Phần Giới Thiệu
ID025964 - Thiên Kinh : Phần Giới Thiệu 🖶 Print this Thiên Kinh
Kinh : Giải Nghĩa Kinh Thiên-Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Giới thiệu của CHÁNH CÔNG (Hữu Phan Quân LÊ VĂN THOẠI).

ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
(Năm Ðạo thứ 66)
TÒA THÁNH TÂY NINH

Tôi hân hạnh được đọc bản thảo "GIẢI NGHĨA KINH THIÊN ÐẠO & THẾ ÐẠO" của Hiền Tài Nguyễn văn Hồng. Thật là một kỳ công tra cứu sưu tầm.

Lời Chí Tôn dạy: "Giáo hóa nhơn sanh cầu Triết lý" và Cổ nhơn có câu: "Ðọc kinh cầu lý".

Thật vậy, khi giờ cúng tại Tòa Thánh hay tại Thánh Thất, tiếng kinh hòa cùng giọng đờn, nếu chúng ta biết nghĩa lý kinh, luồng tư tưởng phóng ra để dâng lên Ðức Chí Tôn và Phật Mẫu cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, thì sự cúng mới thấy cảm ứng, đúng với câu của Thất Nương: "Lễ bái thường hành tâm Ðạo khởi".

Ðây là ít lời thô thiển của tôi, xin giới thiệu cùng Ðạo đồng.

Tây Ninh, ngày 6 tháng 7 năm Tân Mùi.
(dl 15-8-1991)
CHÁNH CÔNG
(Hữu Phan Quân LÊ VĂN THOẠI)

Giới Thiệu của Giáo Hữu NGỌC PHÒ THANH.

ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
(Lục thập lục niên)
TÒA THÁNH TÂY NINH

"Tạo chúc cầu minh, đọc kinh cầu lý".

Nhờ ánh sáng ngọn đuốc rọi đường dẫn bước đi vững chắc. Ðọc kinh sách cần rõ thấu lý nghĩa cao siêu thấm nhuần trong tâm hồn thanh khiết diệu mầu, khi tụng đọc thể hiện bên ngoài mới tạo được luồng tư tưởng kính tin hiệp hòa từng tiếng kinh nhịp nhàng bên trong dâng lên khi chầu lễ. Ðược vậy là mình đã có biết và cảm, tức nhiên thấu đáo "Chín từng Trời Ðất thông truyền chứng tri". Ðương nhiên, luồng tư tưởng và tâm ta mới tiếp nhận sự ứng của Ơn Trên ban cho, bởi có CẢM mới có ỨNG, sự tu hành mới đoạt thành quả vị, mới hưởng được Bí Pháp huyền vi.

Quyển "GIẢI NGHĨA KINH THIÊN ÐẠO & THẾ ÐẠO" do Hiền Tài Nguyễn văn Hồng soạn thảo, rất dày công sưu tầm vào những kinh sách Tam Giáo roi truyền, tra cứu điển tích và các bộ Từ điển, có thể giúp ích độc giả hiểu biết thêm về ý nghĩa lời kinh trong khi tụng đọc, hầu chờ đợi sau nầy, quí Chức Sắc Ðại Thiên Phong, bậc đàn anh chị lớn chúng ta bổ cứu, dạy bảo chúng ta thêm những yếu lý cao siêu nhiệm mầu trong khi chúng ta còn quá nghèo nàn về vốn hiểu biết trong Ðạo học.

Ðôi dòng thô thiển chân thành giới thiệu quyển "GIẢI NGHĨA KINH THIÊN ÐẠO & THẾ ÐẠO" nầy cùng Quí Huynh, Tỷ, Ðệ, Muội, môn sinh của Ðấng Cao Ðài Thượng Ðế.

Giáo Hữu NGỌC PHÒ THANH

Lời Tri Ân của Hiền Tài NGUYỄN VĂN HỒNG.

Thành kính tri ân:

Quí Chức Sắc: Cửu Trùng Ðài, Hiệp Thiên Ðài và Cơ Quan Phước Thiện,
Quí Huynh Tỷ và Quí Thân hữu,

Đã đóng góp nhiều ý kiến quí báu để soạn giả bổ túc và sửa chữa, tạm hoàn thành quyển sách "GIẢI NGHĨA KINH THIÊN ÐẠO & THẾ ÐẠO" nầy.

Ước mong Quí Chức Sắc, Quí Huynh Tỷ tiếp tục chiếu cố, đóng góp thêm ý kiến để chỉnh đốn quyển sách nầy cho được hoàn hảo, tạo thành một công trình chung, hầu sau nầy hiến dâng bản quyền cho Hội Thánh xử dụng. Ðó là tâm nguyện của soạn giả.

Nay kính.
Hiền Tài Nguyễn văn Hồng

Lời Cầu Nguyện của Hiền Tài NGUYỄN VĂN HỒNG.

Thành tâm cầu nguyện:

Ðức Chí Tôn,
Ðức Phật Mẫu,
Tam Tông Chơn Giáo,
Tam Trấn Oai Nghiêm,
Ðức Quyền Giáo Tông,
Ðức Phạm Hộ Pháp,
và Các Ðấng Thiêng Liêng:

Con xin dâng lên Thân phụ và Thân mẫu của con phần công đức do con lập được trong việc biên soạn quyển "Giải nghĩa Kinh Thiên Ðạo & Thế Ðạo", để cầu cho linh hồn Thân phụ và Thân mẫu con được siêu thăng, an nhàn nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Hiền Tài Nguyễn văn Hồng
Kính bái

Thay lời tựa: Trình bày Tổng quát.

Ðọc suốt các bài Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo của Ðạo Cao Ðài, chúng ta nhận thấy các Bài Kinh nầy có thể được phân làm 2 nhóm theo 2 khuynh hướng Triết lý khác nhau:

1. Ðóng cửa Ðịa Ngục và mở cửa các từng Trời.

Ðiển hình là 2 Bài Kinh: Phật Mẫu Chơn Kinh (PMCK) và Kinh Giải Oan (KGO), với các câu:

Vô Ðịa Ngục, vô quỉ quan,
Chí Tôn đại xá nhứt trường qui nguyên.
(PMCK)

Ðóng Ðịa Ngục, mở tầng Thiên,
Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây phương.
(KGO)

Khuynh hướng Triết lý nầy thể hiện rõ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là thời kỳ Ðại Ân Xá của Ðức Chí Tôn trong buổi cuối Hạ Nguơn Tam Chuyển bước qua Thượng Nguơn Tứ Chuyển.

Ðức Chí Tôn đã ra lịnh đóng cửa Ðịa Ngục, giải thoát tất cả các tội hồn để cho họ chuyển kiếp luân hồi, trả cho xong hết các oan khiên nghiệp chướng, đồng thời lo việc tu hành, để được Ðức Chí Tôn cứu vớt, và Ðức Chí Tôn cũng ra lịnh mở cửa Cực Lạc Thế Giới để rước những Chơn linh có đầy đủ công đức đắc đạo trở về.

2. Vẫn còn cảnh Ðịa Ngục và Thập Ðiện Diêm Vương.

Với các hình phạt nặng nề trừng trị các tội hồn đã gây ra nhiều lỗi lầm trong kiếp sanh nơi cõi trần, các hình phạt nặng nề nơi cõi Ðịa Ngục đó là: Nấu dầu, xay, cưa, đốt, giã, bào lạc, rắn ăn thịt, mổ bụng moi tim, móc mắt, ...

Ðiển hình là 2 Bài Kinh: Kinh Sám Hối (KSH) và Giới Tâm Kinh (GTK), với các câu:

Con bất hiếu, xay, cưa, đốt, giã,
Mổ bụng ra phanh rã tim gan.
(KSH)

Nơi Ðịa Ngục gông cùm sẵn đủ,
Ðể răn loài dâm phụ gian phu.
(GTK)

Khuynh hướng Triết lý thứ nhì nầy thể hiện rõ Giáo lý của Phật giáo và của Thiên Chúa giáo thuộc thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, tức là thời kỳ trước khi mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ (tức Ðạo Cao Ðài) vào năm Bính Dần (1926).

Nhóm nầy gồm 4 Bài Kinh:

. Kinh Cầu Siêu
. Kinh Sám Hối
. Bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối
. Giới Tâm Kinh.

Bốn bài Kinh nầy do các Ðấng Thiêng Liêng giáng cơ ban cho Chi Minh Lý và Minh Tân, là 2 Chi trong Ngũ Chi Minh Ðạo của Việt Nam, rồi khi mở Ðạo Cao Ðài, Ðức Chí Tôn dạy Hội Thánh đến 2 Chi Minh Lý và Minh Tân, thỉnh 4 bài Kinh ấy về làm Kinh Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Mặt khác, từ trước đến nay, Hội Thánh chưa có ban hành sách vở hay tài liệu giải thích tất cả các bài Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo, mà chỉ có một vài tài liệu giải thích tổng quát một số ít bài Kinh mà thôi, xin kể ra:

- Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh (có Chú giải) của 2 vị Ðầu Sư: Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt, có biên chữ Hán kèm theo và có chú giải các bài Kinh Cúng Tứ Thời.

- Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giải nghĩa Bài Phật Mẫu Chơn Kinh.

Lúc đó, chúng tôi ao ước có đặng một quyển sách giải nghĩa tất cả các bài Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo, thì việc học Ðạo bước đầu được dễ dàng biết mấy!

Và bắt đầu từ đó, chúng tôi có ý hướng sưu tầm tất cả tài liệu liên quan, rồi ra công nghiên cứu để thực hiện việc giải thích nầy.

Nhưng chúng tôi cảm thấy bản thân tài sơ trí thiển, gia công học Ðạo cũng chẳng bao lâu, lại đang ở trong hoàn cảnh khó khăn nhiều mặt, sợ không kham nổi công việc muôn vàn khó khăn nầy, nên đã hết sức cầu khẩn Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu, Ðức Lý Giáo Tông, Ðức Phạm Hộ Pháp và các Ðấng Thiêng liêng hộ trì cho được mẫn huệ trí não, sáng suốt tinh thần, vượt qua các chướng ngại để hoàn thành ý nguyện.

Chúng tôi lại còn có một điều tin tưởng nữa là cứ mạnh dạn đem hết sức mình ra thực hiện ý định, để các bậc Chức sắc tiền bối, các vị Ðạo tâm thông hiểu Ðạo lý, có một tập sách cụ thể để xem xét, phê phán những chỗ sai lầm, bổ túc những chỗ thiếu sót, bỏ bớt những chỗ dư thừa, thì trong những lần ra mắt tiếp theo, quyển sách sẽ được mỗi lúc một tốt đẹp hơn.

Chúng tôi ước mong được như thế thì Tín hữu Cao Ðài lần lần sẽ có được một tập sách hữu ích trong việc học Ðạo.

Chúng tôi cũng tâm nguyện rằng, khi tập sách nầy được sửa chữa khá hoàn hảo thì chúng tôi sẽ hiến dâng cho Hội Thánh ấn hành.

Một khi đã theo Ðạo, hiểu rõ tôn chỉ, mục đích của nền Ðạo, thì người Tín đồ sẽ không bao giờ xa Ðạo, bỏ Ðạo, hay làm một điều gì trái với luật pháp của Ðạo.

Do đó, chúng tôi đem hết sức mình ra để biên soạn quyển "GIẢI NGHĨA KINH THIÊN ÐẠO & THẾ ÐẠO" nhằm 2 mục đích sau đây:

. Thứ nhứt:

Lời xưa có nói: Ðọc kinh cầu lý. Nếu tụng kinh mà không hiểu được nghĩa lý của lời kinh thì sự bổ ích không nhiều, bởi vì có hiểu được ý kinh thì khi tụng niệm, tâm hồn ta mới phấn khởi, giữ trọn tâm hồn trong lời kinh tiếng kệ, mới có sự cảm ứng với các Ðấng Thiêng Liêng mà ta đang tưởng niệm đến.

. Thứ nhì:

Chúng tôi sưu tập được 8 bổn kinh do Hội Thánh ấn hành vào 8 kỳ khác nhau, kể ra :

* KINH CÚNG TỨ THỜI, in năm 1928, bản quốc ngữ, nhà in Ðức Lưu Phương, Sài gòn.

* TỨ THỜI NHỰT TỤNG KINH (có chú giải), in năm 1928, có viết kèm thêm chữ Hán, Chữ Nôm, của 2 vị Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt.

* ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ KINH, không để năm in, gồm chữ Hán và chữ Nôm, không có chữ quốc ngữ, của Bà Nữ Ðầu Sư Lâm Hương Thanh.

* KINH THIÊN ÐẠO và THẾ ÐẠO, của Hội Thánh in năm 1936 (Bính Tý), nhà in Ðức Lưu Phương, Sài gòn.

* KINH LỄ, in bên Pháp năm 1952, khổ nhỏ, nhà xuất bản M. Garnier.

* KINH THIÊN ÐẠO và THẾ ÐẠO , do Hội Thánh ấn hành vào các năm: 1968, 1974, 1975.

* Riêng các bài Kinh mà các Ðấng giáng cơ ban cho Minh Lý (Minh Lý Ðạo, Tam Tông Miếu) và Hội Thánh vâng lịnh Ðức Chí Tôn thỉnh về làm Kinh Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, thì chúng tôi sưu tầm được quyển "KINH NHỰT TỤNG - KINH SÁM HỐI" của Minh Lý Ðạo Tam Tông Miếu ấn hành năm Quí Sửu (1973).

Khi so sánh các bản Kinh nầy, chúng tôi nhận thấy có một vài từ ngữ trong một số câu Kinh không đồng nhứt với nhau, do đó gây ra nhiều cuộc tranh luận giữa người nầy với người kia, là chữ nầy đúng, chữ kia sai, và họ đều đưa ra bản Kinh mà họ đang nắm giữ để làm bằng chứng. Nhưng tất cả các cuộc tranh luận ấy đều đi đến chỗ bế tắc, vì bản Kinh nào cũng đều do Hội Thánh ấn hành và đều có Ban Kiểm Duyệt của Hiệp Thiên Ðài ấn ký. Chẳng lẽ những chữ khác biệt ấy đều đúng cả hay sao? Lỗi nầy do sự sắp chữ sai của nhà in hay do ai sửa đổi? Còn bản Kinh gốc đúng nhứt là bản nào? Không một ai biết được.

Ðể tạm thời giải tỏa vấn đề nầy, chúng tôi đưa ra phần "KHẢO DỊ" liệt kê ra hết những chữ dị biệt giữa các câu kinh trong các bản Kinh, để rộng đường khảo luận của các học giả, và cũng để giúp tài liệu cho việc nghiên cứu sau nầy của Khảo Cứu Vụ của Hội Thánh, sẽ xác nhận chữ nào đúng nhứt, để dùng thống nhứt cho toàn đạo.

Ðể bổ cứu 2 mục tiêu trên, chúng tôi phụ đính thêm phần chữ Hán cho các bài Kinh Hán Việt sau đây:

. Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế.
. Kinh Phật giáo.
. Kinh Tiên giáo.
. Kinh Nho giáo.
. Bài Dâng Rượu, Dâng Trà.
. Ngũ Nguyện.
. Phật Mẫu Chơn Kinh.

Phần viết chữ Hán kèm theo các bài Kinh Hán Việt kể trên, chúng tôi căn cứ phần chánh vào bản Kinh Hán văn in trong quyển "TỨ THỜI NHỰT TỤNG KINH" xuất bản năm 1928 của 2 vị Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt, có sự phối hợp đối chiếu bản Kinh Hán văn in trong quyển "ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ KINH" của Bà Nữ Ðầu Sư Lâm Hương Thanh, có lẽ in vào năm 1928 hoặc 1929.

Khi biên soạn quyển "GIẢI NGHĨA KINH THIÊN ÐẠO & THẾ ÐẠO", chúng tôi chỉ mong muốn giúp các Bạn học Ðạo một phương tiện để tìm hiểu ý nghĩa của các câu Kinh căn cứ theo từ ngữ, trong cái học Hạ Thừa, còn phần ý nghĩa siêu việt của câu Kinh, vượt khỏi văn tự mà các Ðấng muốn đặt vào đó, thuộc về phần học Thượng Thừa, chúng tôi chưa đủ trình độ đạt tới.

Chúng tôi mong mỏi được quí Chức sắc, các bậc Ðạo tâm, chỉ giáo thêm cho chúng tôi, thì đó là một ơn huệ lớn lao dành cho soạn giả vậy.

Nay Kính.
Soạn giả: Hiền Tài Nguyễn văn Hồng