33.- Đức Chí Tôn dạy lập Lễ tại Thánh Thất Từ Lâm, chuẩn bị Lễ Khai Đạo
ID025840 - Chương : 33.- Đức Chí Tôn dạy lập Lễ tại Thánh Thất Từ Lâm, chuẩn bị Lễ Khai Đạo 🖶 Print this Chương
Thánh Ngôn : Thánh Ngôn Sưu Tập 1925-1934
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

33.- Đức Chí Tôn dạy lập Lễ tại Thánh Thất Từ Lâm, chuẩn bị Lễ Khai Đạo

33. Thứ ba, 16-11-1926 (âl 12-10-Bính Dần)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ viết CAO ĐÀI
giáo đạo Nam phương

Lập lễ Thánh Thất

Phải làm một Nghi án trước Điện day mặt vô Bảy Ngai, hình vuông đóng bốn mặt, trên như nóc chùa, kết hàng cho đẹp, nơi ấy phải kín, bốn phía ra vô có màn. Thầy giáng cơ tại án ấy, nghe à !

Lễ Thánh Thất, chia ra làm : Lễ, Khách, Xuất, Thâu.

Vậy Thầy nói về Lễ trước.

* VỀ LỄ : Thầy giao Chánh sự cho Trang, Phó sự cho Nhung, Phụ sự có Ý, nghe à. Như Ý không chịu thì Lịch phải thế. Vậy thì Chánh sự là Trang làm đầu. Thầy lại thêm ba vị nữa cho các con rộng dùng : Mùi, Vân, Đạt.

Thầy lại hỏi thêm mười hai đứa nữa, ai tình nguyện ?

Lê Văn Sanh, Dương Văn Hoài, Nghĩa, Nguyễn Xuân Quang, Sơn, Lê Thế Vĩnh, Huờn, Trần Văn Bân, Nguyễn Văn Mùi.

* VỀ KHÁCH : Khách thì Tương là Chánh sự, Luật là Phó sự, Thầy muốn đem Hoài vô đặng không Lịch ? Voi là Phụ sự, Lại, Son, Thành là giúp Thầy.

Hỏi mười hai đứa tình nguyện :

Giỏi, Bản, Tuất, Tiếp, Trò, Giảng, Học, Kỳ, Tường, Hơn, Kính, Đơn.

* VỀ THÂU : thì Thơ, Như Nhãn, Đạo Quang.

Thầy hỏi hai đứa ký lục : Châu, Tuấn.

* VIỆC XUẤT : Xuất thì Lịch, Xài, Hóa (Phủ Hóa Cần Đước). Thầy hỏi 2 đứa ký lục : Kiều, Vĩnh.

Nghe hành lễ, con Trang :

Chưởng Pháp, Đầu Sư : Thầy định ba ngôi Chưởng Pháp, ba ngôi Đầu Sư đều có vị.

Phối Sư : Còn Phối Sư thì là Trang, Tương, Thơ, là Chánh, còn 33 vị nữa thì tùy theo ngày phong sau trước đứng nối theo đó.

Giáo Sư : Rồi tới 72 Giáo Sư, cũng tùy theo ngày thọ sắc mà phân sau trước.

Giáo Hữu : Kế nữa là 3000 Giáo Hữu, cũng tùy Thiên phong mà đứng theo hàng ngũ phái Thượng, phái Thái, phái Ngọc vậy.

Phò loan : Tiếp nối theo sau, ngay chính giữa, nơi Bàn Hộ Pháp thì : Đức, Hậu, Tràng, Nghĩa.

Bên mặt thì : Mạnh, Phước, Mai, Nguyên.

Bên trái thì : Đãi, Kim, Tươi, Chương.

Hộ Pháp: Con lại để dựa bên Bàn Hộ Pháp hai cái ghế, rồi làm hai cây phướn đề : Thượng Phẩm, Thượng Sanh.

Thượng Phẩm : Bên mặt Hộ Pháp là Thượng Phẩm.

Thượng Sanh : Bên trái Hộ Pháp là Thượng Sanh.

Đưa cây Phướn Thượng Phẩm cho Mùi, cây Phướn Thượng Sanh cho Vĩnh cầm, đứng hầu hai bên.

Trấn cờ Ngũ phương : Tại Đông phương, Tây phương, Nam phương, Bắc phương, lựa 12 đứa đồng nhi cầm cờ, còn ở giữa thì giao cho Hậu, Nghĩa, Đức.

Lịch, hiểu à ! Khi hành Đại lễ cho Thầy rồi thì Lễ sanh (1) xướng : “Thiên phong quán tẩy” : Cả thảy đều ra rửa mặt mày cho tinh sạch. Chừng xướng : “Chỉnh túc y quan” thì cả thảy phải thay Thiên phục.

Lễ sanh xướng : “Lập vị” thì đứng theo hàng ngũ cũ như trước.

Hành lễ y như tại chùa Vĩnh Nguyên Tự nghe Lịch.


(1) Lễ sanh, ở đây không phải là phẩm vị Chức sắc, mà là người xướng lễ và điện lễ, nên sau nầy, Đức Lý Thái Bạch đổi lại gọi các vị ấy là Lễ sĩ cho phân biệt.

Còn Nữ phái thì đều phải mặc đồ trắng trước khi hành lễ.

Thiên phong Nữ phái: thì Cư, Tắc, phải vào nghi án phò loan cho Thầy phong Nữ phái trước và lập Tịch Đạo luôn nữa nghe.

Trấn Thần: Chừng mặc Thiên phục rồi thì , con chấp bút nhang cho Thầy trấn Thần mỗi người và nơi mình của chư Thiên phong, rồi mới hành lễ.

Nhớ biểu Nam phái đứng chẳng hết ở giữa thì qua bên tả của Thầy, song phải phân hàng ngũ đẳng cấp chúng nó cho tử tế, chớ không đặng lộn xộn.

Hành lễ : Còn bao nhiêu môn đệ thì đứng tiếp theo sau. Thầy dặn : Hành lễ rồi thì phải biểu Lễ sanh xướng : “Thiên phong phò loan” đặng Thầy lập Phật Truyền Chánh Pháp.

Cư, Tắc phải để Thiên phục vậy mà phò cơ nghe.

Thầy sẽ giao Nhạc cho Mỹ Ngọc, và Lễ cho Nhơn.

(ĐS. II. 13-15) & (TNCT. HH. 101-103)