1. Ngọc Hoàng Thuợng Đế viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát
ID025480 - Chương : 1. Ngọc Hoàng Thuợng Đế viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát 🖶 Print this Chương
Thánh Ngôn : Thánh Ngôn Hợp Tuyển I II Hợp Nhứt và Chú Thích
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

1. Ngọc Hoàng Thuợng Đế viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát

1. Noel 1925
Ðêm 24-12-1925 (âl 9-11-Ất Sửu)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết
CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
giáo đạo Nam phương

Muôn kiếp có ta nắm chủ quyền,
Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.
Ðạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.

Ðêm nay, 24 Décembre, phải vui mầng vì là ngày của Ta xuống trần dạy Ðạo bên Thái Tây (Europe).

Ta rất vui lòng mà đặng thấy đệ tử kính mến Ta như vậy.

Nhà nầy sẽ đầy ơn Ta. (Nhà của M. C...)

Giờ ngày gần đến, đợi lịnh nơi Ta. Ta sẽ làm cho thấy huyền diệu đặng kính mến Ta hơn nữa.

CHIÊU KỲ TRUNG độ dẫn HOÀI sanh,
BẢN đạo khai SANG QUÍ GIẢNG thành.
HẬU ÐỨC TẮC CƯ Thiên Ðịa cảnh,
HUỜN MINH MÂN đáo thủ đài danh.

(Mười hai chữ lớn trong ba câu trên là tên của 12 người môn đệ trước hết của của Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế. Còn ba chữ xiên lớn trong câu chót là tên của 3 vị hầu đàn).

CHÚ THÍCH:

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT giáo đạo Nam phương: Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế gọi là Ðấng Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát, dạy đạo tại nước Việt Nam.

* Theo Ðạo Sử, Ðức Chí Tôn đến với nhóm xây bàn (gồm ba Ông: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang) vào hạ tuần tháng 7 năm Ất Sửu (1925) với danh xưng là A Ă Â. Khi dạy đạo cho ba ông thì Ðức Chí Tôn xưng là Thầy và gọi các ông là môn đệ. Vì lời cam kết nên ba ông không dám tìm hiểu Ðấng A Ă Â là ai, chỉ biết đó là một Ðấng có quyền uy rất lớn nơi cõi vô hình.

Mãi đến đêm Noel, 24 rạng 25 tháng 12 năm 1925, Ðấng A Ă Â mới giáng cơ cho bài Thánh Ngôn trên, cho biết Ngài là Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế, nay gọi là Ðấng Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Hát, giáng cơ dạy đạo ở nước Việt Nam.

Décembre (tiếng Pháp): Tháng 12 dương lịch.

Europe (tiếng Pháp): Châu Âu.

Thái Tây: Thái là thịnh vượng. Thái Tây là các nước cường thịnh ở phương Tây, tức là các nước ở Châu Âu gồm: Anh, Pháp, Ý, Ðức, Hòa Lan, Bồ Ðào Nha, vv. . .

M. C...: viết tắt Monsieur Cư: Ông Cư (Cao Quỳnh Cư). Nhà của Ông Cư lúc đó ở 134 đường Bourdais Sài Gòn.

Ðêm 24 tháng 12 là đêm giáng sinh của Ðức Chúa Jésus Christ ở nước Do Thái. Ngài là con yêu quí của Ðấng Thượng Ðế, thay mặt Thượng Ðế giáng trần mở đạo Thiên Chúa ở nước Do Thái và truyền bá qua các nước Âu Châu.

* Bài thi bốn câu có tên 12 môn đệ đầu tiên của Ðức Chí Tôn, theo ÐS.I.50 thì Ðức Chí Tôn giáng vào đêm mùng 8 rạng mùng 9 tháng Giêng năm Bính Dần (dl 21-2-1926) tại đàn cơ thiết lập nơi nhà Ông Vương Quan Kỳ, số 80 đường Lagrandière, Sài Gòn, nhân Lễ Vía Ðức Chí Tôn, Ngài Ngô Văn Chiêu chứng đàn, Ðức Chí Tôn cho bài thi "Bửu tòa thơ thới trổ thêm hoa". . . . . . Khi ấy Ngài Ngô Văn Chiêu xin Ðức Chí Tôn cho bài thi có tên các môn đệ đầu tiên làm kỷ niệm.

12 môn đệ có tên trong bài thi kể ra sau đây:

CHIÊU: Ngô Văn Chiêu.

KỲ: Vương Quan Kỳ, đắc phong Thượng Giáo Sư.

TRUNG: Lê Văn Trung, đắc phong Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt, sau thăng Quyền Giáo Tông.

HOÀI: Nguyễn Văn Hoài, tức là ông Phán Hoài.

BẢN: Ðoàn Văn Bản, đắc phong Thượng Giáo Sư.

SANG: Cao Hoài Sang, đắc phong Thượng Sanh.

QUÍ: Lý Trọng Quí.

GIẢNG: Lê Văn Giảng, đắc phong Thượng Giáo Hữu.

HẬU: Nguyễn Trung Hậu, đắc phong Bảo Pháp.

ÐỨC: Trương Hữu Ðức, đắc phong Hiến Pháp.

TẮC: Phạm Công Tắc, đắc phong Hộ Pháp.

CƯ: Cao Quỳnh Cư, đắc phong Thượng Phẩm.

Ngài Ngô Văn Chiêu tách khỏi nhóm Phổ độ của quí Ngài Lê Văn Trung và Phạm Công Tắc để chuyên bề tu đơn, sau đó Ngài Ngô về Cần Thơ lập Chi phái Chiếu Minh.

Hai Ông Nguyễn Văn Hoài và Lý Trọng Quí theo Ngài Ngô Văn Chiêu tu trong phái Chiếu Minh, sau Ông Lý Trọng Quí (cũng có tên là Hồ Vinh Quí) lại tách riêng lập Chiếu Minh Ðàn Cần Thơ, có ra cuốn Kinh Tam Nguơn Giác Thế vào năm Tân Mùi (1931).

Ông Vương Quan Kỳ tách khỏi Tòa Thánh Tây Ninh vào năm 1930, lập Chi phái Cầu Kho ở Sài Gòn.

Bài thi bốn câu Hán văn có tên 12 môn đệ đầu tiên của Ðức Chí Tôn viết ra chữ Hán như sau:

招旗忠度引懷生

本道開創貴講成

厚德則居天地境

還明旻到守臺名

GIẢI THÍCH:

Câu 1: CHIÊU KỲ TRUNG độ dẫn HOÀI sanh:

Bốn vị: Chiêu, Kỳ, Trung, Hoài có phận sự độ dẫn nhơn sanh, độ cả thai nhi còn trong bụng mẹ.

Câu 2: BẢN đạo khai SANG QUÍ GIẢNG thành:

Nền Ðạo do Ta (Ðức Chí Tôn) mở ra nhờ bốn vị: Bản, Sang, Quí, Giảng mà đặng thành tựu.

Câu 3: HẬU ÐỨC TẮC CƯ Thiên Ðịa cảnh:

Bốn vị: Hậu, Ðức, Tắc, Cư cùng ở nơi cõi gọi là Thiên Ðịa cảnh.

Câu 4: HUỜN MINH MÂN đáo thủ đài danh:

Ba vị: Huờn, Minh, Mân đến giữ cái đài của Ta.