Phần VII: Phương tu Đại Đạo
ID025471 - Phần : Phần VII: Phương tu Đại Đạo 🖶 Print this Phần
Thánh Ngôn : Thánh Ngôn Tuyển Tập
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Long Thành (1942-1998)

 

Khách trần

1. Trần là cõi khổ.

Cõi trần là chi ?

Khách trần là sao ?

Sao gọi là khách ?

Trần là cõi khổ, để đọa bậc Thánh, Tiên có lầm lỗi. Ấy là cảnh sầu để trả xong quả, hoặc về ngôi cũ, hoặc trả không xong quả, phải mất cả chơn linh là luân hồi, nên kẻ bị đọa trần gọi là khách trần. (TNHT. QII. Tr 3)

2. Khách trần hay luyến tục.

Đạo Trời khai ba lượt, khách tục lỗi muôn phần, khách trần ai vẫn lấy sự vui vẻ vô vị chốn sông mê nầy mà quên trọn các điều đạo đức của các Đấng Thánh trước Hiền xưa. Chung đỉnh mảng tranh giành, lợi danh thường chác buộc, kiếp phù sanh không mấy lát, đời giả dối chẳng là bao. Sanh đứng làm người, trót đã mang vào mình một vai tuồng đặc biệt, đã chẳng lo bước hành trình cho xong mà đắp bồi nợ mảnh hình hài, ngọn rau tấc đất, lại chác lắm điều phiền não ưu sầu, lấy Thánh đức gọi là chơi, mượn hành tàng vô nghĩa mà làm cho vừa lòng ái mộ bất lương. Cái xuân kia chẳng đợi người mà bước đời càng gay trở, lần qua thỏ lặn ác tà, bóng thiều quang nhặc thúc, con đường hy vọng chẳng biết đâu là tột cùng mà bước đời xem đà mòn mỏi, sự thác vô tình sẽ đến mà vẽ cuộc sanh ly pha màu tử biệt, làm cho sự vui vẻ giàu sang danh vọng đều thành ra một giấc huỳnh lương, rồi đây vĩnh biệt ngàn năm, tội tình muôn kiếp.

Đài Nghiệt cảnh là nơi rọi sáng các việc lỗi lầm, bước luân hồi sẽ dẫn vào nơi u khổ cùng sầu mà đọa đày đời đời kiếp kiếp. Ấy là buổi chung qui của khách trần đó. (TNHT. QI. Tr.90)

3. Đạo dìu người thoát khổ.

Đạo là gì ?

Sao gọi Đạo ?

Đạo tức là con đường để cho Thánh, Tiên, Phật đọa trần do theo mà hồi cựu vị. Đạo là đường của các nhơn phẩm do theo mà lánh khỏi luân hồi. Nếu chẳng phải do theo Đạo, thì các bậc ấy đều lạc bước mà mất hết ngôi phẩm. Đạo nghĩa lý rất sâu xa, nhưng phải hiểu trước bao nhiêu đó, rồi mới học các nghĩa huyền bí khác cho đích xác đặng. . . ( TNHT. QII. Tr 3 )

Nguồn Tiên, Đạo Thánh dìu bước nhơn sanh tránh tội lỗi, lìa nẻo vạy, bước đường ngay, mà lần vào nơi cực lạc an nhàn, rừng tòng suối lặng dộng thẳm non xanh, để mình vào bực thanh cao, thoát khỏi chốn luân hồi ràng buộc ; ai mau bước đặng nhờ thân, ai luyến trần cam chịu khổ. Đạo Trời mầu nhiệm, khá biết xét mình sau khỏi điều tự hối.

Chúng sanh khá biết cho ! (TNHT. QI. Tr 90 )

 

Sống theo ý trời

1. Tu là chi ?

Chư nhu, chư tín nữ khá nghe.

Nếu cả thế gian nầy biết tu thì thế gian có lẽ cãi lý Thiên Đình mà làm cho tiêu tai, tiêu nạn đặng, huống lựa mỗi cá nhân biết tu thì là Thiên Đình cầm bộ Nam tào cũng chẳng ích chi. Tu là chi ? Tu là trau dồi đức tính cho nên hiền, thuận theo ý Trời đã định trước.

2. Tại sao phải tu ?

Nếu thế gian dữ thì thế nào đặng bảo toàn, còn mong mỏi gì đặng bền vững. Cá nhân dữ thì thế nào bảo toàn tánh mạng. Đã bị tội cùng Thiên Đình thì bị hành phạt. Nơi kiếp sống nầy nếu không biết tu, buổi chung qui sẽ mắc tội nơi Thiên đình. Phẩm vị Tiên, Phật để thưởng cho kẻ lành mới đáng phẩm vị, chớ chẳng phải của để treo tham cho thế gian phòng toan đạt đặng.

3. Kinh điển chỉ là phương tiện giúp người tu.

Kinh điển giúp đời siêu phàm nhập Thánh chẳng khác chi đũa ăn cơm, chẳng có đũa kẻ có cơm bốc tay ăn cũng đặng. Các con coi kinh điển lại, rồi thử nghĩ lại sự công bình thiêng liêng mà suy gẫm cho hay lẽ phải. Thầy khuyên các con theo sau Thầy mà đến phẩm vị mình thì hay hơn tuôn bờ lướt bụi đi quanh kiếm quất, nghe à ! (TNHT. QII. Tr 5)

 

Trường thi công quả và Đức tin tuyệt đối.

1. Đời là trường thử thách để phân biệt giả chơn.

Sự chơn thật và sự giả dối, mắt phàm các con đâu có thế phân biệt đặng ; một trường thử Thánh, Tiên, Phật vì vậy mà phải lập nơi thế gian nầy ; nếu buổi sanh tiền dầu cho một kẻ phàm tục tội lỗi biết đặng cơ quan mầu nhiệm của Đấng Chí Tôn là Trời đã sắp đặt, thì cũng chẳng dám gây ra tội lỗi mà thôi, lại có thể đắc Đạo mà gấm ghé phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật đặng nữa, huống lựa là các đấng ấy, phải bị đọa trần mà biết mình hằng giữ, thì mầu nhiệm thử Thần,Thánh, Tiên, Phật chẳng có nghĩa lý gì hết.

2. Trường thi công quả để đắc Đạo.

. . . Thầy hằng nói cùng các con rằng : một trường thi công quả, các con muốn đến đặng nơi Cực Lạc thì phải đi tại cửa nầy mà thôi. Thầy lại khuyên nhủ các con rằng : Thầy đã đến chung cùng với các con, các con duy có tu mà đắc Đạo, phải đoái lại bá thiên vạn ức nhơn sanh còn phải trầm luâm nơi khổ hải, chưa thoát khỏi luân hồi, để lòng từ bi mà độ rỗi.

3. Đức tin nơi Thầy.

Nay tuy các con chẳng thấy đặng hành vi mầu nhiệm mà chính mình Thầy đã đến nói, các con cũng nên tin nơi Thầy mà cho rằng lời Thầy dạy là chơn thật. Nếu các con đợi đến buổi chung qui, hồn ra khỏi xác mới thấy cơ mầu nhiệm đặng, thì chừng ấy đã muộn rồi.

(TNHT. QI. Tr 34-35)

 

Luật công bình thiêng liêng

1. Nhân loại đắm chìm trong luyến ái tà mị.

Con biết rằng Thầy thương yêu nhân loại là dường nào chưa ? Những điều ngăn trở đều do nơi tiền khiên của cả chúng sanh. Đã vào trọn một thân mình nơi ô trược thì Thầy đây cũng khó mà rửa với một gáo nước mà đặng trong sạch. Nhơn loại đã thâm nhiễm vào tình luyến ái tà mị trên mười ngàn năm thì thế nào cổi thánh đức trong một lúc chẳng tới một năm(*) cho trọn lành đặng.

(*) Đức Chí Tôn dạy bài nầy ngày 22/09/1926

2. Đối lực chánh tà.

Rất đỗi Thầy là bực Chí Tôn đây mà còn bị chúng nó mưu lén cho qua Thánh ý Thầy thay, một đàng trì, một đàng kéo, thảm thay các con chịu ở giữa.

Thầy dạy các con một điều là biết tranh đấu cùng Thầy ; hễ nó tấn thì mình chống, cân sức cho bằng hay là trỗi hơn mới đắc thắng. Các con chịu nỗi thì Đạo thành, còn các con ngã thì Đạo suy. Liệu lấy !

3. Luật công bình thiêng liêng.

Cầm cả quyền hành vô lượng nơi tay. Thầy ngó một cái cũng đủ tiêu diệt nó(**) đặng, nhưng mà phép công bình thiêng liêng chẳng phải nên vậy. Ấy cũng là cơ mầu nhiệm cho các con có thế lập công quả.

Nơi Bạch Ngọc Kinh hơn sáu chục năm trước chư Thần, Thánh, Tiên, Phật thấy đại nộ Thầy nên ra tình nguyện hạ thế cứu đời.

Thầy coi bọn ấy lại còn làm tội lỗi hơn kẻ phàm xa lắm.

Thầy nói cho các con biết : Dầu một vị Đại La Thiên Đế xuống phàm mà không tu, thì cũng khó trở lại địa vị đặng. Các con nghe à ! ( TNHT. QI. Tr 51 )

(**) Nó : Chỉ sự luyến ái tà mị (lời chú của soạn giả)

4. Đức tin tuyệt đối và lòng đại hùng, đại lực, đại từ bi.

Thầy khuyên các con nhớ hoài rằng : Thầy của các con là Ông Thầy Trời, nên biết một ổng mà thôi, thì đủ, nghe à !

Ngôi vị Bạch ngọc Kinh chẳng ưa chứa kẻ hung hăng mà lạ một điều là kẻ hung hăng đạo đức thường phá cửa lún đặng vào, địa vị phần nhiều đoạt bởi kẻ ấy.

Các con hiền mà dữ, các con yếu mà mạnh, các con nhỏ nhoi mà là quyền thế, các con nhịn nhục mà các con hành phạt, cử chỉ các con khá tập sao cho nghịch với cử chỉ thế tình, thì là gần ngôi Tiên, Phật đó. (TNHT. QI. Tr 49)

 

Đức hạnh

1. Minh tâm kiến tánh.

Đạo đức cần trau nơi tâm là chỗ chẳng ai thấy được. Rèn trau cho thuần mỹ tánh, rồi mới lần đến bề ngoài, trọn hết cả ngoài trong thì chừng ấy thân hình tâm trí chắc khư, nào ai lay chuyển cho được. Lo ngoài quên trong, che bề trong trau bề ngoài .. . cũng như có xác không hồn, chuộng hữu hình mà quên các huyền bí chơn truyền. Than ôi ! có hình thể xương thịt mà chơn hồn phưởng phất nơi xa thì cái thân vô dụng ấy trơ trơ như khối đá dựa đường như khúc cây bên trủng. Có đèn dầu đầy mà thiếu hơi lửa nhen lên thì cũng phải mờ mịt thâm u, trông chi soi sáng.

Ấy vậy nên biết mà răn mình, cái tâm là vật người không thấy được, khá dồi trau nó trước. Nên hiểu kỹ lời, bằng chẳng thấu thì tu có ích chi.

Nhàn Âm Đạo Trưởng ( TNHT. QII. Tr 46-47 )

2. An tâm, tỉnh trí, tắt lửa lòng, không kiêu căng tự đại.

Muốn an tâm tỉnh trí và đè nén lửa lòng cần phải có một nghị lưc vô biên, một tâm trung quảng đại thì mới khỏi bực tức với những trò đã vì mạng lịnh thiêng liêng phô diễn ở nơi thâm hiểm nặng nề nầy.

Than ôi ! Cái nư giận thường làm đổ nát những công sáng tạo đã qua, không biết bao nhiêu vĩ đại.

Thái Thượng Đạo Tổ . (TNHT. QII. Tr 92-93 )

"Tánh kiêu căng tự đại là hang thẳm chôn lấp trọn thân hình, hồn phách đó, nên ghi nhớ mà lập tâm sửa mình"

Quan Thánh Đế Quân. (TNHT. QII. Tr 74 )

3. Hòa ái, tương thân, đồng tâm, hiệp chí.

Đạo quí là tại Hòa. Các em nghĩ thử mà coi, tạo Thiên lập Địa cũng bởi âm dương hòa hiệp, sanh hóa muôn loài cũng nơi một chữ hòa, đến đỗi như thân con người có tạng , có phủ. Tạng phủ ấy nếu chẳng hòa thì con người chẳng hề sống bao giờ. Kịp đến tâm hồn bất hòa thì thất tình lục dục đều phát khởi tranh ngôi với thần lương tâm, nếu kém lực thì con người ấy duy có sanh hoạt trong vòng vật dục chớ chẳng hề biết Thiên lý là gì ?

. Còn gia đình chẳng hòa, thì cha con mích nhau, chồng vợ lìa tan, anh em ly tán.

. Còn trong luân lý chẳng hòa, thì dân cư bất mục, nước chẳng hòa thì sanh ly loạn.

. Còn cả thế giới bất hòa thì nhơn loại đấu tranh.

Vì vậy Thiếp khuyên các em dĩ hòa vi Tiên.

Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai. (TNHT. QII. Tr 85-86 )

LỜI DẠY CỦA ĐỨC CHÍ TÔN
Chẳng quản đồng tông mới một nhà.
Cùng nhau một Đạo tức một cha.
Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi.
Dạy lẫn cho nhau đặng chữ Hòa.
( TNHT. QI. Tr 8 )

Các con phải giữ gìn đức hạnh đối với kẻ trên bằng chữ khiêm hòa, đối với kẻ dưới bằng chữ khoan dung. Nghe các con ! ( TNHT. QI. Tr 102 )

Thầy chỉ một lòng mơ ước cho các con biết thương yêu nhau trong thánh đức của Thầy. Sự thương yêu là chìa khóa mở Tam Thập Lục Thiên, Cực Lạc Thế Giới và Bạch Ngọc Kinh. Kẻ nào ghét sự thương yêu thì chẳng hề qua khỏi cửa luân hồi. ( TNHT. QII. Tr 43 )

Sự thương yêu là giềng bảo sanh của Càn Khôn Thế Giới. Có thương yêu nhơn loại mới hòa bình, càn khôn mới an tịnh. Đặng an tịnh mới không thù nghịch lẫn nhau, mới giữ bền cơ sanh hóa.

Vậy Thầy cấm các con, từ đây nếu không đủ sức thương yêu nhau thì cũng chẳng đặng ghét nhau, nghe à! ( TNHT. QII. Tr 76 )

Điều Thầy vui hơn hết là muốn cho các con thương yêu giúp lẫn nhau như con một nhà. Phải đồng tâm hiệp chí chia vui sớt nhọc cho nhau, nâng đỡ dìu dắt nhau đem lên con đường đạo đức, tránh khỏi bến trần ai khốn đốn nầy, mà cả muôn triệu sanh linh đã chìm đắm vì mồi phú quí bả vinh hoa.

Thầy trông mong nơi các con, chớ nên vì chuyện nhỏ mọn phàm tục mà bứt hẳn mối tương thân, tương ái thì chẳng phải là đức tánh của kẻ tu hành đó. (TNHT. QII. Tr 27)

4. Chịu khổ hạnh không mờ hồ, nghi hoặc.

Các con chịu khổ hạnh là Thầy muốn vậy.

Nhà nghèo, hạnh tốt ấy là gương treo dạy đời, các con khá bền lòng son sắt, cái hạnh tốt là thang vạch ngút mây xanh ; tâm thành là để dồi trau tánh tục ; lòng đạo đức quí hơn là miếng đỉnh chung ; tố bần hàn tùy mình mà hành đạo, thì công quả ấy trổi hơn hạng thượng lưu đó các con. ( TNHT. QII. Tr 48- 50)

Các con phải biết, hễ là người thì phải biết Đạo ; không biết Đạo không phải là người. Cái chánh cái tà rồi đây sẽ phân biệt nhau. Nếu các con còn để một vài điểm mờ hồ trong dạ thì làm sao chóng đến nơi, đến chốn đặng ? ( TNHT. QI. Tr 80 )

5. Bền chí, tự lập.

Các con phải hiểu Thánh ý Thầy mà trau dồi chí lớn. Dầu đi lối nào cũng phải cần cái đèn thiêng liêng chiếu rõ mới đặng vững bước. Làm Vua, làm Thầy, làm công nghệ, làm đạo sĩ cũng cần phải có chí lớn mới mong thành tựu đặng. Các nghề dưới thế không có nghề nào là vô dụng mà vô dụng là tại người không chuyên vậy. ( TNHT. QI. Tr 102 )

Vậy dầu việc chi cũng khá bền lòng đinh sắt, thì con đường trở gay cách mấy cũng tới chốn được. . .Nếu cứ than khó dừng bước, thì dầu sự dễ cũng không trông thành tựu. Mạng Trời đã định nhưng có sức của các con mới đặng kết quả hoàn toàn. ( TNHT. QI. Tr 103 )

Thầy đã nói cho các con hay trước rằng : Nếu các con không tự lập ở cõi thế nầy, là cái đời tạm của các con thì Thầy cũng không bồng ẵm các con mà đỡ lên cho đặng. Ấy vậy các vấn đề tự lập là vấn đề các con phải lo đó. (TNHT. QI. Tr 105)

6. Cần kiệm, ngay thẳng.

Từ Thầy đến lập Đạo cho các con đến giờ, Thầy chưa hề một mình chuyên quyền bao giờ. . .Các con đã hiểu Thánh ý Thầy phải cần kiệm, mỗi sự chi vì phương tiện mà thôi. (TNHT. QI. Tr 98)

Tại sao Thầy muốn cho các con mặc đồ bô vải chăng? Vì bô vải là tấm gương đạo đức, các con đã rõ Đạo thì biết đức cần kiệm là đức hạnh đầu trong lúc các con còn ở thế gian nầy. Như sự lãng phí se sua ở đời nầy Thầy cũng cho là một việc tổn đức vậy. ( TNHT. QI. Tr 51 )

Thầy muốn dạy con phải ở và dạy nội gia quyến con cho chánh đáng, phải lấy lòng trong sạch đối đãi với người, dầu việc nhỏ mọn cũng vậy. Hạnh ngay thật là nét yêu dấu của Thầy, con nghe. (TNHT. QII. Tr 10)

7. Hy sinh, quên mình lo cho chúng sanh.

.. . .Chưa nghèo phải học nghèo, chưa khổ phải học khổ, kế chí quân tử : " Cư bất cầu an, thực bất cầu bảo", chỉ cặm cụi quanh năm lo cho xã hội được no ấm thôi ; biết người quên mình, đó là phận sự kẻ tu hành, đến bực tối thượng thừa cũng phải như thế, mới tròn nghĩa vụ.

Bát Nương (TNHT. QII. Tr 7)

Vào nơi đạo đức rồi, dầu cho phải cắt ái ly gia, chia tình xẻ nghĩa, máu thịt đoạn ly, mà làm cho tròn trách nhậm xứng đáng của mình, để hiến thân chuộc sanh mạng cho muôn ngàn kẻ đồng bào thì cái đau đớn thường tình, sự khổ tâm ở thế kia, đau khổ nào có tiếc. Ấy là cử chỉ của các bậc Thánh trước, tìm mối chơn đạo như thế, chư đạo hữu nên ghi.

Nhàn Âm Đạo Trưởng (TNHT. QII. Tr 76)

 

Giàu sang danh vọng

1. Nguyên bản Thánh Ngôn bằng Pháp ngữ.

Qu'est ce que la noblesse, la richesse, la gloire ?

La noblesse est l'ensemble de titres plus ou moin énivrants décernés aux hommes par les hommes.

Quelle est la valeur de ces titres ?

N'est ce pas suivant la valeur de ceux qui les donnent ?

Donne's par un humain, ils ne sont que trop humais.

Ce qi vient d'un homme n'a rien de résistant.

C'est sujet à détérioration. Ils sont de'truits dès qu'on enlève la vie de celui qui les détient. Cherchez la Noblesse ce'leste, c'est la seule éternelle.

La richesse est l'ensemble de toute préciosité qu'on amasse en ce monde.

Que comprend elle ?

L'or, l'argent, la pourpre, la soierie etc . . .

L'or, l'argent ne sont que simples métaux.

La pourpre n'est que couleur.

La soierie n'est que matière animale.

Prenez vous toutes ces choses en vraies richesses ?

Elles ne sont qu'insignifiantes d'après leur provenance.

Cherchez, vous autres, la richesse en la Vertu de Dieu, c'est la seule que vous aurez éternellement ; nul ne pourra vous la dérober.

La gloire est souvent contre la vertu. Elle est éphémère. Elle provient souvent de la Fourberie. La Gloire de Dieu est la seule qui résiste à toutes épreuves.

( Trung bạch : Mấy con phải làm sao tìm đặng La Noblesse, la Richesse et la Gloire de Dieu ? )

Thầy trả lời : " TU" (TNHT - Q.I . Tr.76-77)

2. Bản dịch Việt ngữ.

- Phẩm tước là gì ? Của cải danh vọng là gì ?

Phẩm tước là sự tổng hợp các chức tước đã bày ra để quyến rũ người hoặc ít hoặc nhiều. Những chức tước ấy do người đời tạo ra phong thưởng kẻ khác.

- Giá trị của các chức tước ấy ra sao ?

Giá trị những chức tước ấy tùy theo người tạo ra nó.

Việc chi do người đều phàm cả, nó không bền, thường thường bị hư hỏng và tiêu tan ngay sau khi người đã được nó tặng bị cướp mất sự sống. Các con hãy tìm tước phẩm nơi cõi thiêng liêng, tước phẩm ấy mới là vĩnh viễn. Còn tài sản là tổng quát các vật quí giá của con người đã thu nhặt trên thế gian nầy.

- Của cải ấy gồm những gì ?

Vàng, bạc, hồng, tơ lụa. v..v.

Vàng bạc chỉ là loại kim khí tầm thường.

Hồng là một chất màu.

Còn lụa là chất do loài vật cấu thành ra. Các con xem của ấy là quí giá thật sự sao ?

Xét từ nơi sản xuất các vật ấy, đều không đáng kể. Các con nên tìm sự giàu đức tính của Trời. Chỉ có cách đó mới gọi là vĩnh cửu. Của qúi ấy không ai ăn cướp đặng cả.

Danh vọng thường hay chống lại với đức hạnh. Nó rất ngắn ngủi và thường thành tựu nhờ nơi sự gian trá.

Danh quyền nơi Trời là bền chắc nhứt, và danh quyền ấy mới chịu đựng nỗi bao sự thử thách.

( Trung bạch: Mấy con phải làm sao mà tìm đặng phẩm tước, của cải và danh quyền của Trời ).

Thầy trả lời : " TU" (TNHT. QI. Tr 136)