53. Trường Tà quái

53.Thứ tư, 24-11-1926 (âl 20-10-Bính Dần)

THẦY

Các con,

Thầy nghĩ lại việc hôm nọ tại Thánh Thất biến ra một trường Tà quái mà Thầy bắt đau lòng đó các con. Các con thiết nghĩ lẽ nào? . . . . . . . .

Ðó là bước Ðạo, đó là Thiên cơ. Các con hiểu sao được, nhưng Thầy buồn vì nỗi có nhiều đứa sàm biện về việc ấy. Thầy cũng muốn phạt chúng nó một cách nặng nề, nhưng Thầy nghĩ lại mà thương đó chút.

Môn đệ của Thầy nhiều đứa muốn bỏ đạo y, ném dép cỏ, lột khăn tu mà mong hồi tục thế. Bởi bước Ðạo gập ghình khó tới nên mới ra cớ đỗi. Bởi còn vướng bụi trần, ham mồi phú quí, mê chữ vinh sang mà ngán đạo.

Các con hiểu, Thầy buồn, nhưng ấy là máy Trời đã định, chạy sao cho khỏi. Thầy biết bao lần vì các con mà chịu nhọc nhằn.

Từ khai Thiên lập Ðịa, Thầy cũng vì yêu mến các con mà trải bao nhiêu điều khổ hạnh, mấy lần lao lý, mấy lúc vang mày, nuôi nấng các con hầu lập nền Ðạo, cũng tưởng cho các con lấy đó làm đuốc soi mình đặng cải tà qui chánh.

Mấy lần vun đắp nền Ðạo, Thầy cũng đều bị các con mà hư giềng đạo cả,

Thầy buồn đó các con.

Thầy ban ơn cho các con. Thầy thăng.

TÁI CẦU:

Các con nghe Thầy:

Sự biến xảy ra đến nay đã thành một trường ngôn luận, có khi cũng náo nhiệt đến nền Ðạo. Kẻ gọi Tà, người nói Chánh.

Nơi Thiên thơ đã có dấu ràng ràng. Các con có đi tranh luận cũng nhọc công vô ích. Kẻ hữu phần, người vô phước, tin tin, không không, cũng chẳng sửa cơ Trời đặng.

Ðường còn dài, bước càng nhọc, thì nền Ðạo càng cao, công trình càng rỡ.

Ôi! Thầy đã lắm nhọc nhằn vì bầy con dại, muốn ra tay tế độ, vớt trọn cả chúng sanh thoát vòng khổ hải, nhưng chúng nó nhiễm luyến đã đầy mùi trần thế, tâm chí chẳng vững bền, thấy khó đã ngã lòng, mới đạp chông toan trở bước. Thầy cũng phải đau lòng mà nắm máy huyền vi để cơ Trời xây đổi. Các con liệu lấy.

. . . . . . . . . .

CHÚ THÍCH:

* Phần đầu của bài Thánh Ngôn nầy có trong ÐS.II.34.

Chỗ có nhiều chấm xin chép bổ sung ra sau đây:

"Mỹ Ngọc: - Bạch Thầy, tại vài Ông Thiên phong làm chuyện lôi thôi nên mới có quỉ yêu xung nhập.

- Phải, bởi cái lếu của chúng nó mà sanh việc ngày hôm nay

Mỹ Ngọc: - Bạch Thầy, trong môn đệ có nhiều người ngã lòng

- Bất bình lắm hả?

- Nhưng trong Thiên phong có vài Ông mà thôi.

- Cũng có nhiều chớ, sao con nói ít vậy con."

Mỹ Ngọc: Hiệu của Ngài Cao quỳnh Diêu, sau đắc phong Bảo Văn Pháp Quân. Ngài Cao quỳnh Diêu là anh thứ ba của Ngài Cao quỳnh Cư.

* Phần Tái Cầu có trong ÐS.II.36, chỗ nhiều chấm gần cuối, xin chép bổ sung ra sau đây:

"Thơ! Con chẳng nên lo xa nữa, Thầy giao sắp đặt hành tàng về mọi sự Thánh Thất cho Trung, Tương, Trang, Hóa, làm sao nơi đây cho đặng vững vàng khỏi điều trắc trở. Bốn con nên lưu ý, nhứt là Trang, con hiểu Thầy chăng con? Bốn con điều đình chung lo, có Thầy biết thiết yếu và sẽ làm cho các con đặng toại kỳ sở nguyện.

Trung! nơi đàn thứ hai tới đây, con nhớ cho các Thánh hội Sài gòn và Chợ Lớn hay đặng đến hết cho Thầy dạy nghe!

Thầy tưởng dùng máy đèn có khi làm cho mất sự tịnh trong lúc hành lễ mỗi đàn, nhưng đã có rồi, con liệu tùy tiện mà làm."

Trung: Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt (Lê Văn Trung).

Tương: Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh (Nguyễn Ngọc Tương).

Trang: Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh (Lê Bá Trang).

Hóa: Phối Sư Thượng Hóa Thanh (Lê Văn Hóa).

Thơ: Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh (Nguyễn Ngọc Thơ).

Sàm biện: Bàn tán bậy bạ. Ðạo y: Áo của người tu.

Dép cỏ: Chữ Hán Thảo hài, dịch là là giày cỏ hay dép cỏ, là giày dép làm bằng cỏ của người tu hành.

Khăn tu: Cái mũ hay cái mão đội trên đầu trong bộ y phục của người tu hành.

Khai Thiên lập Ðịa: Mở Trời lập Ðất, ý nói thuở đầu tiên của Càn khôn Thế giới nầy.

Khổ hạnh: Nỗi vất vả khổ cực của người tu.

Lao lý: Bị giam cầm và lo buồn. Lý là lo buồn.

Vang mày: Ðau mặt. Vang là đau. Vang mày là ý nói phải chịu nhiều nỗi khó khăn nguy hiểm trong công việc.

Nhiễm luyến: Thâm nhiễm và mê luyến mùi trần.

Huyền vi: Sâu kín nhỏ nhặt, ý nói huyền diệu.

Toại kỳ sở nguyện: Thỏa lòng mong ước của mình.