Kinh Cúng Tứ Thời: Bài Dâng Trà
ID025980 - Thiên Kinh : Kinh Cúng Tứ Thời: Bài Dâng Trà 🖶 Print this Thiên Kinh
Kinh : Giải Nghĩa Kinh Thiên-Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Bài Dâng Trà
(Thài theo giọng Ðảo Ngũ Cung)

KINH: GIẢI NGHĨA:
1. Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương, Mùi vị thơm ngon của trà như hoa mai mùa Xuân, hoa cúc mùa Thu.
2. Kỉnh lễ thành tâm hiến bửu tương. Lòng thành thật kính dâng lễ vật là chung trà quí.
3. Ngưỡng vọng Từ Bi gia tế phước, Thành kính trông mong Ðức Chí Tôn cứu giúp và ban thêm phước lành.
4. Khai minh Ðại Ðạo hộ thanh bường. Khai minh nền Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ của Ðức Chí Tôn để gìn giữ thái bình và an lạc cho nhơn sanh.

(Lạy 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm Câu Chú của Thầy).

Câu 1: Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương.

GIẢI NGHĨA

Mai xuân: Hoa mai vào mùa Xuân.

Nguyệt cúc: Hoa cúc vào mùa Thu. Do chữ: Cúc nguyệt, là tháng 8 âm lịch, thuộc mùa Thu, vì vào tháng 8 nầy, hoa cúc tới mùa nở rộ.

Nói về Hoa thì mỗi mùa trong năm có một thứ hoa đặc trưng. Mùa Xuân thì có hoa mai, mùa Hạ thì có hoa sen, mùa Thu thì có hoa cúc, mùa Ðông thì có hoa đào.

Vị: Cái cảm giác do lưỡi khi nếm cho biết.

Hương: Mùi thơm. Vị trà hương: Mùi vị thơm ngon của trà.

Câu 1: Mùi vị thơm ngon của trà như hoa mai mùa Xuân, hoa cúc mùa Thu.

Câu 2: Kỉnh lễ thành tâm hiến bửu tương.

GIẢI NGHĨA

Kỉnh lễ: Dâng phẩm vật lên để tỏ lòng kính trọng.

Thành tâm: Lòng thành thật.

Hiến: Dâng lên.

Bửu: Quí báu.

Tương: Chất nước để uống.

Bửu tương: Nước trà quí.

Câu 2: Lòng thành thật kính dâng lễ vật là chung trà quí.

Câu 3: Ngưỡng vọng Từ Bi gia tế phước.

GIẢI NGHĨA

Ngưỡng: Ngửa mặt trông lên với lòng kính trọng và yêu mến.

Vọng: Trông mong.

Ngưỡng vọng: Trông chờ, mong mỏi một cách thành kính.

Từ Bi: chỉ Ðức Chí Tôn.

Gia: Thêm.

Tế: Cứu giúp.

Phước: Ðiều may mắn tốt lành.

Câu 3: Thành kính trông mong Ðức Chí Tôn cứu giúp và ban thêm phước lành.

Câu 4: Khai minh Ðại Ðạo hộ thanh bường.

GIẢI NGHĨA

Khai: Mở ra.

Minh: Sáng.

Khai minh: Mở ra cho sáng.

Ðại Ðạo: Nền Ðạo lớn, đó là Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, gọi tắt là Ðạo Cao Ðài.

Hộ: Giữ gìn, che chở.

Thanh bường: do chữ Thanh bình nói trại ra cho đúng vận thơ. Thanh bình là cảnh dân chúng sống bình yên an lạc.

Câu 4: Khai minh nền Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ của Ðức Chí Tôn để gìn giữ thái bình và an lạc cho nhơn sanh.

Ðạo Cao Ðài là Ðại Ðạo và xứng đáng là một nền Ðại Ðạo, vì 3 yếu tố chánh sau đây:

- Thứ nhứt, Giáo chủ Ðạo Cao Ðài là Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế, là Ðấng lớn nhứt, được tôn kính nhứt, quyền pháp nhứt trong Càn Khôn Vũ Trụ nầy. Ðấng ấy là vua của Nhựt Nguyệt Tinh, là chủ của chư Thần Thánh Tiên Phật, là Ðại Từ Phụ của toàn cả chúng sanh.

- Thứ nhì, Giáo lý của Ðạo Cao Ðài là nguyên căn Giáo lý của các tôn giáo, nên nó dung hợp được các Giáo lý của Tam giáo và Ngũ Chi. Cho nên Ðạo Cao Ðài sẽ thành công trong việc qui nguyên Tam giáo và hiệp nhứt Ngũ Chi.

- Thứ ba, Ðạo Cao Ðài có nhiệm vụ tận độ 92 ức Nguyên nhân và phổ độ chúng sanh trong thời gian Thất ức niên (700 000 năm), một thời gian rất dài nơi cõi trần, mà không có một tôn giáo nào trước đây có thời gian phổ độ lâu dài như thế.

Trà tượng trưng THẦN, tức Chơn linh hay Linh hồn.

Khi thài xong Bài Dâng Trà, chúng ta nhớ cầu nguyện: "Con xin dâng Linh hồn của con cho Ðức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng."

Dâng Trà là dâng Bửu thứ 3 rồi chấm hết, chúng ta nên cầu nguyện dâng luôn cả Thể xác, Chơn thần và Linh hồn: "Con xin dâng cả Thể xác, Chơn thần và Linh hồn của con cho Ðức Chí Tôn tùy phương sử dụng."