Kinh Tận độ Vong linh: Kinh Ðưa Linh Cữu
ID025995 - Thiên Kinh : Kinh Tận độ Vong linh: Kinh Ðưa Linh Cữu 🖶 Print this Thiên Kinh
Kinh : Giải Nghĩa Kinh Thiên-Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Kinh Ðưa Linh Cữu
(Giọng Nam ai)

KINH: GIẢI NGHĨA:
1.
2.
Cầu các Trấn Thần linh trợ lịnh,
Giữ Chơn hồn xa lánh xác trần.
Cầu xin các vị Thần linh trấn nhậm ở địa phương nầy giúp lịnh gìn giữ Chơn thần của người chết lánh xa xác phàm.
3.
4.
Nam mô Ðịa Tạng thi ân,
Ðưa đường Thiên cảnh, lánh gần Phong đô.
Xin cầu nguyện với Ðức Ðịa Tạng Vương Bồ Tát ban ơn đưa linh hồn người chết lên đường về cõi Thiêng liêng Hằng sống, lánh xa không cho đến gần cõi Âm quang.
5.
6.
Nam mô Tam Trấn Hư Vô,
Oai Nghiêm độ rỗi Cao đồ qui nguyên.
Xin cầu nguyện với Tam Trấn Oai Nghiêm nơi cõi Hư Vô mầu nhiệm độ rỗi linh hồn của người tín đồ Cao Ðài được trở về với Ðức Chí Tôn.
7.
8.
Nam mô Tam giáo diệu huyền,
Tuyệt luân Bát Nhã đưa thuyền độ vong.
Xin cầu nguyện với Ba Ðấng Giáo Chủ Tam giáo huyền diệu, xin đem chiếc thuyền Bát Nhã cứu giúp các vong hồn thoát qua biển khổ, dứt khỏi luân hồi.
9.
10.
Nam mô Bạch Ngọc Công Ðồng,
Thần Tiên Thánh Phật mở vòng trái oan.
Xin cầu nguyện với các Ðấng Thần Thánh Tiên Phật trong Hội Công Ðồng nơi Bạch Ngọc Kinh, xin cởi mở ra cho hết vòng oan trái.
11.
12.
Nam mô Thượng Ðế Ngọc Hoàng,
Mở cơ tận độ nhẹ nhàng chơn linh.
Xin cầu nguyện với Ðức Chí Tôn mở ra cơ quan Tận độ nhơn sanh để linh hồn người chết được nhẹ nhàng siêu thăng.
13.
14.
Cửa Cực Lạc thinh thinh rộng mở,
Rước vong hồn lui trở ngôi xưa.
Cửa Cực Lạc Thế Giới mở rộng thênh thang để rước các vong hồn trở lại ngôi vị cũ.
15.
16.
Tòa sen báu vật xin đưa,
Chơn linh an ngự cho vừa quả duyên.
Xin đưa Chơn linh đến an ngự trên tòa sen quí báu cho tương xứng với công đức tu hành.

(Niệm 3 lần Câu Chú của Thầy).

GIẢI NGHĨA

Kinh Ðưa Linh Cữu do Ðức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ ban cho để đồng nhi tụng trong suốt thời gian đưa linh cữu từ nơi phát hành đến nơi chôn cất.

Linh cữu: Linh là linh hồn người chết, cữu là cái áo quan. Linh cữu là cái áo quan trong đó đã có liệm thi hài của một linh hồn vừa bỏ xác.

Theo cách gọi thông thường, khi đưa đi chôn thì gọi là Linh cữu, khi còn đặt trong nhà để tế lễ thì gọi là Quan tài.

Câu 1-2: Cầu các Trấn Thần linh trợ lịnh, Giữ Chơn hồn xa lánh xác trần.

GIẢI NGHĨA

Thần linh: Các vị Thần thiêng liêng.

Các Trấn Thần linh: Các vị Thần thiêng liêng trấn nhậm ở các địa phương như: Thần Hoàng Bổn Cảnh, Thổ Thần, Thổ Ðịa, Sơn Thần .

Trợ lịnh: Trợ là giúp đỡ. Trợ lịnh là giúp đỡ thi hành các mệnh lệnh của cấp trên cho được hiệu quả.

Chơn hồn: Ở đây có nghĩa là Chơn thần, xác thân thiêng liêng, Nhị xác thân.

Xa lánh: Tránh đi chỗ khác cho xa chỗ đó.

Xác trần: Thể xác phàm, Ðệ nhứt xác thân.

Câu 1-2: Cầu xin các vị Thần linh trấn nhậm ở địa phương nầy giúp lịnh gìn giữ Chơn thần của người chết lánh xa xác phàm.

Câu 3-4: Nam mô Ðịa Tạng thi ân, Ðưa đường Thiên cảnh, lánh gần Phong đô.

GIẢI NGHĨA

Nam mô: do tiếng Phạn phiên âm ra, có nghĩa là: Qui y, qui mạng, chí tâm hướng, tức là quyết chí vâng theo lời Phật dạy, nguyện hiến trọn đời mình cho Ðạo pháp. Về sau, từ ngữ Nam mô thường dùng làm tiếng khởi đầu cho một câu cầu nguyện.

Ðịa Tạng: Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, Giáo chủ cõi Âm quang. Khi xưa, thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, Ngài là Giáo chủ cõi U Minh hay cõi Phong Ðô, nên gọi Ngài là U Minh Giáo chủ hay Phong Ðô Ðại Ðế.

Thi ân: Làm ơn cho người.

Thiên cảnh: Cõi Trời, cõi Thiêng liêng Hằng sống.

Lánh gần: Lánh đi chỗ khác, đừng lại gần.

Phong Ðô: Ở đây chỉ cõi Âm quang do Ðức Ðịa Tạng Vương Bồ Tát làm Giáo chủ.

Câu 3-4: Xin cầu nguyện với Ðức Ðịa Tạng Vương Bồ Tát ban ơn đưa linh hồn người chết lên đường về cõi Thiêng liêng Hằng sống, lánh xa không cho đến gần cõi Âm quang.

Câu 5-6: Nam mô Tam Trấn Hư Vô, Oai Nghiêm độ rỗi Cao đồ qui nguyên.

GIẢI NGHĨA

Tam Trấn: Thường gọi là Tam Trấn Oai Nghiêm, đó là 3 vị cầm quyền Tam giáo trong thời Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ. Tam Trấn Oai Nghiêm gồm:

Nhứt Trấn Oai Nghiêm: Ðức Ðại Tiên Trưởng Lý Thái Bạch, cầm quyền Tiên giáo, kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Nhị Trấn Oai Nghiêm: Ðức Quan Thế Âm Bồ Tát, cầm quyền Phật giáo.

Tam Trấn Oai Nghiêm: Ðức Quan Thánh Ðế Quân, cầm quyền Nho giáo.

Hư Vô: Hư là trống không, vô là không. Hư Vô là hoàn toàn trống không, nhưng trong không mà có tất cả. Hư vô là cảnh giới vô cùng mầu nhiệm mà chẳng ai rõ thấu, vì cảnh giới ấy vắng lặng trống không mà lại sanh ra các Pháp.

Oai Nghiêm: Trang nghiêm khiến người khác nể sợ.

Ðộ rỗi: Ðộ là cứu giúp, rỗi là cứu vớt khỏi những ràng buộc tội lỗi. Ðộ rỗi là cứu giúp thoát khỏi những ràng buộc tội lỗi để được siêu thăng.

Cao đồ: Môn đồ của Ðấng Cao Ðài, tức là tín đồ của Ðạo Cao Ðài.

Qui nguyên: Qui là trở về, nguyên là cái gốc khởi sanh ra, đó là Thái Cực, tức là Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế. Qui nguyên là trở về với Ðức Chí Tôn.

Câu 5-6: Xin cầu nguyện với Tam Trấn Oai Nghiêm nơi cõi Hư Vô mầu nhiệm độ rỗi linh hồn của người tín đồ Cao Ðài được trở về với Ðức Chí Tôn.

Câu 7-8: Nam mô Tam giáo diệu huyền, Tuyệt luân Bát Nhã đưa thuyền độ vong.

GIẢI NGHĨA

Tam giáo: Ba nền tôn giáo lớn ở Á Ðông: Phật giáo (Thích giáo), Tiên giáo (Lão giáo), Nho giáo (Khổng giáo).

Diệu huyền: Huyền diệu, huyền là sâu kín, diệu là khéo léo. Huyền diệu là sâu kín khéo léo mà trí phàm không thể biết rõ được.

Tuyệt luân: Tuyệt là dứt, luân là sự luân hồi. Tuyệt luân là dứt luân hồi, tức là không còn luân hồi nữa.

Bát Nhã thuyền: Bát Nhã là trí huệ, tức là sự hiểu biết đạo lý sáng suốt. Bát Nhã thuyền là chiếc thuyền trí huệ đưa các chơn hồn vượt qua biển khổ đến bờ giải thoát.

Ðộ vong: Cứu giúp linh hồn người chết.

Câu 7-8: Xin cầu nguyện với Ba Ðấng Giáo Chủ Tam giáo huyền diệu, xin đem chiếc thuyền Bát Nhã cứu giúp các vong hồn thoát qua biển khổ, dứt khỏi luân hồi.

Câu 9-10: Nam mô Bạch Ngọc Công Ðồng, Thần Tiên Thánh Phật mở vòng trái oan.

GIẢI NGHĨA

Bạch Ngọc: Bạch Ngọc Kinh, tòa lâu đài làm bằng ngọc trắng, là nơi thường ngự của Ðức Chí Tôn Thượng Ðế.

Công Ðồng: Công là chung, đồng là cùng nhau.

Bạch Ngọc Công Ðồng: là một Ðại Hội chư Thần Thánh Tiên Phật tại Bạch Ngọc Kinh để quyết nghị các công việc chung có tính cách quan trọng, dưới quyền chủ tọa của Ðức Chí Tôn.

Trái oan: Oan là thù giận, trái là món nợ. Trái oan là món nợ oan nghiệt. Kiếp trước, mình làm cho người ta thù giận mình, tức là mình tạo ra oan trái, nay mình phải đền trả món nợ đó.

Câu 9-10: Xin cầu nguyện với các Ðấng Thần Thánh Tiên Phật trong Hội Công Ðồng nơi Bạch Ngọc Kinh, xin cởi mở ra cho hết vòng oan trái.

Câu 11-12: Nam mô Thượng Ðế Ngọc Hoàng, Mở cơ tận độ nhẹ nhàng chơn linh.

GIẢI NGHĨA

Tận độ: Tận là hết, độ là cứu giúp. Tận độ là cứu giúp toàn cả chúng sanh, không chừa một người nào cả.

Cơ tận độ: Cơ quan có nhiệm vụ tận độ chúng sanh. Cơ quan nầy là Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ tức là Ðạo Cao Ðài.

Trong Bài Tựa quyển Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo, Hội Thánh có viết như sau:

"Ðức Quyền Giáo Tông (khi còn tại thế) và Ðức Hộ Pháp, trót 10 năm trường, nghĩa là từ ngày mở Ðạo, đã nhiều phen dâng sớ cho Ðại Từ Phụ và các Ðấng Thiêng liêng đặng xin Kinh Tận độ, nhưng mà Chí Tôn cùng chư Thần Thánh Tiên Phật chưa định ban ân cho toàn sanh chúng.

Mãi đến ngày 23 tháng 7 tới ngày mùng 4 tháng 8 năm Ất Hợi (dl 21 đến 31-8-1935) mới giáng cơ ban cho Tân Kinh. Ấy là một giọt nước Cam Lồ của Ðức Từ Bi rưới chan đặng gội nhuần cho các đẳng linh hồn của toàn thế giới.

Chúng ta thầm xét thì đủ hiểu rằng: Ðã trải qua 10 năm, Chí Tôn mới mở Cơ Tận độ. Cơ Tận độ nhơn sanh duy kể từ ngày ban Tân Kinh nầy mà thôi."

Câu 11-12: Xin cầu nguyện với Ðức Chí Tôn mở ra cơ quan Tận độ nhơn sanh để linh hồn người chết được nhẹ nhàng siêu thăng.

Câu 13-14: Cửa Cực Lạc thinh thinh rộng mở, Rước vong hồn lui trở ngôi xưa.

GIẢI NGHĨA

Cửa Cực Lạc: Cửa đi vào Cực Lạc Thế giới.

Thinh thinh: Rộng rãi thênh thang.

Lui trở: Lui bước trở về.

Ngôi xưa: Ngôi vị cũ nơi cõi Thiêng liêng.

Câu 13-14: Cửa Cực Lạc Thế Giới mở rộng thênh thang để rước các vong hồn trở lại ngôi vị cũ.

Câu 15-16: Tòa sen báu vật xin đưa, Chơn linh an ngự cho vừa quả duyên.

GIẢI NGHĨA

Tòa sen: Ngôi vị của Phật hay Bồ Tát. Báu vật: Vật quí báu.

Chơn linh: Linh hồn.

An ngự: An là yên ổn, ngự là ngồi lên một cách trang trọng. An ngự là ngồi lên một cách trang trọng và an ổn.

Cho vừa: Cho tương xứng.

Quả duyên: Quả là cái kết quả, duyên là cái sức bổ trợ cho cái Nhân thành cái Quả. Quả duyên là cái kết quả do sự bổ trợ của cái duyên mà đạt được, tức là cái phẩm vị đạt được do công đức tu hành.

Câu 15-16: Xin đưa Chơn linh đến an ngự trên tòa sen quí báu cho tương xứng với công đức tu hành.