Kinh Cúng Tứ Thời: Kinh Nho giáo
ID025975 - Thiên Kinh : Kinh Cúng Tứ Thời: Kinh Nho giáo 🖶 Print this Thiên Kinh
Kinh : Giải Nghĩa Kinh Thiên-Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

1. Kinh Nho giáo.

Kinh Nho giáo
Khổng Thánh Chí Tâm qui mạng lễ

KINH: GIẢI NGHĨA:
1. Quế Hương nội điện, Văn Thỉ thượng cung. Ở trong Ðiện Quế Hương, Phía trên hết là Cung Văn Thỉ, nơi thường ngự của Ðức Khổng Tử.
2. Cửu thập ngũ hồi, Chưởng thiện quả ư thi thơ chi phố. 95 lần giáng sanh xuống cõi trần rồi trở về, Gieo trái lành nơi vườn thơ văn kinh sách.
3. Bá thiên vạn hóa, Bồi quế thọ ư Âm chất chi điền. Trăm ngàn muôn lần biến hóa, Vun bồi cây quế nơi ruộng phước đức.
4. Tự lôi trữ bính, linh ư phụng lãnh. Văn tự chế thành thì có sấm nổ, văn tự như có chứa ngọn lửa để soi sáng và ghi chép kiến thức, kinh nghiệm của người xưa, nên linh như chim phụng trên núi.
5. Chí như ý từ, tường ư ngao trụ. Ðến như cái ý tưởng thương yêu chúng sanh, tốt lành như ở núi Ngao trụ.
6. Khai nhơn tâm tất bổn ư đốc thân chi hiếu. Sự khai mở cái Tâm của con người ắt hẳn gốc ở tại sự hết lòng hiếu thảo với cha mẹ.
7. Thọ quốc mạch tất tiên ư trí chúa chi trung. Sự vững bền của quốc gia ắt hẳn trước tiên ở tại sự hết lòng trung thành với nước.
8. Ứng mộng bảo sanh, thùy từ mẫn khổ. Ðức Khổng Tử có lòng nhơn từ thương người khổ nạn nên thường chiêm bao thấy Ông Châu Công Ðán dạy nhiều điều bảo tồn sự sống cho nhơn sanh.
9. Ðại nhơn, Ðại hiếu, Ðại Thánh, Ðại từ. Lòng nhơn lớn, lòng hiếu lớn, Bực Thánh lớn, đức từ bi lớn.
10. Thần văn, Thánh võ, Hiếu Ðức Trung Nhơn. Văn võ song toàn tài giỏi tột bực, Có đủ 4 đức: Hiếu, Ðức, Trung, Nhơn.
11. Vương tân sách phụ. Thượng khách của vua, thường bày kế hoạch giúp vua.
12. Nho tông khai hóa. Ðạo Nho mở ra giáo hóa nhơn sanh.
13. Văn Tuyên tư lộc, Hoằng nhơn Ðế Quân. Ðức Khổng Tử lo việc ban phước lộc cho thế gian, là vị Ðế Quân nhơn đức rộng lớn.
14. Trừng chơn chánh quang , Bửu quang từ tế. Thiên Tôn. Trong sạch, ngay thật,sáng tỏ, báu sáng, nhơn từ, cứu giúp. Là một Ðấng Thiên Tôn.

(Lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn)

Chí tâm qui mạng lễ nghĩa là cúng lạy với tất cả ý chí và tâm hồn, đem mình về vâng chịu nghe theo.

Câu 1: Quế Hương nội điện, Văn Thỉ thượng cung.

GIẢI NGHĨA

Quế Hương: Mùi thơm của cây quế. Quế là một loại cây quí, vỏ cây có mùi rất thơm, vị ngọt và cay nồng, tính ấm, dùng làm thuốc trị bịnh. Ở đây, Quế Hương là tên riêng của một Ðiện nơi cõi thiêng liêng.

Nội: Ở trong.

Ðiện: Toà nhà lớn.

Quế Hương nội điện: Trong điện Quế Hương nơi cõi thiêng liêng.

Văn Thỉ: Văn là văn chương, Thỉ còn viết là Thủy, là bắt đầu, nguồn gốc. Văn Thỉ là khởi đầu về văn chương. Ở đây, Văn Thỉ là tên riêng của một Cung nơi cõi thiêng liêng.

Thượng: Trên, ở trên.

Cung: Tòa nhà. Cung nhỏ hơn Ðiện. Trong một Ðiện có nhiều Cung.

Văn Thỉ thượng cung: Cung Văn Thỉ ở phía bên trên.

Câu 1: Ở cõi thiêng liêng có một tòa nhà lớn gọi là Ðiện Quế Hương, trong đó một Cung ở trên hết gọi là Cung Văn Thỉ. Ðó là nơi thường ngự của Ðức Khổng Tử, Giáo chủ Nho giáo.

Câu 2: Cửu thập ngũ hồi, Chưởng thiện quả ư thi thơ chi phố.

GIẢI NGHĨA

Cửu thập ngũ: Chín mươi lăm (95).

Hồi: Trở về, ý nói giáng sanh xuống trần rồi trở về cõi thiêng liêng, tức là Luân hồi.

Cửu thập ngũ hồi: 95 lần luân hồi.

Chưởng: còn đọc là Chủng, nghĩa là gieo, thí dụ như gieo lúa hay gieo đậu.

Thiện: Lành, tốt.

Quả: Cái trái.

Thiện quả: Trái lành.

Chưởng thiện quả: Gieo trái lành thì sẽ mọc lên cây lành.

Ư: Nơi, ở tại.

Thi: Thơ văn, bài văn có vần điệu.

Thơ: tức là Thư, nghĩa là kinh sách.

Chi: Tiếng đệm.

Phố: Vườn trồng cây và hoa kiểng.

Thi thơ chi phố: Vườn thơ văn kinh sách.

Câu 2: Ðức Khổng Tử luân hồi 95 lần để gieo trái lành nơi vườn thơ văn kinh sách.

Ðức Khổng Tử dùng văn chương thi phú, viết thành kinh sách để dạy dỗ nhơn sanh điều lành, điều đạo đức nhơn nghĩa, hiếu để trung tín, mà ăn ở cho phải đạo, hầu tạo ra một nhân lành thì sẽ hưởng được quả lành.

Ðó là Luật Nhân Quả: Chưởng qua đắc qua, chưởng đậu đắc đậu. Nghĩa là: Gieo dưa thì được dưa, gieo đậu thì hái được đậu.

Lấy kinh sách làm vườn, lấy điều lành làm giống, vun phân tưới nước thì sẽ mọc lên cây lành và sẽ sanh trái lành.

Câu 3: Bá thiên vạn hóa, Bồi quế thọ ư Âm chất chi điền.

GIẢI NGHĨA

Bá: Trăm (100).

Thiên: Ngàn (1000).

Vạn: Muôn, mười ngàn (10 000).

Hóa: Biến đổi.

Bá thiên vạn hóa: Trăm ngàn muôn lần biến hóa. Ý nói: Biến hóa rất nhiều lần, không kể hết được.

Bồi: Vun đất vào gốc cây để nuôi cây tươi tốt.

Quế: Cây quế.

Thọ: còn đọc là Thụ, nghĩa là cây cối, thí dụ như: Cổ thụ: Cây lớn và già, sống lâu.

Quế thụ: Cây quế.

Bồi quế thụ: Vun bồi cây quế.

Ư: Nơi, ở tại.

Âm chất: Việc làm lành cốt yếu tạo phước đức nơi cõi thiêng liêng, có Thần, Thánh chứng biết, không phô trương ra cho người đời biết.

Chi: Tiếng đệm.

Ðiền: Ruộng.

Âm chất chi điền: Ruộng phước đức.

Câu 3: Trăm ngàn muôn lần biến hóa, vun bồi cây quế nơi ruộng phước đức.

"Ruộng đây là tỷ với Tâm. Tâm không ai giồi trau. Ðạo nơi Tâm, thì Tâm ví như Ðiền, có Ðiền mà chẳng có cày bừa đặng đem hột lúa gieo vào cho đặng trổ bông đơm hột, thì ruộng tất bỏ hoang, bỏ hoang thì sâu bọ rắn rít vào ẩn trú. Người mà có Tâm như vậy, ra thế nào?

Ruộng sẵn, giống sẵn, cày bừa sẵn, duy có công làm cho đất phì nhiêu đặng cho buổi gặt hưởng nhờ, mà không chịu làm, thế thì phải bị diệt tận chơn linh." (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. II. 53)

Cây quế, trong văn chương, được dùng để chỉ người có học thức tài giỏi đỗ đạt, có đức hạnh, có địa vị cao và tiếng tăm lớn.

Ðiển tích: Ông Ðậu Võ đời nhà Tống, người đất Yên Sơn, tánh tình ngay thẳng, lại ham làm phước, đến 30 tuổi mà vợ chưa sanh được con. Vợ chồng đi lễ chùa Diên Thọ để cầu tự, giữa đường gặp vàng bỏ rơi, ông liền giữ lấy rồi tìm người mất vàng trả lại, lòng ngay chánh cảm lòng Trời, nên Trời cho sống thêm 2 kỷ nữa và cho sanh 5 người con trai, lớn lên đều học giỏi và thi đậu Tiến Sĩ, làm quan hiển đạt, nổi danh là "Yên Sơn Ngũ Quế " (5 cây quế ở đất Yên Sơn).

Trung Quốc Sử có chép rằng: "Tống Ðậu quân, hữu tế nhơn âm công, sanh ngũ tử câu chiết quế." Nghĩa là: Ðời Tống, Ông họ Ðậu, có lòng cứu giúp người, tạo được âm chất công đức, nên sanh được 5 người con trai đều bẻ cành quế.

Câu Kinh: Bồi quế thọ ư âm chất chi điền, có ý nói: Ðức Khổng Tử khuyên người đời ráng làm việc phước thiện đặng lập âm chất cho con cháu hưởng lâu dài về sau. Cái âm chất ấy ví như miếng ruộng tốt, còn con cháu ví như cây quế cây hòe, hễ trồng lên miếng ruộng âm chất đó thì chắc chắn sẽ lớn lên tươi tốt sum suê, sanh trái lành quả ngọt, hưởng được lâu dài.

Còn thoảng như không lo làm âm chất, mà lo chạy theo bạc tiền danh vọng, dù sắm được bao nhiêu ruộng vườn nhà cửa đi nữa, thì khi chết cũng không mang theo được, để lại cho con cháu, chúng sẽ ỷ lại, tiêu xài phung phí, ăn không ngồi rồi, chẳng bao lâu cũng bán sạch, sự nghiệp tiêu tan.

Câu 4: Tự lôi trữ bính, linh ư phụng lãnh.

GIẢI NGHĨA

Tự: Từ lúc.

Lôi: Sấm, tiếng sấm.

Trữ: Cất chứa.

Bính: Ngọn lửa cháy sáng. (Còn một âm nữa là Bỉnh).

Linh: Thiêng liêng, thường nói là Linh thiêng.

Ư: Ở tại.

Phụng: Con chim phụng, hay chim phượng, một con vật linh trong hàng Tứ Linh: Long, Lân, Qui, Phụng.

Lãnh: Núi.

Tự lôi trữ bính: Từ lúc tiếng sấm nổ vang nháng sáng.

Câu nầy ý nói lúc chế thành chữ viết bên Tàu. Sử Ký chép rằng: Ông Thương Hiệt, đời vua Huỳnh Ðế, trên xem hình sao, dưới dựa theo hình sự vật mà chế ra chữ viết (chữ Nho), nên gọi là văn tự tượng hình.

Thí dụ như chữ Khẩu [口] là miệng, phải để trống ở giữa; chữ Mã [馬] là ngựa, thì phải có 4 cái chấm bên dưới để tượng hình 4 cái chưn; chữ Môn [門] là cửa, phải có hình 2 cánh cửa ghép lại.

Khi văn tự được chế thành thì Trời sanh mưa, sấm chớp nổ vang, người người kinh sợ.

Linh ư phụng lãnh: Linh thiêng như con chim phụng trên núi.

Chim phụng có tánh linh, khi thời loạn lạc thì ẩn mình trong hang núi, khi sắp thái bình thì bay ra cất tiếng gáy báo hiệu có vua Thánh ra đời.

- Lúc vua Nghiêu xuất thế, có chim phụng hoàng bay đến đậu nơi sân.

- Ðời vua Trụ nhà Thương, có chim phụng gáy tại núi Kỳ Sơn ở xứ Tây Kỳ, ứng điềm Thánh Chúa Văn Vương, Võ Vương thống nhứt nước Tàu, mở ra nhà Châu, đem lại thái bình an lạc.

Câu 4: Tự lôi trữ bính, linh ư phụng lãnh:

Nghĩa là: Từ lúc văn tự được chế thành thì Trời sanh sấm nổ nháng sáng, nhờ có văn tự mới ghi chép những lời giáo huấn của Thánh Hiền; nhờ đó, con người học hỏi, mở sáng trí khôn ngoan. Như vậy, văn tự linh thiêng như chim phụng trên núi, vì nhờ văn tự mà con người có thể học hỏi và tiến hóa để trở thành Thánh nhân.

Nhờ các bậc Thánh Hiền của Ðạo Nho mà người Trung Hoa có được một thứ chữ viết tượng hình có ý nghĩa rất cao siêu. Khi cắt nghĩa bằng cách chiết tự thì mới thấy rõ ý nghĩa sâu xa của Thánh Hiền dụng tâm đặt vào trong chữ viết đó.

Do đó người xưa rất coi trọng chữ viết, vì cho đó là chữ của Thánh Hiền, nên khuyên người đời khi thấy giấy có viết chữ Nho rớt rơi, không nên chà đạp mà nên lượm lấy rồi đem đốt đi.

Kinh Sám Hối có câu:

Thấy giấy chữ rớt rơi lượm lấy,
Ðốt ra tro bỏ chảy dòng sông.
Thủy triều vận tải biển đông,
Lòng hằng dường ấy, phước đồng ăn chay.

Câu 5: Chí như ý từ, tường ư ngao trụ.

GIẢI NGHĨA

Chí: Ðến, tới.

Như: Giống như.

Ý: Ý nghĩ, tư tưởng, ý tưởng.

Từ: Lòng thương yêu chúng sanh.

Tường: Tốt đẹp, may mắn.

Ư: Ở tại.

Ngao: là con Cự Ngao.

Trụ: là hòn núi. Ðây là từ ngữ mà khi xưa đọc là Trụ, nhưng ngày nay đọc là Tụ. Ngao trụ là hòn núi dùng làm chỗ ở cho các vị Tiên có những con Cự Ngao đỡ vững, theo điển tích sau đây:

Trong sách Thần Dị Kinh của Ông Ðông Phương Sóc, Tổ Sư Tán Tiên, Ông có chép như sau: Tại Bắc Câu Lư Châu có một ngọn núi cao, chư Tiên thường đến đó ở. Núi có từ thời tạo thế, song cái đặc biệt là núi ấy không chưn, trôi nổi trên mặt biển, nhô lên hay thụp xuống tùy theo thủy triều. Chư Tiên lo sợ để lâu núi ấy sẽ trôi qua chỗ khác nên tâu với Thượng Ðế xin giữ núi ấy cho chắc. Ðức Thượng Ðế sai 15 con Cự Ngao, to lớn hơn sấu voi thập bội, đến đỡ núi ấy cho vững, không cho trôi đi nữa. Số 15 con Cự Ngao được chia làm 2 phiên, mỗi phiên là 6 muôn năm, cứ luân phiên nhau mà giữ núi ấy.

Vậy Ngao trụ là ngọn núi Tiên nổi trên mặt biển có các con Cự Ngao đỡ vững.

Câu 5: Ðến như cái ý tưởng thương yêu chúng sanh, tốt lành như ở núi Ngao Trụ.

Câu 6: Khai nhơn tâm tất bổn ư đốc thân chi hiếu.

GIẢI NGHĨA

Khai: Mở ra.

Nhơn tâm: Cái Tâm của con người. Bản chất của Tâm vốn lành, nên gọi là Lương Tâm. Người làm ác là vì cái Tâm bị vật dục che phủ nên không còn điều khiển được hành động của mình. Tất: Ắt hẳn.

Bổn: Cái gốc.

Ư: Ở tại.

Ðốc: Rất, lắm.

Thân: Gần gũi thương yêu, chỉ cha mẹ.

Chi: Tiếng đệm.

Hiếu: Hết lòng phụng dưỡng cha mẹ.

Câu 6: Dịch nghĩa câu Kinh từng chữ: Sự khai mở cái Tâm của con người, ắt hẳn, gốc ở tại, rất, hiếu thảo với cha mẹ.

Ý nói: Ðạo của Ðức Khổng Tử chủ trương lấy việc khai mở cái Tâm của con người làm gốc, bởi vì cái Tâm do Trời ban cho vốn lành và sáng suốt, thường khiến con người làm điều hay sự phải, giục con người mến đạo đức, chuộng tinh thần, biết thuận tùng Thiên lý.

Muốn khai mở cái Tâm, Ðức Khổng Tử lấy sự Hiếu thảo với cha mẹ làm căn bản, bởi vì trong trăm hạnh thì hiếu đứng đầu. Người bất hiếu là vì để cái Tâm bị Lục dục Thất tình che lấp trở nên mờ ám.

Ðây là điểm đồng nhứt và cũng là căn bản của Tam giáo: Nho, Lão, Thích. Tam giáo đều dạy lấy Tâm làm gốc:

Nho giáo dạy: Tồn Tâm dưỡng Tánh,
Lão giáo dạy: Tu Tâm luyện Tánh,
Thích giáo dạy: Minh Tâm kiến Tánh.

Trong Ðạo Cao Ðài, Ðức Phật Mẫu giáng cơ dạy về chữ TÂM như sau:

Gắng sức trau giồi một chữ Tâm,
Ðạo đời muôn việc khỏi sai lầm.
Tâm thành ắt đạt đường tu vững,
Tâm chánh mới mong mối Ðạo cầm.
Tâm ái nhơn sanh an bốn biển,
Tâm hòa thiên hạ trị muôn năm.
Ðường Tâm cửa Thánh dầu chưa vẹn,
Có buổi hoài công bước Ðạo tầm.

Câu 7: Thọ quốc mạch tất tiên ư trí chúa chi trung.

GIẢI NGHĨA

Thọ: Sống lâu, lâu dài.

Quốc: Nước, quốc gia.

Mạch: Cái ống dẫn máu để cho máu lưu thông đem dưỡng khí và chất bổ đến nuôi sống các tế bào trong cơ thể.

Quốc mạch: Chỉ chung tất cả sinh hoạt của dân chúng trong một quốc gia. Mỗi người dân trong nước ví như một tế bào trong cơ thể. Tế bào nhờ mạch máu nuôi dưỡng mới hoạt động được, thì người dân cũng nhờ các hoạt động của các cơ quan, các ngành nghề trong nước mà có đời sống an ninh và đầy đủ.

Thọ quốc mạch: là lâu dài các sinh hoạt của dân chúng trong nước: Ý nói sự trường tồn của quốc gia.

Tất: Ắt hẳn.

Tiên: Trước.

Ư: Ở tại.

Trí: Rất, hết lòng.

Chúa: cũng đọc là Chủ, người làm Chúa, làm vua một nước.

Chi: Tiếng đệm.

Trung: Lòng trung thành.

Vua là người đứng đầu một nước, nên vua tượng trưng cho nước. Quan niệm trung với vua là trung với nước, chớ không phải trung thành với một cá nhân ông vua hay với dòng họ của ông vua.

Câu 7: Dịch nghĩa câu kinh từng chữ: Sự lâu dài của quốc gia, ắt hẳn, trước tiên, ở tại, hết lòng trung thành với nước.

Ý nói: Muốn cho quốc gia được vững bền thì trước tiên, người dân phải hết lòng trung thành với nước.

Hai câu Kinh 6 & 7 nói lên tôn chỉ của Ðạo Nho là khai mở cái Tâm của con người cho được sáng tỏ, bằng cách dạy con người 2 điều căn bản là: Hiếu và Trung.

Trời ban cho con người một cái Tâm thiện lương chơn chánh để điều khiển xác thân đi theo đường đạo đức, nhưng vì lục dục thất tình che lấp cái Tâm, làm cho con người trở nên u mê tăm tối, đi vào nẻo vạy tà. Nay cần phải vẹt ra để cho cái Tâm được sáng tỏ.

Trong mục đích đó, Nho giáo chủ trương:

Trong gia đình thì phải hết lòng Hiếu với cha mẹ.
Ðối với quốc gia dân tộc thì phải hết lòng Trung.

Ðây là một chủ trương rất tích cực và thực tế, để khai mở Tâm Tánh con người cho được sáng tỏ tốt đẹp. Hiếu và Trung là 2 đức tánh căn bản của con người, vì các đức tánh khác đều bắt nguồn từ Trung và Hiếu cả.

Câu 8: Ứng mộng bảo sanh, thùy từ mẫn khổ.

GIẢI NGHĨA

Ứng: Ðáp lại.

Mộng: Chiêm bao.

Ứng mộng: Hiện ra một điềm chiêm bao để đáp lại sự cầu nguyện.

Bảo: Gìn giữ, bảo vệ.

Sanh: Sự sống.

Bảo sanh: Bảo vệ sự sống.

Ứng mộng bảo sanh: Ứng cho một điềm chiêm bao do lòng đạo đức mong muốn, để chỉ vẽ cách thức bảo vệ sự sống cho nhơn sanh.

Ðối với những vị mà nguyên căn là những Chơn linh cao trọng lãnh lịnh giáng trần giáo hoá và làm lợi ích cho nhơn sanh, các Ðấng Thiêng liêng thường đến trong giấc chiêm bao để mách bảo những điều sắp xảy ra và những phương cách giải quyết để bảo tồn sự sống cho nhơn sanh. Những sự mách bảo nầy thường dưới dạng ngụ ý, tượng trưng, cần phải suy nghĩ kỹ mới thấu rõ được.

Chúng ta đọc tiểu sử của Ðức Phạm Hộ Pháp, chúng ta thấy lúc Ngài còn trẻ tuổi, Ngài bị mê đi nhiều lần, và lần đáng nhớ nhất là năm 17 tuổi. Ngài chiêm bao thấy Ngài về Bạch Ngọc Kinh gặp Ðức Chí Tôn, được Ðức Chí Tôn cho ăn bánh và uống nước, trong đó Ðức Chí Tôn ngụ ý cho biết về những việc sau nầy của Ngài.

Ðức Khổng Tử lãnh lịnh Ðức Chí Tôn giáng sanh xuống trần để phục hưng Nho giáo, nên Ngài thường được các Ðấng Thiêng liêng đến trong giấc chiêm bao mách bảo nhiều việc quan trọng. Tương truyền, Ðức Khổng Tử thường nằm chiêm bao thấy Ông Châu Công Ðán dạy cho nhiều điều để làm lợi ích cho nhơn sanh.

Thùy: Rủ xuống, rủ lòng nghĩ tới.

Từ: Lòng thương yêu chúng sanh.

Mẫn: Lo lắng xót thương.

Thùy từ mẫn khổ: Rủ lòng nhơn từ thương người khổ nạn.

Biết bao cảnh khổ não của nhơn sanh nơi cõi trần, mỗi người gặp khổ não một cách. Nói như vậy không phải là cõi trần không có cái vui, cái hạnh phúc, nhưng cái vui và cái hạnh phúc ấy chỉ xảy ra rất ít và cũng không tồn tại lâu dài, còn cái buồn và cái khổ thì kéo đến liên tiếp. Làm một cuộc tổng kết thì cái vui sướng chỉ có một mà cái buồn khổ nhiều gấp 10 lần hay hơn nữa.

Ðức Khổng Tử đứng hàng Phật vị, có cái Tâm từ bi của Phật, thấy các cảnh khổ não của chúng sanh thì đem lòng thuơng xót, nhứt là trong thời đại của Ngài là thời Xuân Thu Chiến Quốc, loạn lạc khắp nơi, đâu đâu cũng đầy dẫy cảnh khói lửa chết chóc, giết hại lẫn nhau, mạnh được yếu thua, khôn còn dạy mất, đạo đức suy đồi. Ngài muốn cứu vớt nhơn sanh bằng cách đem học thuyết của Ngài dạy cho các từng lớp dân chúng và các hàng vua quan phải biết tôn trọng sự công bằng và mạng sống của con người, mỗi người phải làm đúng theo chức năng của mình, để cùng nhau tạo lập một cuộc sống thanh bình, an lạc, ấm no như thời của 2 vua Nghiêu Thuấn.

Câu 8: Ðức Khổng Tử có lòng nhơn từ thương người khổ nạn, nên Ngài thường nằm chiêm bao thấy Ông Châu Công Ðán dạy cho nhiều điều để bảo tồn sự sống của nhơn sanh.

Câu 9: Ðại nhơn, Ðại hiếu, Ðại Thánh, Ðại từ.

GIẢI NGHĨA

Ðại: Lớn.

Nhơn: Lòng thương người mến vật, thương khắp chúng sanh.

Hiếu: Hết lòng phụng dưỡng cha mẹ.

Thánh: Bực Thánh.

Từ: Lòng thương yêu chúng sanh.

Câu 9: Lòng nhân lớn, lòng hiếu thảo lớn, bực Thánh lớn, đức từ bi lớn.

Câu 10: Thần văn, Thánh võ, Hiếu Ðức Trung Nhơn.

GIẢI NGHĨA

Thần: Tài giỏi như Thần.

Văn: Việc văn chương, nghĩa tổng quát là chỉ những việc thuộc về văn hóa, chánh trị, giáo dục.

Võ: Việc võ bị quân sự, giữ gìn an ninh trật tự và bảo vệ tổ quốc.

Thánh: Tài giỏi như Thánh.

Ðức: Những việc làm hợp lòng người, thuận lẽ Trời, tạo được phước đức.

Trung: Lòng trung thành.

Câu 10: Văn võ song toàn, tài giỏi tột bực như Thần như Thánh, gồm đủ 4 đức tốt: Hiếu, Ðức, Trung, Nhơn.

Câu 11: Vương tân sách phụ.

GIẢI NGHĨA

Câu 11: Vương tân sách phụ:

Vương: Vua.

Tân: Khách.

Sách: Kế hoạch, kế sách, sách lược.

Phụ: Giúp đỡ.

Vương tân: Khách của vua. Khi đi chu du qua các nước chư Hầu, Ðức Khổng Tử được các vua chư Hầu đối đãi vào bực thượng khách, kính trọng là bực tôn sư để nghe Ngài giảng giải về phép trị nước an dân, làm cho dân giàu nước mạnh.

Sách phụ: Giúp cho kế hoạch trị nước an dân.

Hễ vua chư Hầu nào có lòng yêu mến dân chúng, biết tôn trọng đạo đức thì Ðức Khổng Tử ở lại đó giúp vua kế hoạch cải cách việc chánh trị, văn hóa và kinh tế; còn vị vua nào vô đạo, ham mê tửu sắc thì Ngài bỏ đi qua nước khác. Sự đi hay ở của Ngài tùy thuộc vào cái Ðạo của Ngài có được thực hiện hay không mà thôi.

Câu 11: Ðức Khổng Tử là bực thượng khách của các vị vua chư Hầu, thường giúp bày kế hoạch trị nước an dân.

Câu 12: Nho tông khai hóa.

GIẢI NGHĨA

Câu 12: Nho tông khai hóa.

Nho: Ðạo Nho.

Tông: Cũng đọc là Tôn, nghĩa là tôn giáo. Nho tông là Nho giáo.

Khai: Mở ra.

Hóa: Thay đổi, dạy cho người ta thay đổi từ xấu ra tốt, từ dở thành hay.

Câu 12: Ðạo Nho mở ra để giáo hóa nhơn sanh.

Câu 13: Văn Tuyên tư lộc, Hoằng nhơn Ðế Quân.

GIẢI NGHĨA

Văn Tuyên: Tên thụy của Ðức Khổng Tử do các vua đời sau truy tặng cho Ngài, với tấm lòng ngưỡng mộ, kể ra:

Khi Hớn Lưu Bang dẹp xong Hạng Võ, vua đi ngang nước Lỗ, đến làng Khuyết Lý, nơi sanh ra Ðức Khổng Tử, vào miếu bái lễ Ngài và truy phong là: Khổng Thánh Tiên Sư.

Vua Ðường Huyền Tông truy tặng:Văn Tuyên Vương.

Vua Tống Chơn Tông truy phong là: Chí Thánh Văn Tuyên Vương.

Vua Thái Tổ nhà Nguyên truy phong Ngài là: Ðại Thánh Chí Thánh Văn Tuyên Vương.

Vua Gia Tịnh nhà Minh tặng là: Chí Thánh Tiên Sư.

Vua Thạnh Trị nhà Thanh truy tặng là: Chí Thánh Tiên Sư Văn Tuyên Vương Khổng Tử.

Nếu gom tất cả các danh hiệu mà các vị vua đã truy tặng Ðức Khổng Tử, ta được danh hiệu:

"Ðại Thánh Chí Thánh Tiên Sư Văn Tuyên Vương Khổng Tử".

Ngày nay thời TKPÐ, Ðức Khổng Tử có tước hiệu là: Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

Tư lộc: Tư là lo việc, quản lý; lộc là phước lộc. Tư lộc là lo việc ban phước lộc cho thế gian về thi cử văn chương và ban cho phẩm tước nơi chốn quan trường.

Văn Tuyên tư lộc: Ðức Khổng Tử có nhiệm vụ coi việc ban phước lộc cho thế gian về văn chương thi cử và phẩm tước nơi quan trường.

Hoằng: Rộng lớn.

Nhơn: Lòng thương người mến vật, thương khắp chúng sanh.

Ðế Quân: Phẩm tước rất cao trọng nơi cõi thiêng liêng do Ðức Chí Tôn phong thưởng.

Hoằng nhơn Ðế Quân: Ðức Khổng Tử là một vị Ðế Quân nhơn đức rộng lớn.

Câu 13: Ðức Khổng Tử coi về việc ban phước lộc cho thế gian, Ngài là vị Ðế Quân nhơn đức rộng lớn.

Câu 14: Trừng chơn chánh quang , Bửu quang từ tế. Thiên Tôn.

GIẢI NGHĨA

Trừng: Trong sạch.

Chơn: Thật, chơn thật.

Chánh: Ngay thẳng, không tà vạy.

Quang: Sáng.

Bửu: Quí báu.

Từ: Lòng thương yêu chúng sanh.

Tế: Cứu giúp.

Thiên Tôn: Phẩm tước nơi cõi thiêng liêng do Ðức Chí Tôn phong thưởng.

Câu 14: Ðức Khổng Tử có những đức tánh: Trong sạch, chơn thật, ngay thẳng, sáng tỏ, báu sáng, từ bi hay cứu giúp, là một Ðấng Thiên Tôn.

Câu niệm: Nam mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

Khổng Thánh: Ðức Thánh họ Khổng, tức là Ðức Thánh Khổng Tử.

Tiên Sư: Danh từ để học trò gọi Thầy dạy học khi Thầy đã chết. Các nhà Nho thường gọi Ðức Khổng Tử là Khổng Thánh Tiên Sư.

Hưng Nho: Phục hưng Ðạo Nho, làm cho Ðạo Nho hưng thịnh.

Thạnh Thế: Ðời thịnh vượng.

Nhờ Ðức Khổng Tử phục hưng Ðạo Nho, làm cho học thuyết Nho giáo có hệ thống, đưa lên ngang hàng với Tiên giáo và Phật giáo. Nước Tàu nhờ Nho giáo mà được thịnh vượng và hùng cường trong một thời gian dài.

Ðức Khổng Tử là Giáo chủ Nho giáo thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ. Ngài là một vị Ðế Quân, cũng là một vị Thiên Tôn. Ðịa vị của Ngài nơi cõi thiêng liêng rất cao trọng, vào hàng Phật vị, đứng ngang hàng với Ðức Phật Thích Ca và Ðức Lão Tử.

Thời Tam Kỳ Phổ Ðộ, Ðức Quan Thánh Ðế Quân, đại diện Ðức Khổng Tử cầm quyền Nho giáo, làm Ðệ Tam Trấn Oai Nghiêm Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Tinh hoa của Giáo lý Nho giáo được Ðạo Cao Ðài áp dụng để chấn hưng nền phong hóa và luân lý của dân tộc VN, tạo nên một khuôn mẫu cho toàn thế giới noi theo, đúng vói câu Thánh ngôn của Ðức Chí Tôn: "Nam phong thử nhựt biến Nhơn phong." (Phong hóa của người VN ngày ấy biến thành phong hóa của nhơn loại).

Ðó chính là chủ trương NHO TÔNG CHUYỂN THẾ của Ðạo Cao Ðài.

2. Giải nghĩa Nho giáo.

Nho giáo là tôn giáo dạy về Nhơn Ðạo, có nguồn gốc từ các vị vua thời thượng cổ là Phục Hy, Thần Nông, Huỳnh Ðế, được Ðức Khổng Tử phục hưng, sắp xếp lại có hệ thống, xiển dương rộng thêm, tạo thành một học thuyết có giá trị cao siêu, đứng ngang hàng với Phật giáo và Lão giáo.

Do đó, Nho giáo còn được gọi là Khổng giáo, đạo của Ðức Khổng Tử.

Chiết tự chữ NHO: Theo Hán văn, chữ Nho [儒] gồm 2 chữ hiệp lại: một bên chữ Nhơn [亻] và một bên chữ Nhu [需]

- Nhơn là người.
- Nhu là cần dùng, nhu cầu, cũng có nghĩa là chờ đợi.

Vậy theo cách chiết tự trên, NHO là hạng người lúc nào cũng được cần dùng đến để giúp cho nhơn quần xã hội biết cách ăn ở và hành động cho thuận lòng người, họp lẽ Trời. Hạng người nầy cũng là hạng người có tài năng, học thức, luôn luôn ở thế đợi chờ, khi có người cần đến thì sẵn sàng đem tài năng ra giúp.

Những người Nho học thường chuyên về mặt thực tế hơn lý tưởng, có khuynh hướng nhập thế hơn là yếm thế, nhập thế để làm lợi ích cho nhơn quần xã hội, không yếm thế trốn lánh việc đời mà tìm lấy sự an vui cho riêng mình.

Ðức Khổng Tử đã có thời đi chu du thiên hạ, mưu cầu ra làm quan để đem cái học của Ngài áp dụng, tạo lập một xã hội thanh bình, an lạc và thạnh vượng.

Các môn đệ của Ngài và các nhà Nho đời sau đều noi theo đường lối nhập thế đó của Ðức Khổng Tử.

Nho giáo bắt nguồn từ thời thượng cổ với vua Phục Hy chế ra Tiên Thiên Bát Quái, chế ra Lễ Nhạc, quần áo. Các vị vua tiếp theo như vua Thần Nông, Huỳnh Ðế, chế ra lịch, chữ viết, dạy dân họp chợ, cày cấy, dùng thảo mộc trị các thứ bịnh, vv... Ðến thời vua Văn Vương nhà Châu, nhà vua lại chế ra Hậu Thiên Bát Quái, diễn giải Kinh Dịch.

Ðức Khổng Tử gom góp tất cả sách vở thời xưa, sắp xếp và san định lại, giải thích thêm cho sáng tỏ, tạo thành Ngũ Kinh: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, và sau đó Ngài trước tác sách Xuân Thu để bày tỏ cái Ðạo của Ngài.

Ðức Khổng Tử không phải là người sáng lập Nho giáo. Ngài chỉ phục Hưng Nho giáo, và nhờ Ðức Khổng Tử mà Nho giáo trở thành một học thuyết có hệ thống, gồm cả 2 phần: Hình Nhi Thượng học và Hình Nhi Hạ học, áp dụng rất hiệu quả trong công cuộc trị nước an dân. Do đó, Ðức Khổng Tử được xưng tụng là: Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

Như vậy, Ðức Khổng Tử là Giáo chủ Nho giáo của thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ. Còn thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ, chúng ta có thể xem 3 vị vua Phục Hy, Thần Nông, Huỳnh Ðế là 3 vị Tổ Sư của Nho giáo.

Trong tập "Phổ Cáo Chúng Sanh", trang 5: Thánh Ngôn của Ðức Chí Tôn ngày 25-2-1926:

"Trọng Ni (Khổng Phu Tử) là Văn Xương Tiên hạ trần đặng thừa mạng Thầy làm Chưởng giáo Nhơn đạo, lo xong phận sự thì Thầy đến độ hồi cựu vị."

TÓM TẮT TIỂU SỬ của ÐỨC KHỔNG TỬ:

Ðức Khổng Tử sanh ngày 27 tháng 8 năm Canh Tuất (551 trước Tây lịch), năm thứ 21 đời vua Châu Linh Vương, ở sông Thù, ấp Tu, làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Ðông, nước Lỗ.

Các sách xưa không thống nhứt nhau về ngày sanh của Ðức Khổng Tử. Xin nêu ra 3 tài liệu:

- Nho giáo của Trần trọng Kim, Ngài sanh vào mùa Ðông tháng 10 năm Canh Tuất.
- Khổng Môn Liệt Truyện của Tổng Hội Khổng Học VN: Ngài sanh ngày mùng 1 tháng 11 năm Canh Tuất.
- Tự Ðiển Thành Ngữ Ðiển Tích của Diên Hương: Ngài sanh nhằm ngày 27 tháng 8 năm Canh Tuất.

Ðại Lễ Vía Ðức Khổng Tử trong Ðạo Cao Ðài là ngày 27 tháng 8 âm lịch hằng năm. Ðó là ngày Lễ Kỷ Niệm Thánh đản của Ðức Khổng Tử, đúng theo Từ Ðiển của Diên Hương.

Thân phụ của Ngài là Thúc Lương Ngột, mẹ là Trưng Tại, họ Nhan. Hai Ông Bà lên núi Ni Khâu cầu tự, nên chừng sanh Ngài thì lấy tên núi mà đặt tên là Khâu, tự là Trọng Ni.

Theo truyền thuyết, trước khi sanh Ngài, Bà Nhan thị nằm mơ thấy có người dắt con Kỳ Lân đến cho và nói rằng: "Thủy Tinh chi tử, kế suy Châu vi Tố vương." Nghĩa là: Con của Thủy Tinh, nối nhà Châu suy, mà làm vua không ngôi. Bà sờ vào con Kỳ Lân thì nó hét lên làm bà giật mình tỉnh dậy, kế chuyển bụng và sanh ra Ngài.

Lúc sanh Ngài, Bà Nhan thị vào ở trong hang đá Không Tang, núi Nam Sơn, nghe trên Trời có âm nhạc và tiếng nói: Trời cảm lòng cầu nguyện cho sanh con Thánh. Khi gần sanh Ngài, hang đá nứt, một dòng suối chảy ra. Bà Nhan thị lấy nước suối ấy tắm cho Ngài, tắm xong, suối liền khô.

Ngài cao lớn và có nhiều tướng lạ: Môi trâu, tay cọp, vai uyên, lưng rùa, miệng rộng, mắt lồi, tai to, răng lộ, trán gồ, mình cao 9 thước 6 tấc (thước Tàu), đi nhanh.

Ngài học rộng, biết nhiều, thấy xa. Vua nước Lỗ dùng Ngài làm quan Tư Khấu, song chẳng bao lâu, vua đắm mê Nữ nhạc, bỏ việc triều chánh. Ngài cản ngăn không được, liền từ chức, đi chu du các nước chư Hầu như: Tề, Vệ, Trần, Sở, Tống, thuyết phục các vua chư Hầu, mong đem cái Ðạo của Ngài ra giúp đời.

Nhưng đến đâu, các vua chư Hầu đều chuộng Bá đạo, nên không dùng Vương đạo của Ngài.

Tuy nhiên các vua chư Hầu rất kính trọng Ngài, xem Ngài là thượng khách. Mãi đến khi Ðức Khổng Tử được 68 tuổi, Ngài mới quay trở về nước Lỗ, mở trường dạy học ở Hạnh Ðàn, san định Ngũ Kinh và trước tác sách Xuân Thu.

Học trò của Ðức Khổng Tử có tới 3000 người (Tam thiên đồ đệ), trong đó có 72 người được liệt vào bực Hiền (Thất thập nhị Hiền) mà Nhan Hồi đứng đầu, là bực Ðại Hiền.

Ngày mất của Ðức Khổng Tử ghi trong các sách cũng không thống nhứt nhau, nhưng năm mất đều ghi là năm Nhâm Tuất (479 trước Tây lịch), Ðức Khổng Tử hưởng thọ 73 tuổi.

- Sách Nho giáo của Trần trọng Kim ghi: Ngài mất nhằm tháng 4.

- Sách Khổng Môn Liệt Truyện ghi: Ngài mất nhằm ngày Kỷ Sửu tháng 4.

- Từ Ðiển Thành Ngữ Ðiển Tích của Diên Hương: Ngài mất ngày 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất.