới gọi là quyết nghị của quyền Vạn Linh.

a. Đại Hội Nhơn Sanh

Gồm đại biểu của tín đồ, chức việc, Bàn Tri Sự chọn theo lối công cử và chứ sắc phẩm Lễ Sanh tham dự.

b. Đại Hội Hội Thánh

Gồm chưa sắc phẩm Giáo Hữu, Giáo Sư, Phối Sư, Chánh Phối Sư, Thập Nhị Thời Quân tham dự.

c. Thượng Hội

Gồm các chức sắc cao cấp : Giáo Tông, Chưởng Pháp, Đầu Sư, Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh tham dự.

(Tóm tắt theo tài liệu Chánh Trị Đạo, Khai Pháp Trần Duy Nghĩa. HộiThánh xuất bản 1974 )

 

Thưởng phạt của Quyền Thiêng Liêng

1. Trách nhiệm nặng nề của Giáo Tông vô vi.

"Ngán thay cho cái trách nhiệm nặng nề, vì trót đã hứa lời cùng Từ Bi ra tế độ, hễ trách phận đàn anh, tuy nhiên lấy oai quyền khuyến nhủ trừng trị mấy em mặc dầu chớ cũng nên hiểu tâm của mỗi đứa. Lão chỉ sợ một điều là Lão không phương gần kẻ tà tâm, toan dạy dỗ. Còn như gần kẻ đạo đức chơn thành thì rất dễ, song chẳng cần ích, tâm Thánh là ngôi vị của Đấng thiêng liêng, không lo trau dồi thì cũng còn tự nhiên vì vẻ đẹp ; còn vẻ đẹp thiên nhiên đã mang nặng thi hài nơi khổ cảnh nầy mà không mất thì đoạt vị đã đặng rồi, lại cần ai nâng đỡ. Ấy vậy, Lão đến mà gieo hột Thánh cốc nơi lòng của kẻ tà tâm, mong cho đơm bông kết quả đặng liệu thế hồi tâm, chớ chẳng phải đến rước người hiền ngõ."

2. Giáo Tông vô vi phò trợ Hội Thánh hữu hình.

Lão đây cũng vậy, mà chư hiền hữu cũng vậy, chúng ta đã đến tạo thế sửa đời vẫn là phận sự của chúng ta đã hẳn, phải biết phận mình mới an tâm, liệu thế chuyển xây, đã có khó ắt có hay, đã có gay thì có thuận, bền chí xem mảy mún cơ đời ... Lão nhứt định đứng chung vai đâu cật cùng chư hiền hữu, chư hiền muội mà chia bớt khổ tâm.

3. Bí ẩn trong sự thưởng phạt Thiêng Liêng.

Lão nên nói rằng : cơ thưởng phạt của Thiên thơ thì lắm điều trái hẳn với trí người tưởng tượng, có nhiều khi thưởng hữu hình mà làm hình phạt vô vi, mà cũng có khi lấy hình phạt hữu vi mà thưởng thiêng liêng công nghiệp.

Vậy cái thưởng và cái phạt của Lão dùng điều đình Thánh giáo, nhiều khi chư hiền hữu, chư hiền muội không phương thấy lý đặng. Nên khá dè chừng, đừng vội luận nhảm, bàn khùng mà mang tội thiêng liêng rất uổng, nghe ! (TNHT. QII. Tr.77-78)