Kinh Cúng Tứ Thời: Kinh Tiên giáo
ID025973 - Thiên Kinh : Kinh Cúng Tứ Thời: Kinh Tiên giáo 🖶 Print this Thiên Kinh
Kinh : Giải Nghĩa Kinh Thiên-Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

1. Kinh Tiên giáo.

Kinh Tiên giáo
Thái Thượng chí tâm qui mạng lễ

KINH: GIẢI NGHĨA:
1. Tiên Thiên khí hóa, Thái Thượng Ðạo Quân. Khí Tiên Thiên hóa sanh ra Ðức Thái Thượng Ðạo Quân.
2. Thánh bất khả tri, Không thể biết rõ hết sự thiêng liêng mầu nhiệm của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân.
3. Công bất khả nghị. Công đức của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân to lớn không thể nào luận bàn cho hết được.
4. Vô Vi cư Thái Cực chi tiền. Ðạo Vô Vi ở trước ngôi Thái Cực.
5. Hữu thỉ siêu quần chơn chi thượng. Trong thời Hữu thỉ, Ðức Thái Thượng đứng trên hết các vị Tiên.
6. Ðạo cao nhứt khí diệu hóa Tam Thanh. Ðạo pháp của Ðức Thái Thượng rất cao siêu. Ngài có thể lấy một Nguơn khí của Ngài biến hóa thành 3 người khác rất huyền diệu, gọi là Tam Thanh.
7. Ðức hoán Hư linh, Cái Thánh đức của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân sáng rực nơi cõi Hư linh.
8. Pháp siêu quần Thánh. Ðạo pháp của Ngài vượt lên trên các bực Tiên, Thánh.
9. Nhị ngoạt thập ngũ, phân tánh giáng sanh. Ngày rằm tháng hai, Ðức Thái Thượng chiết chơn linh giáng sanh xuống cõi trần là Ðức Lão Tử.
10. Nhứt thân ức vạn, diệu huyền thần biến. Một thân mà có thể biến hóa thành hằng vạn người khác, sự biến hóa vô cùng huyền diệu.
11. Tử khí đông lai, Quảng truyền Ðạo Ðức. Một đám mây màu tím từ hướng Ðông bay tới, Truyền bá rộng rãi sách Ðạo Ðức Kinh.
12. Lưu sa tây độ, Pháp hóa tướng tông. Khi Ðức Lão Tử đi qua vùng sa mạc ở hướng Tây để cứu giúp người đời, Ðức Lão Tử truyền Kinh Ðạo Ðức cho Ông Doãn Hỷ, kể từ đó Tiên giáo mới thành hình tướng.
13. Sản Tất Viên, Phương Sóc chi bối. Sản xuất ra các Ông Trang Tử và Ðông Phương Sóc.
14. Ðơn tích vi mang. Việc luyện Kim Ðơn (của Ðạo Tiên) phân tích nói cho rõ ra thì thật là huyền vi mầu nhiệm.
15. Khai Thiên Ðịa Nhơn Vật chi tiên. Khi mở ra Trời Ðất, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân là Ðấng có trước loài người và loài vật.
16. Ðạo kinh hạo kiếp. Ðạo trải qua nhiều kiếp lâu đời.
17. Càn Khôn oát vận. Trời Ðất xoay chuyển vận hành.
18. Nhựt nguyệt chi quang. Ðạo như ánh sáng mặt trời, mặt trăng, soi sáng khắp nơi.
19. Ðạo pháp bao la. Ðạo Pháp bao la, nghĩa là Ðạo Pháp rộng lớn mênh mông như tấm lưới lớn bao trùm lên tất cả.
20. Cửu Hoàng Tỹ Tổ. Cửu Hoàng Tỹ Tổ là Ðức Thái Thượng Ðạo Quân là Thủy tổ của 9 vị vua đầu tiên khai hóa nhơn loại, và cũng là Thủy tổ của nhơn loại.
21. Ðại thiên Thế giới, dương tụng từ ân. Cả ba ngàn Thế giới, mọi người đều ca tụng đề cao lòng từ bi và ơn đức của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân.
22. Vĩnh kiếp quần sanh, ngưỡng kỳ huệ đức. Chúng sanh vĩnh viễn đời đời ngưỡng nhờ ơn đức của Ngài.
23. Ðại Thần, Ðại Thánh, Chí Cực, Chí Tôn. Bực Thần lớn, bực Thánh lớn, cao tột, rất được tôn kính.
24. Tiên Thiên Chánh nhứt, Thái Thượng Ðạo Quân, Chưởng Giáo, Thiên Tôn. Vào thời Tiên Thiên, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân là Ðấng thứ nhứt đứng đầu Ðạo Tiên, và Ngài là Giáo chủ Ðạo Tiên. Ngài là Ðấng Thiên Tôn.

(Lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Thái Thượng Ðạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn)

Câu 1: Tiên Thiên khí hóa, Thái Thượng Ðạo Quân.

GIẢI NGHĨA

Tiên Thiên: Trước khi tạo dựng Trời Ðất.

Khí: Chất khí.

Hóa: Hóa sanh.

Khí Tiên Thiên: Chất khí có trước khi tạo dựng Trời Ðất. Sau khi Hư Vô chi Khí hóa sanh Ðức Chí Tôn thì khí Hư Vô được gọi là khí Tiên Thiên. Chính khí Tiên Thiên nầy hóa sanh ra Ðức Thái Thượng Ðạo Quân.

Câu 1: Khí Tiên Thiên hóa sanh ra Ðức Thái Thượng Ðạo Quân.

Ðức Thái Thượng Ðạo Quân là vị Tiên đầu tiên trong Càn Khôn Vũ Trụ, làm chủ Tiên đạo, và làm đầu các vị Tiên.

Theo sách Tam Hoàng Thiên Kinh, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân hiện xuống cõi trần rất nhiều lần.

* Vào thời Thái cổ:
Ðời vua Thiên Hoàng, Ngài là Bàn Cổ.
Ðời vua Ðịa Hoàng, Ngài là Vạn Pháp Thiên Sư.
Ðời vua Nhơn Hoàng, Ngài là Ðại Thanh Tử.

* Vào thời Thượng cổ:
Ðời vua Phục Hy, Ngài là Huất Hoa Tử.
Ðời vua Thần Nông, Ngài là Xích Tòng Tử.
Ðời vua Huỳnh Ðế, Ngài là Quảng Thành Tử.

Ðức Thái Thượng Ðạo Quân, do khí Tiên Thiên hóa sanh, nên Ngài có pháp lực vô biên, biến hóa vô cùng, khi hiện xuống cõi trần để giáo hóa nhơn sanh, khi trở về cõi Thượng Thiên, nhưng không đầu thai xuống trần.

Mãi đến đời nhà Thương bên Tàu, Ngài mới đầu thai xuống trần. Việc đầu thai của Ngài cũng rất kỳ diệu.

Ðời vua Bàn Canh nhà Thương (1401 trước Tây lịch), có một nàng con gái gọi là Ngọc Nữ, mới vừa 8 tuổi (theo sách Ðông Du Bát Tiên), con của một gia đình đạo đức, ra chơi sau vườn, thấy cây Lý có một trái to chín đỏ, cô liền hái ăn. Ăn xong, nàng cảm thấy mỏi mệt và có thai.

Người cha thấy sự lạ, bèn toán quẻ Âm Dương, biết là có một vị Ðại Tiên giáng sanh, nên không phiền hà gì cả và nuôi con gái rất kỹ. Nhưng nàng chịu mang thai như vậy cho đến già. Ðến năm nàng được 80 tuổi, trở thành bà già, tức là nàng đã mang thai ngót 72 năm, lúc đó là đời vua Võ Ðinh (1324 trước Tây lịch) nhà Thương, bà Ngọc Nữ thấy trăng tỏ, bèn đi dạo sau vườn. Khi đi ngang qua cây Lý khi xưa thì đứa con từ trong bụng mẹ theo nách mẹ nhảy ra ngoài. Bà Ngọc Nữ kinh hãi, coi thấy nách mình liền lại như thường, không đau đớn chi cả.

Ðứa con nhảy ra, đã ở trong bụng mẹ 72 năm nên đầu đã bạc trắng, do đó mới gọi là Lão Tử (con già). Lúc đó là giờ Sửu, ngày Rằm tháng 2 năm Canh Thìn, đời vua Võ Ðinh. Lão Tử chỉ cây Lý bảo rằng đó là họ của Ngài, lại xưng hiệu là Lão Ðam, tự là Bá Ðương, lại mỗi tai có 3 lỗ ở bên trong nên còn gọi lá Lý Nhĩ.

Cội Lý, nơi giáng sanh của Lão Tử, ở tại xóm Khúc Nhơn, làng Lại, huyện Khổ, nước Sở.

Ngài có miệng rộng, răng thưa, thiên đình cao, râu tốt, mắt vắn, tai dài, sóng mũi cao như chẻ hai, trên trán có chỉ như 3 chữ Tam Thiên.

Câu 2: Thánh bất khả tri,

GIẢI NGHĨA

Thánh: Thiêng liêng mầu nhiệm.

Bất khả: Không thể.

Tri: Biết, hiểu biết.

Câu 2: Không thể biết rõ hết sự thiêng liêng mầu nhiệm của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân.

Ðức Thái Thượng Ðạo Quân do khí Tiên Thiên hóa sanh, là vị Tiên lớn nhứt đứng đầu các vị Tiên, nên quyền pháp của Ngài cao siêu vô cùng, thiên biến vạn hóa, không ai có thể biết rõ được.

Câu 3: Công bất khả nghị.

GIẢI NGHĨA

Công: Nỗi vất vả khó nhọc làm việc.

Bất khả: Không thể.

Nghị: Luận bàn.

Câu 3: Công đức của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân to lớn không thể nào luận bàn cho hết được.

Từ khi có loài người xuất hiện trên cõi trần đến nay, không có thời nào mà Ðức Thái Thượng Ðạo Quân không hiện xuống cõi trần để giáo hóa và cứu độ nhơn sanh. Công đức của Ngài từ đó đến nay nhiều vô lượng, không thể nào kể cho hết hay luận bàn được.

Câu 4: Vô Vi cư Thái Cực chi tiền.

GIẢI NGHĨA

Vô Vi: là một đạo lý mà Ðức Lão Tử đặc biệt đề cao.

Cư: Ở, nơi ở.

Thái Cực: Ngôi của Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế.

Chi: Tiếng đệm.

Tiền: Trước.

Câu 4: Ðạo Vô Vi ở trước ngôi Thái Cực.

Ðối với Ðức Lão Tử, Vô Vi là một đạo lý. Ngài cho rằng, bản chất của "ÐẠO" là Vô Vi. Ðạo thường vô vi nhi vô bất vi. Nghĩa là: Ðạo thường là không làm, mà không gì là không làm được.

"Không làm" vì theo quy luật tự nhiên, trơn tru không vướng mắc, mọi thứ đều tỏ sức sống cường kiện, như trăm hoa gặp khí Dương của mùa Xuân, tự nhiên đúng kỳ hoa nở.

Ðạo Trời Vô Vi, chỉ đem lợi cho muôn vật: Ðạo Trời lợi mà không hại, đạo Thánh nhân làm mà không tranh, tức là không hề chú ý đến quyền lợi cá nhân, chỉ mong có sự đóng góp tạo sự chuyển hóa cho vạn vật.

Vô Vi là một chủ trương được Ðức Lão Tử đề cao trong sách Ðạo Ðức Kinh. Ngài muốn đem chủ nghĩa Vô Vi áp dụng vào công việc Tu thân và cả đến việc Chánh trị nữa.

- Về Tu thân, Vô Vi không phải là sống nhàn cư vô sự, ăn bám xã hội, mà chính là sống cuộc đời cao siêu, huyền hóa với Trời.

Liệt Tử định nghĩa Vô Vi là hoạt động siêu việt.

Trang Tử định nghĩa Vô Vi là hoạt động của Trời Ðất.

Vô Vi là để trở về khế hợp với bổn căn bổn tánh, hiệp nhập vào Thượng Ðế. Vô Vi là nhập Ðại Ðịnh, là giai đoạn chót của khoa Tịnh luyện để đắc đạo.

Cho nên cõi Vô Vi là cõi Trời, cõi thiêng liêng tuyệt đối vô hình. Cõi Vô Vi chính là Niết Bàn của Phật.

Trái với Vô Vi là Hữu Vi, là cõi Hữu hình sắc tướng.

Muốn đạt tới Vô Vi thì phải bắt đầu từ Hữu Vi. Không có con đường tắt. Từ Hữu hình sắc tướng mới đi riết tới, lần lần giũ sạch những cái Hữu vi thì sẽ đạt đến Vô Vi, tức là Niết Bàn vậy.

Ngài Tiếp Pháp Trương văn Tràng, trong quyển Giáo Lý, giải thích về Vô Vi như sau:

"Vô Vi nghĩa là không hành động theo ngoại giới, mà chỉ hồi hướng về nội giới tâm linh, sưu tầm giác ngộ lẽ huyền nhiệm của Tâm lý và Sinh lý.

Cho nên Ðạo Ðức Kinh chương 28 nói rằng: Vi Ðạo nhựt tổn, tổn chi hựu tổn, dĩ chí ư vô vi. Nghĩa là: Học Ðạo thì mỗi ngày mỗi giảm bớt, và giảm bớt nữa cho đến chỗ Vô Vi.

Không làm nhưng chẳng phải khô khan như cây khô hay cục đá, mà thật là phải giữ một tâm trạng hồn nhiên, như đứa trẻ chưa biết cười (anh nhi chi vị hài), cho nên nói rằng: Ðạo thường vô vi nhi vô bất vi, nghĩa là: Ðạo thường là Vô Vi, nhưng chẳng có việc gì không làm. Tại sao? Bởi lẽ kẻ học Ðạo phải làm những việc chưa đến, phải lo những việc chưa xảy ra (Vi vô vi, sự vô sự)."

Câu 5: Hữu thỉ siêu quần chơn chi thượng.

GIẢI NGHĨA

Hữu: Có.

Thỉ: hay Thủy là bắt đầu.

Siêu: Vượt lên trên.

Quần: Nhiều người tụ họp đông đảo.

Chơn: hay Chân là thực, có thật. Trong Tiên giáo, Chơn là những vị tu hành đắc quả thành Tiên, và được gọi là Chơn Nhơn (Người Chơn).

Chi: Tiếng đệm.

Thượng: Ở trên.

Hữu thỉ: Có bắt đầu, tức là có nguồn gốc. Khi Trời Ðất đã an ngôi rồi thì bắt đầu từ đó trở về sau được gọi là thời Hữu Thỉ, vì Trời Ðất là Âm Dương, như cha mẹ, hóa sanh ra muôn loài vạn vật. Như vậy, Âm Dương là cái bắt đầu của vạn vật.

Trước thời Hữu thỉ là thời Hỗn Mang, chỉ có Hư Vô chi Khí, mà không ai biết được nguồn gốc của nó do đâu mà có, nên thời nầy được gọi là thời Vô thỉ, nghĩa là không có nguồn gốc phát sanh.

Câu 5: Trong thời Hữu thỉ, Ðức Thái Thượng đứng trên hết các vị Tiên.

Câu 6: Ðạo cao nhứt khí diệu hóa Tam Thanh.

GIẢI NGHĨA

Ðạo cao: Ðạo pháp cao siêu.

Nhứt khí: Một chất khí. Ðó là chất khí Tiên Thiên, cũng gọi là Nguơn khí hay Nguyên khí (chất khí đầu tiên), khí nầy biến hóa rất huyền diệu.

Diệu: Khéo léo, huyền diệu.

Hóa: Biến đổi.

Diệu hóa: Biến hóa rất huyền diệu.

Tam: 3.

Thanh: Cao quí.

Tam Thanh: 3 Thanh, gồm: Thái Thanh, Thượng Thanh và Ngọc Thanh. Tam Thanh ấy tượng trưng Tam Bửu (Tinh Khí Thần) của con người: Ngọc Thanh là Tinh, Thượng Thanh là Khí, Thái Thanh là Thần. Một biến thành Ba, Ba hiệp lại thành Một.

Câu 6: Ðạo pháp của Ðức Thái Thượng rất cao siêu. Ngài có thể lấy một Nguơn khí của Ngài biến hóa thành 3 người khác rất huyền diệu, gọi là Tam Thanh.

Theo Truyện Phong Thần, Ðức Lão Tử giúp cho Khương Thượng Tử Nha (học trò của Ðức Nguơn Thỉ) phá trận Tru Tiên, do Thông Thiên Giáo chủ Triệt giáo lập ra để đánh các Tiên Xiển giáo. Trong trận nầy, Thông Thiên Giáo chủ bố trí phép thuật rất ác liệt, hung dữ và cao cường đến nỗi các vị Tiên cấp dưới không thể phá được.

Ðức Lão Tử một mình đi vào trận ở cửa Tây. Ngài xuất Tam Hoa che phủ trên đầu, lại còn hóa Linh Lung Tháp, hào quang chiếu diệu, đánh phép cùng các Ðịa Tiên trong trận. Thấy thế trận chưa núng, vì chỉ đánh vào một cửa, Ðức Lão Tử liền dùng một Nguyên Khí huyền diệu của Ngài hóa ra Tam Thanh, tức là hóa ra 3 người nữa để xông vào đánh 3 cửa trận còn lại.

* Xảy đâu có một vị Ðại Tiên, đội mão Ðạo, mặc áo hồng bào, xưng là Ngọc Thanh Ðạo Nhơn, đánh vào cửa trận phía Nam, vừa đánh vừa ca bài kệ:

Trời Ðất sanh thành đã có Ta,
Theo Thầy học đạo kể hằng hà.
Thấy điều nghịch lý ra tay giúp,
Cho rõ hai bên lẽ Chánh Tà.

* Xảy nghe bên Ðông có một vị Ðại Tiên nữa, đầu đội mão vàng, mặc áo Bát Quái, xưng là Thượng Thanh Ðạo Nhơn, đánh vào trận ở cửa Ðông, vừa ca bài kệ:

Hồng Quân Lão Tổ dạy vuông tròn,
Bố hóa Côn Lôn rõ mực son.
Trời Ðất tuy già, Ta chẳng thác,
Nước non dầu đổi, tánh hằng còn.

* Rồi bên phía Bắc, cũng có một vị Ðại Tiên, xưng là Thái Thanh Ðạo Nhơn, đánh vào cửa trận phía Bắc, vừa ca:

Từ thuở sanh Ta lúc Hỗn Mang,
Tính năm kể tháng biết muôn ngàn.
Một bầu Tạo hóa dầu ngang dọc.
Những kẻ Bàng môn khá tỏ tàng.

Như thế, Ðức Lão Tử đã dùng Nguyên Khí huyền diệu của Ngài hóa ra 3 vị Ðại Tiên gọi là Tam Thanh, để hợp với Ngài nữa là 4, cùng xông vào đánh 4 cửa của trận Tru Tiên.

Khi ấy, 4 vị vây Thông Thiên Giáo chủ đánh vùi một trận. Thông Thiên Giáo chủ đánh không lại, chỉ lo đỡ gạt thôi.

Ba vị Tam Thanh vừa tiếp sức với Ðức Lão Tử đánh Thông Thiên Giáo chủ, là do Ðức Lão Tử làm phép dùng Nguyên Khí biến hóa ra, chỉ trong một giờ là tan mất. Ðức Lão Tử chỉ muốn làm cho Thông Thiên Giáo chủ rối trí và cảm thấy yếu thế để sau nầy dễ đánh mà thôi.

Thấy phép gần mãn, Ðức Lão Tử ngâm bài kệ:

Hồng Quân truyền phép đạo đa thành,
Làm chủ Thần Tiên, độ chúng sanh.
Biến thử ba hình, ai dễ biết,
Cho hay Nguyên Khí hóa Tam Thanh.

Lão Tử ngâm kệ vừa dứt, nghe tiếng chuông inh ỏi, 3 vị Tam Thanh đồng biến mất, chỉ còn lại một mình Lão Tử. Thông Thiên Giáo chủ thất kinh nhìn sững, bị Lão Tử đập cho một gậy đổ hào quang, hoảng sợ, đằng vân bay mất.

Ðó là sự tích chép ra từ Truyện Phong Thần để hiểu về ý nghĩa của câu Kinh: "Ðạo cao nhứt khí, diệu hóa Tam Thanh."

Câu 7: Ðức hoán Hư linh,

GIẢI NGHĨA

Ðức: Những việc làm hợp lòng người, thuận đạo Trời.

Hoán: Sáng rực rỡ.

Hư linh: Cõi Hư Vô thiêng liêng. Ðó là cõi không không tuyệt mù trên thượng từng không khí mà thường gọi là cõi Thiêng liêng Hằng sống.

Câu 7: Cái Thánh đức của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân sáng rực nơi cõi Hư linh.

Câu 8: Pháp siêu quần Thánh.

GIẢI NGHĨA

Pháp: Ðạo pháp. Cái quyền pháp của đạo.

Siêu: Vượt lên trên.

Quần: Nhiều người.

Thánh: Bực Thánh, chỉ chung các Ðấng Tiên, Thánh.

Câu 8: Ðạo pháp của Ngài vượt lên trên các bực Tiên, Thánh.

Câu 9: Nhị ngoạt thập ngũ, phân tánh giáng sanh.

GIẢI NGHĨA

Nhị ngọat: Tháng hai âm lịch. Chữ Ngoạt còn đọc là Nguyệt, có 2 nghĩa: Một nghĩa là Mặt trăng, một nghĩa là tháng âm lịch, vì âm lịch tính theo sự di chuyển của Mặt trăng.

Thập ngũ: Ngày 15 tức là ngày Rằm.

Phân: Chia ra, chiết ra.

Tánh: Ðối với con người, Tâm và Tánh có chỗ khác nhau, Tâm thì ở bên trong, Tánh thì thể hiện bên ngoài. Nhưng đối với các Ðấng Tiên, Phật thì Tâm và Tánh hiệp làm một, hiệp nhứt với Chơn linh, hòa vào khối Ðại Linh Quang của Thượng Ðế.

Giáng: Ði xuống.

Sanh: Sanh ra.

Giáng sanh: Ði xuống cõi trần, đầu thai vào bụng mẹ để được sanh ra làm người nơi cõi trần.

Câu 9: Ngày rằm tháng hai, Ðức Thái Thượng chiết chơn linh giáng sanh xuống cõi trần là Ðức Lão Tử.

Như phần trước, chúng ta nói là Ðức Lão Tử giáng sanh vào đời vua Võ Ðinh nhà Thương bên Tàu. Vua Võ Ðinh lên ngôi năm 1324 trước Tây lịch, và truyền ngôi lại cho Tổ Canh năm 1265 trước Tây lịch.

Ðiều nầy rất phù hợp với 4 câu thơ của Ðức Lão Tử giáng cơ khoán thủ tự giới thiệu:

LÝ đào mầm tược tượng long lân,
LÃO luyện đơn thành Nhị xác thân.
TỬ phủ ngồi tu lo nấu thuốc,
GIÁNG sanh Thương, đợi Võ Ðinh quân. (Thương là nhà Thương, Võ Ðinh quân là vua Võ Ðinh)

Nhưng theo Sử Ký của Tư Mã Thiên, câu chuyện Ðức Khổng Tử đến hỏi Ðức Lão Tử về Lễ, thì người ta cho rằng Ðức Lão Tử cùng thời với Ðức Khổng Tử, và lớn hơn Ðức Khổng Tử chừng 30 tuổi, và như vậy, Ðức Lão Tử cũng phải sanh vào thời Ðông Châu Liệt Quốc.

Nếu theo Truyện Ðông Du Bát Tiên và Bài thi giáng cơ của Ðức Lão Tử, chúng ta tạm lấy năm sanh của Ðức Lão Tử là năm vua Võ Ðinh lên ngôi: năm 1324 trước Tây lịch, thì Ðức Lão Tử giáng sanh trước Ðức Khổng Tử là:

1324 - 551 = 773 năm

Như vậy, chẳng lẽ Ðức Lão Tử đã sống hơn 800 năm cho đến khi gặp Ðức Khổng Tử hay sao?

Ðiều nầy, đối với các nhà Khoa học thực nghiệm thì không bao giờ xảy ra. Nhưng, đứng về mặt tín ngưỡng tôn giáo và Thần Linh Học, Ðức Lão Tử có pháp thuật vô cùng huyền diệu cao siêu, khi thì Ngài trở về cõi Thượng Thiên, khi thì Ngài trở xuống cõi trần, tùy duyên hóa độ, thì việc Ngài thị hiện xuống cõi trần để gặp Ðức Khổng Tử là một trường hợp tùy duyên hóa độ của Ngài mà thôi.

Câu 10: Nhứt thân ức vạn, diệu huyền thần biến.

GIẢI NGHĨA

Nhứt thân: Một cái thân, một người.

Ức: 100 000.

Vạn: 10 000.

Ức vạn là chỉ một số thật lớn.

Diệu huyền: Huyền là sâu xa kín đáo, diệu là khéo léo. Diệu huyền hay Huyền diệu là sâu xa kín đáo khéo léo đến độ không thể thấy và biết rõ được.

Thần: Thiêng liêng mầu nhiệm.

Biến: Thay đổi, biến hóa. Thần biến là biến hóa vô cùng mầu nhiệm.

Câu 10: Một thân mà có thể biến hóa thành hằng vạn người khác, sự biến hóa vô cùng huyền diệu.

Ðức Thái Thượng Ðạo Quân có pháp thuật rất cao thâm huyền diệu, một mình Ngài ở một chỗ mà có thể hóa ra thành muôn ức người khác, hiển ứng khắp nơi, động nầy núi nọ rừng kia. Các môn đệ thành tâm cầu khẩn Ngài, thì dù ở xa xôi cách mấy đi nữa, Ngài cũng hiện đến ấn chứng liền.

Theo sách Tam Hoàng Thiên Kinh, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân hiện xuống cõi trần rất nhiều lần để cứu độ nhơn sanh. (Xem lại Câu 1)

Nay theo sách "Thực Văn Hiển Thông Khảo", Ông Các Trủy Xương có nói rằng: Ðức Lão Tử không có đời nào là không hiện xuống cõi trần, bằng nhiều hình dáng khác nhau, tên họ khác nhau:

Ðời vua Huỳnh Ðế, hiệu là Quảng Thành Tử.
Ðời vua Văn Vương, hiệu rằng Nhiếp Ấp Tử, làm quan Thủ Tân Sử.
Ðời vua Võ Vương, hiệu là Dục Thành Tử, làm quan Trụ Hạ Sử.
Ðời vua Khương Vương, hiệu là Quách Thúc Tử.
Ðầu nhà Hán, hiệu là Huỳnh Thạch Công.
Ðời vua Hán Vũ Ðế, hiệu rằng Hà Thượng Công.
Ðời nhà Ðường, Ðức Thái Thượng truyền kinh tại núi Dương Giác. Ðường Cao Tổ họ Lý nhận Ngài là Ông Tổ của dòng họ Lý, nên phong tặng Ngài là Huyền Nguơn Hoàng Ðế.
Ðời nhà Tống, vua Tống Nhân Tôn tặng hiệu Ngài là: Thái Thượng Lão Quân Hỗn Nguơn Chí Ðức Hoàng Ðế.

Câu 11: Tử khí đông lai, Quảng truyền Ðạo Ðức.

GIẢI NGHĨA

Tử khí: Tử là màu tím, khí là chất khí. Tử khí là là chất khí màu tím, trông như một vừng mây tím hiện ra trên bầu trời.

Ðông: Hướng Ðông.

Lai: Ðến, tới.

Tử khí đông lai: Một đám mây màu tím từ hướng Ðông bay tới.

Quảng: Rộng lớn.

Truyền: Trao lại cho người khác.

Ðạo Ðức: Sách Ðạo Ðức Kinh của Ðức Lão Tử là quyển sách căn bản về giáo lý của Tiên giáo.

Quảng truyền Ðạo Ðức: Truyền bá rộng rãi sách Ðạo Ðức Kinh.

Câu 11: Một đám mây màu tím từ hướng Ðông bay tới, Truyền bá rộng rãi sách Ðạo Ðức Kinh.

Câu 12: Lưu sa tây độ, Pháp hóa tướng tông.

GIẢI NGHĨA

Lưu: Chảy, nước chảy.

Sa: Cát.

Lưu sa: Dòng cát chảy, chỉ vùng sa mạc ở phía Tây nước Tàu, nơi đó có gió thổi mạnh, cuốn cát bay theo, tạo thành một dòng cát chảy như nước.

Tây: Hướng Tây.

Ðộ: Cứu giúp.

Lưu sa tây độ: Qua vùng sa mạc ở hướng Tây để cứu giúp người đời.

Pháp: Giáo lý của một tôn giáo.

Hóa: Biến thành.

Tướng: Có hình thể.

Tông: Thường đọc là Tôn, Tôn giáo.

Pháp hóa tướng tông: Cái giáo lý biến thành hình thể của một nền tôn giáo. Cái giáo lý ấy được trình bày rõ ràng trong sách Ðạo Ðức Kinh của Ðức Lão Tử. Kể từ khi Ðức Lão Tử truyền sách Ðạo Ðức Kinh cho Ông Doãn Hỷ thì Tiên giáo mới bắt đầu có hình tướng, và sau đó nhờ sách ấy, Ðạo Tiên được truyền bá rộng rãi khắp nơi.

Câu 12: Khi Ðức Lão Tử đi qua vùng sa mạc ở hướng Tây để cứu giúp người đời, Ðức Lão Tử truyền Kinh Ðạo Ðức cho Ông Doãn Hỷ, kể từ đó Tiên giáo mới thành hình tướng.

Hai câu kinh 11 và 12: Nhắc lại sự tích Ðức Lão Tử đi từ phía Ðông qua phía Tây, đến ải Hàm Cốc, dạy Ðạo cho quan giữ ải Doãn Hỷ, rồi truyền sách Ðạo Ðức Kinh cho Doãn Hỷ tu thành Tiên. Sau đó Ngài đi về hướng Tây, qua vùng sa mạc để tiếp tục cứu độ người đời.

Vào thời nhà Châu, quan Doãn giữ ải Hàm Cốc, một cửa ải quan trọng ở biên giới phía Tây nước Tàu, có tên là Hỷ, một bữa kia thấy trên Trời có một đám mây màu tím toả hào quang bay đến từ phía Ðông. Ông Doãn Hỷ toán quẻ đoán biết có một vị Thánh nhơn đến và đi qua ải. Ông bèn sai lính quét dọn cửa ải sạch sẽ, trang hoàng nghiêm chỉnh, rồi mặc triều phục chờ đợi. Xảy thấy Ðức Lão Tử ngồi trên xe trắng có trâu xanh kéo đi và Từ Giáp đánh xe, Doãn Hỷ biết đây là Thánh nhơn, liền đi ra nghinh tiếp, gọi Ðức Lão Tử là Thánh nhơn, và thành khẩn rước Ðức Lão Tử vào ải xin học Ðạo. Ðức Lão Tử nhận thấy Doãn Hỷ có lòng thành nên bằng lòng lưu lại ải dạy Doãn Hỷ học Ðạo, xong truyền cho Doãn Hỷ một quyển Kinh báu do Ðức Lão Tử viết ra gọi là Ðạo Ðức Kinh, dạy Doãn Hỷ tiếp tục tu luyện theo đó thì ắt thành Tiên.

Ông Doãn Hỷ tu luyện theo Ðạo Ðức Kinh được 1000 ngày thì đắc đạo, được Ðức Lão Tử cho phục chức cũ là Nguơn Thỉ Chưởng Giáo, cai trị 8 vạn Thần Tiên nơi cõi thiêng liêng.

Như vậy, chúng ta thấy rõ rằng, Ðạo Ðức Kinh là quyển sách căn bản của đạo Tiên, và nhờ nó mà đạo Tiên được truyền bá rộng rãi đến ngày nay.

Câu 13: Sản Tất Viên, Phương Sóc chi bối.

GIẢI NGHĨA

Sản: Sanh ra, sản xuất.

Chi: Tiếng đệm.

Bối: Bọn.

Tất Viên: Tất là cây sơn, nhựa của nó dùng làm sơn mài, Viên là cái vườn. Tất Viên là cái vườn cây sơn. Từ ngữ nầy sau đó biến thành địa danh của vùng đất có Vườn sơn, cũng như ở Châu Thành Thánh Ðịa có địa danh Vườn điều.

Ông Trang Tử được bổ làm một chức quan nhỏ tại Cổ Thành Tất Viên, thuộc ấp Mông nước Tống; người ta gọi Ông là Tất Viên Lại, vì thế Ông lấy chữ Tất Viên làm hiệu.

Vậy, Tất Viên là tên hiệu của Ông Trang Tử.

Phương Sóc: Ông Ðông Phương Sóc, một vị Tiên thời vua Hán Võ Ðế bên Tàu.

Câu 13: Sản xuất ra các Ông Trang Tử và Ðông Phương Sóc.

Hai vị nầy học theo giáo lý của Ðức Lão Tử mà tu luyện thành Tiên.

Sau đây là sơ lược Tiểu sử của Trang Tử và Ðông Phương Sóc:

TRANG TỬ: tên là Trang Châu (Chu), tự là Tử Hưu, người ở ấp Mông nước Tống. Năm sanh của Ông ước lượng vào năm thứ 7 đời vua Châu Liệt Vương (369 trước Tây lịch) và năm mất lối năm thứ 29 đời vua Châu Noãn Vương (288 trước Tây lịch), Trang Tử thọ 82 tuổi.

Theo sách Kim Cổ Kỳ Quan của Bảo Ung: Trang Tử thường ngủ ngày, mơ thấy hóa thành bướm, bay nhởn nhơ trong vườn hoa thơm cỏ lạ, lòng rất vui thích, khi tỉnh dậy vẫn còn thấy như ở vai có 2 cánh chuyển động. Trang sinh lấy làm lạ, và lâu lâu thì lại nằm mơ như thế.

Một hôm, Trang sinh đang ngồi trong phòng học nghe Ðức Lão Tử giảng Kinh Dịch. Khi giảng kinh xong, Trang sinh bèn đem giấc mơ hỏi Thầy là Lão Tử. Ðức Lão Tử là vị Ðại Thánh, biết được lai lịch tiền kiếp, nói cho Trang sinh biết: Trang sinh vốn là một con bướm trắng trong khi Hỗn Ðộn mới phân. Trời sanh nước, nước sanh cây, cây tươi hoa thạnh, con bướm trắng hút tinh chất của trăm hoa, đoạt được tư chất của trăng sao, nên được trường sanh bất tử, cánh lớn như bánh xe, sau bay qua Cung Diêu Trì, hút trộm nhụy hoa Bàn Ðào, bị con chim Thanh loan giữ Vườn Ðào của Tây Vương Mẫu mổ chết. Hồn bướm thác sanh xuống trần là Trang Châu.

Vì Trang Châu có căn trí khác phàm, đạo tâm kiên cố, thờ Ðức Lão Tử làm thầy, học theo Ðạo Tiên, nay được thầy chỉ rõ tiền căn, như mộng mới tỉnh, tự thấy 2 nách sanh gió, mườn tượng như bướm vỗ cánh bay, nên coi sự được mất, nhục vinh ở cõi đời nầy như nước chảy mây trôi, không quan tâm đến nữa.

Ðức Lão Tử biết Trang sinh đã giác ngộ, nên đem bí quyết của Ðạo Ðức Kinh truyền cho. Trang sinh chuyên cần tu tập, bèn được phép phân thân ẩn mình, xuất thần biến hóa.

Từ đó, Trang Châu phế bỏ việc đời, từ biệt Ðức Lão Tử, đi chu du sơn thủy, xưng là Trang Tử.

Sau, Trang Tử đi ẩn cư tại núi Nam Hoa, viết ra sách đề là Nam Hoa Kinh, cũng gọi là sách Trang Tử, xiển dương Ðạo Lão. Bộ sách nầy rất hay, được truyền lại đến ngày nay.

ÐÔNG PHƯƠNG SÓC: Sanh vào đời vua Hán Võ Ðế, tu theo Ðạo Tiên. Việc tu Tiên của Ông Ðông Phương Sóc, có sách chép như sau: Ông Ðông Phương Sóc muốn đi tu, xảy gặp một vị Tiên xưng là Huỳnh My Lão Tổ. Sóc hỏi:

- Chẳng hay Ðại Tiên được bao nhiêu tuổi?

Ông Tiên đáp:

- Mỗi 3000 năm ta phản cốt rửa mỡ một lần, 3000 năm ta thay da một lần, 3000 năm ta thay xương một lần. Cộng chung ta đã hớp khí trời được 9000 năm.

Sóc nghe vậy liền xin thọ giáo đi tu và sau đó đắc đạo thành Tiên.

Ông Ðông Phương Sóc có luyện được một lá Bàn Ðào dùng làm phép ẩn thân hay lắm. Ông có viết một quyển sách đặt tên là Thần Dị Kinh, thuật lại những việc lạ thường ở ngoài Ðịa Cầu 68 của chúng ta và những chuyện lạ ở Bắc Cù Lư Châu.

Ông là Tổ Sư Tán Tiên, có giáng cơ cho nhiều bài thi rất tức cười, nên được tặng danh hiệu là Thần linh trào phúng.

Câu 14: Ðơn tích vi mang.

GIẢI NGHĨA

Ðơn: Còn đọc Ðan, nghĩa là thuốc quí, thuốc Tiên. Luyện Ðơn hay Luyện Kim Ðơn là từ ngữ đặc biệt dùng trong Ðạo Tiên để chỉ việc luyện đạo, luyện Tam Bửu: Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt, đắc đạo.

Tích: Nói tách bạch ra, phân tích, giải thích ra cho rõ ràng.

Vi: Rất nhỏ.

Mang: Cái mũi nhọn.

Ðơn tích: Phân tách rõ ra về việc luyện Kim Ðơn.

Vi mang: Chỉ cái gì nhỏ khéo cực điểm, không thể nhìn thấy; ý nói tế vi mầu nhiệm hay vi diệu huyền bí.

Câu 14: Việc luyện Kim Ðơn (của Ðạo Tiên) phân tích nói cho rõ ra thì thật là huyền vi mầu nhiệm.

CHÚ Ý: Chữ Hán [微 芒] phiên âm ra viết là: VI MANG, thì mới đúng chánh tả, theo Hán Việt Từ Ðiển của Ðào duy Anh quyển II trang 546, và quyển I trang 545.

Câu 15: Khai Thiên Ðịa Nhơn Vật chi tiên.

GIẢI NGHĨA

Khai: Mở ra.

Thiên Ðịa: Trời và Ðất.

Nhơn vật: Người và loài vật.

Chi: Tiếng đệm.

Tiên: Trước.

Câu 15: Khi mở ra Trời Ðất, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân là Ðấng có trước loài người và loài vật.

Câu kinh nầy nói về sự tích của Ông Bàn Cổ, một hóa thân của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân.

Theo sách Tam Hoàng Thiên Kinh, sự tích của Bàn Cổ như sau:

Tại núi Côn Lôn, có một cục đá tròn và lớn, đã thọ khí Âm Dương rất lâu đời, nên đã thâu được các tánh linh thông của vũ trụ mà tạo thành thai người. Sau 10 tháng 16 ngày, đúng giờ Dần một tiếng nổ vang, khối đá linh ấy nứt ra, sản xuất một vị Linh Chơn hy hữu, một người đầu tiên của thế gian, được gọi là Bàn Cổ.

Vừa được sanh ra thì vị ấy tập đi, tập chạy, tập nhảy, hớp gió nuốt sương, ăn hoa quả lần lần lớn lên, mình cao trăm thước (thước Tàu), đầu như rồng, có lông đầy mình, sức mạnh vô cùng. Một ngày kia, Bàn Cổ chạy qua hướng Tây, bắt gặp một cái búa và một cái dùi, ước nặng ngàn cân. Bàn Cổ, tay phải cầm búa, tay trái cầm dùi, ra sức mở mang cõi trần. Ngài ước ao Trời Ðất sáng tỏ thì người và vật mới hóa sanh được. Ngài ao ước vừa dứt tiếng thì tiếng sấm nổ vang, Trời trong Ðất yên, vạn vật liền sanh ra đủ cả. Ngài chỉ Trời là Cha, Ðất là Mẹ, muôn dân là con.

Ngài chính là tôn chủ sáng lập thế gian, nên gọi Ngài là Thái Thượng Ðạo Quân. Ngài tự xưng là Thiên tử (con của Trời) cai trị muôn dân. Ngài là vị vua đầu tiên của thế gian nên gọi là Thiên Hoàng.

Bàn Cổ là Thiên Hoàng, sanh nơi Dần Hội, thọ được 18000 tuổi rồi mới qui Thiên.

Tiếp theo Thiên Hoàng là Ðịa Hoàng, rồi Nhơn Hoàng, gọi chung là Tam Hoàng.

Sự tích nầy cũng có chép trong Truyện Thần Thoại Trung Quốc, rất hoang đường, nhưng cũng cho biết được rằng, Tam Hoàng gồm Thiên Hoàng, Ðịa Hoàng và Nhơn Hoàng là 3 vị vua đầu tiên của nước Tàu, và Ðức Thái Thượng Ðạo Quân chính là Bàn Cổ, là Thiên Hoàng và cũng là thủy tổ của loài người (người Tàu).

Câu 16: Ðạo kinh hạo kiếp.

GIẢI NGHĨA

Ðạo: Cái nguyên lý đầu tiên tạo thành Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.

Kinh: Trải qua.

Hạo: Nhiều.

Kiếp: Khoảng thời gian từ lúc sanh ra cho tới lúc bị tiêu diệt. Kiếp người là một đời người.

Câu 16: Ðạo trải qua nhiều kiếp lâu đời.

Câu 17: Càn Khôn oát vận.

GIẢI NGHĨA

Càn Khôn: 2 quẻ trong Bát Quái, quẻ Càn tượng trưng Trời, quẻ Khôn tượng trưng Ðất. Càn Khôn là Trời Ðất.

Oát: Chuyển xoay đi.

Vận: Xoay vần chuyển động.

Câu 17: Trời Ðất xoay chuyển vận hành.

CHÚ Ý: Chữ Hán [斡 運] phiên âm ra viết là: OÁT VẬN, thì mới đúng chánh tả, theo Hán Việt Từ Ðiển của Ðào duy Anh, quyển II trang 87. Chỗ nầy cũng giống như Câu 13 KNHTÐ: Oát triền vô biên.

Câu 18: Nhựt nguyệt chi quang.

GIẢI NGHĨA

Câu 18: Nhựt nguyệt chi quang.

Nhựt: Mặt trời.

Nguyệt: Mặt trăng.

Chi: Tiếng đệm.

Quang: Sáng, ánh sáng.

Câu 18: Ðạo như ánh sáng mặt trời, mặt trăng, soi sáng khắp nơi.

Câu 19: Ðạo pháp bao la.

GIẢI NGHĨA

Ðạo Pháp: Từ ngữ nầy có ý nghĩa rất sâu xa, rộng rãi, nên phải tùy trường hợp mà giải thích cho sát với ý nghĩa của câu kinh. Từ ngữ Ðạo Pháp đã có giải thích nơi Câu 6 Kinh Phật giáo: Ðạo Pháp trường lưu.

Sau đây xin ghi lại tóm tắt nghĩa của 2 chữ Ðạo Pháp:

I. ÐẠO:

1. Theo Thánh giáo của Ðức Chí Tôn (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.II.3), Ðạo có nghĩa thông thường là con đường tu, tức Ðạo là tôn giáo.

2. Theo cách chiết tự chữ Ðạo Hán văn, Ðạo là nguyên lý đầu tiên tạo thành Càn Khôn Vũ Trụ vạn vật. Ðạo có hàm ý Âm Dương hiệp nhứt, có tịnh có động, tịnh thì vô hình, động thì sanh hóa.

3. Theo Ðạo Ðức Kinh, Ðức Lão Tử giải về Ðạo: Ðạo là nguồn sanh hóa Càn Khôn Vũ Trụ vạn vật. Nó vô hình vô sắc, vô thinh vô xú. Ðạo dường như có dường như không và có 3 trạng thái: Di, Hi, Vi. Di là xem mà chẳng thấy, Hi là lóng mà chẳng nghe, Vi là bắt mà chẳng nắm được.

Như vậy, Ðạo chính là Hư Vô chi Khí, mà Hư Vô chi Khí sanh ra Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế. Khi đã có Ðức Chí Tôn rồi thì Ngài tạo ra 2 nguyên lý Âm Dương, rồi phối hợp Âm Dương tạo Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật. Vậy Ðạo cũng chính là Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 32: "Khí Hư Vô sanh có một Thầy. Còn mấy Ðấng Thầy kể đó, ai sanh? Ấy là ÐẠO. Các con nên biết. Nếu không có Thầy thì không có chi trong Càn Khôn Vũ Trụ nầy, mà nếu không có Hư Vô chi Khí thì không có Thầy."

II. PHÁP:

Pháp, được dịch từ tiếng Phạn Dharma. Từ ngữ nầy xuất phát từ động từ Dhri, nghĩa là là mang, giữ lại.

1. Nghĩa thông thường, Pháp là pháp luật, các luật pháp đặt ra để quản lý việc Ðời hay việc Ðạo.

2. Pháp là giáo lý, giáo thuyết của một tôn giáo, cho nên nói: Thuyết pháp là thuyết giảng giáo lý của tôn giáo.

3. Pháp là Pháp thuật, Phép vẽ bùa bắt ấn, niệm chú. Thí dụ như: Phép Tắm Thánh, Phép Giải Oan, ...

4. Pháp là một trong Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 52: "Thầy khai Bát Quái mà tác thành CKTG nên mới gọi là Pháp, Pháp có mới sanh ra CKVV rồi mới có người, nên gọi là Tăng. Thầy là Phật, chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các Ðạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy."

5. Nghĩa tổng quát của Pháp: Tất cả sự, việc, hiện tượng, nhỏ hay lớn, thấy được hay không thấy được, tốt hay xấu, chơn thật hay hư vọng, đơn giản hay phức tạp, đều được gọi là Pháp.

III. ÐẠO PHÁP:

Ðạo Pháp là các Pháp của Ðạo. Pháp là hiện tướng của Ðạo. Pháp là cách mô tả, diễn đạt chơn thực cái Ðạo. Người ta do theo Pháp mà thấu suốt được Ðạo, tức là do theo Pháp mà thấy và biết được Thượng Ðế.

Thượng Ðế thì vô hình vô ảnh, không thể lấy mắt thường mà nhìn thấy được, cũng không thể sờ mó được, cũng không thể dùng máy móc tối tân mà đo lường được.

Muốn biết, muốn nghe, muốn giao tiếp được với Thượng Ðế, thì duy có cách là dò theo và nương theo Pháp.

Pháp không phải là Thượng Ðế, nhưng biết quan sát các Pháp thì thấu suốt Thượng Ðế tức là thấu suốt được Ðạo.

Bao: Bọc lại, trùm lên.

La: Tấm lưới.

Bao la: Tấm lưới bao trùm lên, ý nói rộng lớn bao gồm tất cả.

Câu 19: Ðạo Pháp bao la, nghĩa là Ðạo Pháp rộng lớn mênh mông như tấm lưới lớn bao trùm lên tất cả.

Câu 20: Cửu Hoàng Tỹ Tổ.

GIẢI NGHĨA

Cửu Hoàng: 9 vị vua. Hoàng là ông vua. Chín vị vua nầy thuộc thời thái cổ và thượng cổ nước Tàu, nối tiếp làm vua để khai hóa cho dân chúng thuở đó.

Khởi đầu là Tam Hoàng: Thiên Hoàng, Ðịa Hoàng, Nhơn Hoàng.

Kế tiếp là Tam Vương: Ngũ Long, Hữu Sào, Toại Nhân.

Tiếp theo là Tam Ðế: Phục Hy, Thần Nông, Huỳnh Ðế.

Công đức của 9 vị vua nầy đối với nhơn loại rất lớn, đưa con người thoát khỏi tình trạng ăn lông ở lỗ, tiến hoá lên một mức cao, biết làm quần áo, biết trật tự lễ nghĩa, biết cất nhà, dùng lửa nấu chín thức ăn, biết cày cấy, biết trị bịnh, ..

Theo sách Tam Hoàng Thiên Kinh, vị vua đầu tiên Thiên Hoàng là Bàn Cổ, một hóa thân của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân. Ðó là vị vua đầu tiên của nhơn loại và là thủy tổ của nhơn loại. Các vị vua kế tiếp đều là dòng dõi của Bàn Cổ.

Tỹ Tổ: còn đọc là Tỵ Tổ, là Ông Tổ đầu tiên sanh ra một dòng họ và đứng đầu dòng họ đó. Người ta cũng gọi ông ấy là Thủy Tổ. Như Ông Bàn Cổ là Tỹ Tổ hay Thủy Tổ của nhơn loại.

Câu 20: Cửu Hoàng Tỹ Tổ là Ðức Thái Thượng Ðạo Quân là Thủy tổ của 9 vị vua đầu tiên khai hóa nhơn loại, và cũng là Thủy tổ của nhơn loại.

Câu 21: Ðại thiên Thế giới, dương tụng từ ân.

GIẢI NGHĨA

Ðại: Lớn.

Thiên: Ngàn (1000).

Thế giới: Những quả địa cầu trong Càn Khôn Vũ Trụ. Theo Vũ Trụ quan của Ðạo Cao Ðài, Vũ trụ của Ðức Chí Tôn gồm Tam thiên Thế giới (3000 Thế giới) và Thất thập nhị Ðịa (72 Ðịa cầu).

Ðại thiên Thế giới, nghĩa đen là một ngàn lớn Thế giới, ý nói 3000 Thế giới trong Vũ trụ của Ðức Chí Tôn.

Dương: Ðưa lên cao cho mọi người thấy và biết.

Tụng: Khen ngợi, ca ngợi.

Từ: Lòng thương yêu của người trên đối với kẻ dưới, lòng thương yêu chúng sanh.

Ân: Ơn huệ.

Câu 21: Cả ba ngàn Thế giới, mọi người đều ca tụng đề cao lòng từ bi và ơn đức của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân.

Câu 22: Vĩnh kiếp quần sanh, ngưỡng kỳ huệ đức.

GIẢI NGHĨA

Vĩnh: Lâu dài, vĩnh viễn.

Kiếp: Khoảng thời gian từ lúc sanh ra cho đến lúc mất đi. Một kiếp sống là một đời người.

Vĩnh kiếp: Lâu đời nhiều kiếp, chỉ thời gian lâu dài lắm.

Quần: Nhiều người đông đảo.

Quần sanh đồng nghĩa với chúng sanh, chỉ tất cả các loài sanh vật trong Càn Khôn Vũ Trụ, gồm: Thảo mộc, Thú cầm, Nhơn loại. Với nghĩa hẹp, Chúng sanh hay Quần sanh là nhơn loại.

Ngưỡng: Ngửa mặt trông lên với lòng kính trọng và yêu mến.

Kỳ: Trợ ngữ.

Huệ: Ơn huệ.

Ðức: Ðiều tốt lành hạp lòng người, thuận đạo Trời.

Câu 22: Chúng sanh vĩnh viễn đời đời ngưỡng nhờ ơn đức của Ngài.

Câu 23: Ðại Thần, Ðại Thánh, Chí Cực, Chí Tôn.

GIẢI NGHĨA

Ðại: Lớn.

Thần: Bực Thần.

Thánh: Bực Thánh.

Chí: Rất.

Cực: Cái đầu cùng.

Tôn: Kính trọng.

Ðại Thần: Bực Thần lớn.

Ðại Thánh: Bực Thánh lớn.

Chí cực: Rất cao, cao tột.

Chí tôn: Rất được tôn kính.

Câu 23: Bực Thần lớn, bực Thánh lớn, cao tột, rất được tôn kính.

Câu 24: Tiên Thiên Chánh nhứt, Thái Thượng Ðạo Quân, Chưởng Giáo, Thiên Tôn.

GIẢI NGHĨA

Tiên Thiên: Trước khi tạo dựng Trời Ðất.

Chánh: Ðứng đầu.

Nhứt: Một, số 1.

Tiên Thiên Chánh nhứt: Vào thời Tiên Thiên, Ngài là người số 1, đứng đầu. Ðức Thái Thượng Ðạo Quân là vị Tiên lớn nhứt, được sanh ra trước nhứt, đứng đầu Ðạo Tiên.

Chưởng giáo: Chưởng quản Ðạo Tiên, tức là Giáo chủ Ðạo Tiên.

Thiên Tôn: Nghĩa đen là được kính trong nơi cõi Trời. Ðây là phẩm tước do Ðức Chí Tôn phong thưởng. Ðức Chí Tôn là Ðại Thiên Tôn, còn các Ðấng Phật, Tiên, Thánh, đều là Thiên Tôn.

Câu 24: Vào thời Tiên Thiên, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân là Ðấng thứ nhứt đứng đầu Ðạo Tiên, và Ngài là Giáo chủ Ðạo Tiên. Ngài là Ðấng Thiên Tôn.

Câu 25: Nam mô Thái Thượng Ðạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.

GIẢI NGHĨA

Câu niệm: Nam mô Thái Thượng Ðạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.

Ðạo Tổ: Tổ sư Ðạo giáo, tức là Giáo chủ Tiên giáo. (Ðạo giáo đồng nghĩa với Tiên giáo) (Xem lại phần đầu).

Tam Thanh: 3 Thanh gồm: Ngọc Thanh, Thượng Thanh và Thái Thanh.

Ứng Hóa: Ứng là đáp lại, Hóa là biến hóa. Ứng Hóa là biến hoá để đáp ứng lại.

2. Giải nghĩa Tiên giáo.

Tiên giáo: Ðạo Tiên, là một tôn giáo dạy người tu luyện thành Tiên.

Thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân làm Giáo chủ Tiên giáo.

Qua thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân giáng sanh xuống trần là Lão Tử để xiển dương Tiên giáo, Ngài viết ra quyển sách "Ðạo Ðức Kinh" để làm giáo lý căn bản cho Tiên giáo. Do đó, Tiên giáo cũng được gọi là Lão giáo vì do Ðức Lão Tử làm Giáo chủ; và Tiên giáo cũng còn được gọi là Ðạo giáo, vì Tiên giáo dạy về chữ ÐẠO rất cao siêu. Cho nên trong danh hiệu của Ðức Thái Thượng có chữ Ðạo: Thái Thượng Ðạo Quân.

Ngài giáng sanh xuống trần làm Lão Tử, nên người ta cũng gọi Ngài là: Thái Thượng Lão Quân.

Giải nghĩa chữ ÐẠO theo Tiên giáo:

1. Trước hết, giải nghĩa chữ ÐẠO [道] bằng cách chiết tự theo chữ Nho:

Viết chữ Ðạo, bắt đầu 2 phết [] tượng trưng Âm Dương, gạch dưới một gạch [] là chữ Nhứt, tượng trưng Âm Dương hiệp nhứt, là cơ sanh hóa, kế dưới là chữ Tự [自] nghĩa là chính mình, tự tri, tự giác, tự giải thoát, chớ không ai làm giùm mình. Trên dưới ráp lại thành chữ Thủ [首] nghĩa là đứng đầu, trên hết, là nguồn gốc của Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật. Bên hông thêm chữ Tẩu [] là chạy, tức là vận chuyển biến hóa.

Vậy trong chữ ÐẠO có hàm ý Âm Dương, động tịnh, động thì sanh hoá, tịnh thì vô hình vô ảnh.

2. Ðức Lão Tử giải về chữ ÐẠO rất kỹ trong sách Ðạo Ðức Kinh, tóm tắt như sau:

ÐẠO là cái nguyên lý hoàn toàn huyền diệu, không thể bàn được, không thể định danh được, không thể dùng lý trí mà hiểu được. Muốn hiểu ÐẠO, phải dùng Tâm mà thôi.

Vậy ÐẠO là cái nguyên lý vô danh. Ðức Lão Tử tả cái Vô Danh ấy như sau:

"Có một cái tự nó sanh ra nó. Cái ấy có trước Trời Ðất, yên lặng trống không, đứng riêng một mình mà không nghiêng không lệch, lưu hành khắp nơi mà không mòn mỏi. Cái ấy khá gọi là nguồn sanh hóa thiên hạ. Ta chẳng biết tên gì, mượn chữ gọi là ÐẠO."

Vậy ÐẠO, chẳng những không tên mà còn vô hình, vô sắc, vô thinh, vô xú (không mùi) nữa.

Nói như thế thì ÐẠO là cái KHÔNG. Nhưng Ðức Lão Tử sợ người ta hiểu lầm ÐẠO là trống rổng, Ngài nói thêm:

"ÐẠO dường như không mà cũng dường như có, và ÐẠO có 3 trạng thái: Di, Hi, Vi.

- Di là xem mà chẳng thấy,
- Hi là lóng mà chẳng nghe,
- Vi là bắt mà không nắm được.

Tóm lại, ÐẠO là cái vô danh, vô hình, vô sắc, vô thinh, dường như có, dường như không. Ấy là cái lẽ huyền nhiệm định vị Tạo Ðoan, định vị Trời Ðất, hóa sanh vạn vật.

Theo Ðạo Cao Ðài, ÐẠO ấy chính là Hư Vô chi Khí, hoá sanh ra Ðức Chí Tôn, và Ðức Chí Tôn dùng Khí ấy biến thành 2 khí Âm Dương, rồi hoá sanh Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.

Do đó, từ ngữ Ðạo giáo được định nghĩa là:

Ðạo giáo là tôn giáo dạy về Ðạo, tức là dạy người ta biết cái nguyên lý của Ðạo và sự biến hoá của Ðạo. Cứu cánh của Ðạo giáo là dạy và luyện Tâm Tánh con người để trở thành một vị Tiên.

Cho nên Ðạo giáo cũng là Tiên giáo, và lại do Ðức Lão Tử truyền bá rộng rãi nên cũng gọi là Lão giáo.

Chí tâm qui mạng lễ nghĩa là cúng lạy với tất cả ý chí và tâm hồn, đem mình về vâng chịu nghe theo. (Xem giải nghĩa chi tiết nơi phần đầu bài Kinh Phật giáo).