Kinh Tận độ Vong linh: Kinh Hạ Huyệt
ID025996 - Thiên Kinh : Kinh Tận độ Vong linh: Kinh Hạ Huyệt 🖶 Print this Thiên Kinh
Kinh : Giải Nghĩa Kinh Thiên-Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Kinh Hạ Huyệt
(Giọng Nam ai)

KINH: GIẢI NGHĨA:
1.
2.
Thức giấc mộng huỳnh lương vừa mãn.
Tiếng phồn ba hết thoáng bên tai.
Khi thức tỉnh lại rồi, thấy cuộc đời như là một giấc chiêm bao. Cái âm vang của trường náo nhiệt đua chen danh lợi cũng hết thoảng bên tai.
3.
4.
Giải thi lánh chốn đọa đày,
Chơn linh trong sạch ra ngoài Càn khôn.
Cởi bỏ thể xác để Linh hồn và Chơn thần bay lên lánh khỏi cõi trần đày đọa. Khi Linh hồn và Chơn thần trong sạch thì mới được nhẹ nhàng, thoát ra ngoài cõi trần, đi vào Càn Khôn Vũ Trụ.
5. Phép Giải Oan độ hồn khỏi tội. Phép Giải oan cứu giúp các linh hồn thoát khỏi các tội tình đã gây ra trong nhiều kiếp trước.
6. Phướn Tiêu Diêu nắm mối trường sanh. Cây Phướn Tiêu Diêu của Lục Nương dẫn dắt các chơn hồn lên cõi Thiêng liêng Hằng sống.
7.
8.
Ơn nhờ hồng phước Chí Linh,
Lôi Âm tự toại, Bồng Dinh hưởng nhàn.
Nhờ hưởng được ơn phước của Ðức Chí Tôn, nên Chơn hồn được ung dung thơ thới nơi cõi Phật, và an nhàn nơi cõi Tiên.
9. Nhờ Hậu Thổ xương tàn gìn giữ. Xin nhờ thần Hậu Thổ gìn giữ các mảnh xương tàn của người chết gởi tại nơi đây.
10. Nghĩa Chí Tôn tha thứ tiền khiên. Ơn nghĩa của Ðức Chí Tôn tha thứ các lỗi lầm đã gây ra trong các kiếp trước.
11.
12.
Ðưa tay vịn phép diệu huyền,
Ngọc Hư lập vị, Cửu tuyền lánh chơn.
Dựa vào các Phép Bí tích huyền diệu mà lên Ngọc Hư Cung lập phẩm vị cho mình, và bước đi lánh xa cõi Âm phủ.
13. Ngó Cực Lạc theo huờn Xá lợi. Nhìn về phía Cực Lạc Thế Giới để theo về với Phật.
14. Cửu Trùng Thiên mở lối qui nguyên. Chín từng Trời mở ra một con đường để các Chơn hồn trở về với Ðức Chí Tôn.
15. Rỡ ràng Phật cốt Tiên duyên. Cốt cách sáng ngời như Phật, có mối dây ràng buộc với Tiên.
16. Nước Cam lồ rửa sạch thuyền độ nhân. Nước Cam lồ rửa sạch tiền khiên nghiệp chướng, và chiếc thuyền Bát Nhã cứu độ người đưa qua biển khổ.

GIẢI NGHĨA

Kinh Hạ Huyệt do Ðức Quan Thế Âm Bồ Tát (Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai) giáng cơ ban cho.

Khi đưa linh cữu ra tới huyệt thì vị chứng đàn và đồng nhi đứng trước đầu huyệt, tụng Kinh Hạ Huyệt 3 hiệp, mỗi hiệp cúi đầu, mãn hiệp thứ ba liền tụng tiếp 3 biến Vãng Sanh Thần Chú. Hễ dứt thì niệm Câu Chú của Thầy 3 lần.

Hạ Huyệt: Hạ là đem xuống, huyệt là cái lỗ đào xuống đất. Hạ huyệt là đem quan tài đặt xuống cái huyệt đã đào sẵn dưới đất để chôn.

Kinh Hạ Huyệt là bài kinh để đồng nhi tụng trước khi đem quan tài đặt xuống huyệt để chôn.

Câu 1-2: Thức giấc mộng huỳnh lương vừa mãn. Tiếng phồn ba hết thoáng bên tai.

GIẢI NGHĨA

Huỳnh lương: Huỳnh là màu vàng, lương là bắp. Huỳnh lương là bắp vàng, một lọai trong ngũ cốc dùng để nấu ăn.

Giấc mộng huỳnh lương: Giấc chiêm bao kéo dài trong thời gian nấu chín nồi bắp vàng.

ÐIỂN TÍCH: Chung Ly Vân Phòng đời nhà Hớn, nên thường gọi là Hớn Chung Ly, là một vị Ðại Tiên, thấy Ông Lữ động Tân (thường gọi Lữ đồng Tân) có căn lành nên muốn độ họ Lữ đi tu, liền đến huyện Hàm Ðang gặp họ Lữ nói rằng:

- Ta là Chung Ly Vân Phòng tu ở núi Triều Hạc, Ông có muốn đi chơi với ta không?

Lữ đồng Tân có vẻ lưỡng lự vì muốn đi thi Tiến sĩ để dương danh với đời. Chung Ly biết vậy, liền mời Lữ đồng Tân đến bên nồi bắp vàng đang nấu, ngồi chơi, rồi đưa cho một cái gối bảo nằm xuống nghỉ, còn mình thì tiếp tục đun nồi bắp vàng. Ðồng Tân kê đầu vào gối nằm xuống giây lát thì chiêm bao thấy mình vác lều chõng đi thi, ngang qua một nhà giàu nọ, gặp một người con gái rất đẹp thì ướm lời. Nàng nọ nói rằng: " Nếu chàng đi thi đậu Trạng Nguyên thì thiếp nguyện nâng khăn sửa trấp." Lữ đồng Tân vào khoa thi, đậu được Trạng Nguyên, về cưới nàng ấy, sau lại cưới thêm hầu thiếp nữa, được vua bổ làm quan Gián Nghị, lần lần được thăng lên đến chức Tể Tướng, giàu sang tột bực, con cháu đầy nhà. Chẳng may, sau đó bị gian thần hãm hại, vu oan giá họa, vua truyền bắt tội, tịch thu hết gia sản sự nghiệp, rồi đày ra chốn Lãng Biển, cực khổ vô cùng. Kế giựt mình thức dậy, ngơ ngẩn tâm thần.

Chung Ly Vân Phòng ngồi kế bên bèn cười lớn, ngâm hai câu thơ:

Nồi bắp hãy còn ngòi,
Chiêm bao đà thấy cháu.

Lữ đồng Tân lấy làm lạ hỏi rằng:

- Thầy biết sự chiêm bao của tôi sao?

- Chiêm bao 50 năm, công việc cả muôn, thiệt không đầy một lát, đặng chẳng khá mừng, mất không nên thảm, hết vinh tới nhục là lẽ thường.

Lữ đồng Tân nghe Hớn Chung Ly nói thế thì tỉnh ngộ, ngẫm nghĩ lại mà chán ngán cuộc đời, liền từ bỏ mộng công danh, cầu xin Hớn Chung Ly truyền đạo.

Do sự tích nầy, người ta thường dùng các thành ngữ: Giấc huỳnh lương, Huỳnh lương mộng, Giấc Hàm Ðang, là để chỉ giấc mộng của Lữ đồng Tân, ý nói rằng: Cuộc vinh hoa phú quí ở đời, nên xem nó là phù du mộng ảo.

Phồn ba: Phồn là nhiều; ba là cái hoa. Phồn ba, đồng nghĩa Phồn hoa, là chỉ nơi dân cư đông đúc, mua bán tấp nập, ngựa xe như nước, là trường náo nhiệt đua chen danh lợi.

Thoáng: Thoảng qua, lướt qua một cách nhẹ nhàng trong thời gian rất ngắn, chỉ đủ để cảm nhận được.

Câu 1-2: Khi thức tỉnh lại rồi, thấy cuộc đời như là một giấc chiêm bao. Cái âm vang của trường náo nhiệt đua chen danh lợi cũng hết thoảng bên tai.

Câu 3-4: Giải thi lánh chốn đọa đày, Chơn linh trong sạch ra ngoài Càn khôn.

GIẢI NGHĨA

Giải thi: Giải là cởi bỏ, thi là thi hài thể xác. Giải thi là cởi bỏ thể xác, tức là khi thể xác chết, Chơn thần và Linh hồn xuất ra khỏi thể xác, đi lên cõi Thiêng liêng.

Chốn đọa đày: Chỉ cõi trần, vì cõi trần là cõi đọa.

Chơn linh trong sạch: Chơn linh trong sạch thì Chơn thần phải trong sạch. Muốn cho Chơn thần trong sạch thì phải giữ cho Thể xác trong sạch. Muốn cho Thể xác trong sạch thì phải ăn chay trường, cúng kiếng thường và giữ tư tưởng cho thanh cao. Một Chơn linh trong sạch khi ở trong một Chơn thần trong sạch; một Chơn thần trong sạch khi ở trong một Thể xác trong sạch. Chơn thần trong sạch thì mới nhẹ nhàng, mới bay lên tới cõi Thiêng liêng Hằng sống.

Càn Khôn: Trời Ðất, thường nói Càn Khôn Vũ Trụ.

Ra ngoài Càn khôn: Bay thoát ra ngoài cõi trần, đi vào Càn Khôn Vũ Trụ.

Câu 3-4: Cởi bỏ thể xác để Linh hồn và Chơn thần bay lên lánh khỏi cõi trần đày đọa. Khi Linh hồn và Chơn thần trong sạch thì mới được nhẹ nhàng, thoát ra ngoài cõi trần, đi vào Càn Khôn Vũ Trụ.

Câu 5: Phép Giải Oan độ hồn khỏi tội.

GIẢI NGHĨA

Phép Giải oan: là một phép Bí tích rất huyền diệu của Ðạo Cao Ðài do Ðức Chí Tôn ban cho nhơn loại trong kỳ Ðại Ân Xá nầy, để cởi bỏ hết các oan nghiệt đã gây ra từ nhiều kiếp trước, nhờ đó nhơn sanh dễ tiến bước trên đường tu hành, theo đúng với Cơ Tận độ của Ðức Chí Tôn.

Câu 5: Phép Giải oan cứu giúp các linh hồn thoát khỏi các tội tình đã gây ra trong nhiều kiếp trước.

Câu 6: Phướn Tiêu Diêu nắm mối trường sanh.

GIẢI NGHĨA

Phướn Tiêu Diêu: Cây phướn của Lục Nương cầm, cũng gọi là Phướn Truy Hồn, để gìn giữ và hướng dẫn Chơn hồn đi lên các từng Trời của Cửu Trùng Thiên.

Trường sanh: Sống hoài, hằng sống, chỉ cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Câu 6: Cây Phướn Tiêu Diêu của Lục Nương dẫn dắt các chơn hồn lên cõi Thiêng liêng Hằng sống.

Câu 7-8: Ơn nhờ hồng phước Chí Linh, Lôi Âm tự toại, Bồng Dinh hưởng nhàn.

GIẢI NGHĨA

Hồng phước: Hồng là to lớn, phước là điều may mắn tốt lành. Hồng phước là điều may mắn tốt lành lớn do Ðức Chí Tôn ban cho. (Chữ Hồng dùng để chỉ cái gì to lớn của Ðức Chí Tôn hay do Ðức Chí Tôn ban cho. Thí dụ: Hồng oai, Hồng từ, Hồng ân, Hồng phước.)

Chí Linh: Rất thiêng liêng, chỉ Ðức Chí Tôn.

Lôi Âm: Lôi Âm Tự, chùa Lôi Âm ở tại kinh đô của cõi Cực Lạc Thế Giới, nơi ngự của Ðức Phật Thích Ca và Ðức A-Di-Ðà Phật. Ở đây, Lôi Âm là chỉ cõi Cực Lạc Thế Giới, là nơi hoàn toàn sung sướng và an vui.

Tự toại: Tự là chính mình, toại là thỏa lòng. Tự toại là lòng dạ thỏa thích, ung dung thơ thới.

Bồng Dinh: Hai hòn đảo: Bồng Lai và Dinh Châu. Tương truyền trong biển Bột Hải nơi cõi Thiêng liêng có 3 hòn đảo tên là: Bồng Lai, Dinh Châu, Phương Trượng, đều có Tiên ở. Trên đảo Bồng Lai có núi Bồng Lai (cũng gọi là Bồng sơn) có 8 động đá là nơi ở của Bát Tiên. Bồng Dinh là chỉ cõi Tiên. Lôi Âm là chỉ cõi Phật.

Câu 7-8: Nhờ hưởng được ơn phước của Ðức Chí Tôn, nên Chơn hồn được ung dung thơ thới nơi cõi Phật, và an nhàn nơi cõi Tiên.

Câu 9: Nhờ Hậu Thổ xương tàn gìn giữ.

GIẢI NGHĨA

Hậu Thổ: Hậu là vua (theo nghĩa xưa), Thổ là đất. Hậu Thổ là vua Ðất, tức là vị Thần cai quản đất đai của một nước, làm đầu các vị Thổ Thần. Thổ Thần là vị Thần cai quản một vùng đất nhỏ.

Xương tàn: Bộ xương còn lại sau khi xác chết thúi rã thành nước tan vào đất.

Câu 9: Xin nhờ thần Hậu Thổ gìn giữ các mảnh xương tàn của người chết gởi tại nơi đây.

Câu 10: Nghĩa Chí Tôn tha thứ tiền khiên.

GIẢI NGHĨA

Nghĩa Chí Tôn: Ơn nghĩa của Ðức Chí Tôn.

Tiền khiên: Lỗi lầm đã gây ra trong các kiếp trước.

Câu 10: Ơn nghĩa của Ðức Chí Tôn tha thứ các lỗi lầm đã gây ra trong các kiếp trước.

Câu 11-12: Ðưa tay vịn phép diệu huyền, Ngọc Hư lập vị, Cửu tuyền lánh chơn.

GIẢI NGHĨA

Phép diệu huyền: Phép Bí tích huyền diệu mà Ðức Chí Tôn đã ban cho như: Phép Giải oan, Phép Xác, Phép Ðoạn căn, Phép Ðộ thăng, vv.

Vịn: Ðặt bàn tay tựa vào cho có thế vững, ý nói dựa vào.

Vịn phép diệu huyền: Dựa vào các Phép Bí tích huyền diệu.

Ngọc Hư: Ngọc Hư Cung nơi cõi Thiêng liêng, là nơi họp Thiên triều của Ðức Chí Tôn Thượng Ðế. Hiệp Thiên Ðài là hình ảnh của Ngọc Hư Cung tại thế.

Lập vị: Làm nên phẩm vị cho mình.

Cửu tuyền: Tuyền là suối, Cửu tuyền là Chín suối, chỉ cõi Âm phủ. Tương truyền, cõi Âm phủ có 9 dòng suối.

Lánh chơn: Bước đi lánh khỏi chỗ đó.

Câu 11-12: Dựa vào các Phép Bí tích huyền diệu mà lên Ngọc Hư Cung lập phẩm vị cho mình, và bước đi lánh xa cõi Âm phủ.

KHẢO DỊ:
* Kinh TÐ-TÐ năm 1936: Ðưa tay dịnh phép.
* Kinh Lễ in bên Pháp năm 1952: Ðưa tay định phép.
* Kinh TÐ-TÐ năm 1968, 1974, 1975: Ðưa tay vịn phép.

Câu 13: Ngó Cực Lạc theo huờn Xá lợi.

GIẢI NGHĨA

Ngó: Nhìn.

Cực Lạc: Cực Lạc Thế Giới, cõi Phật.

Huờn: do chữ Hoàn nói trại ra. Hoàn là một viên tròn, một cái hột. Thí dụ như: Hoàn thuốc.

Xá lợi: Sau khi Ðức Phật Thích Ca tịch diệt, thể xác của Phật được hỏa thiêu. Trong mớ tro tàn còn lại có những hột tròn tròn chiếu sáng như ngọc, gọi là Ngọc Xá lợi. Các hột Xá lợi nầy được thu giữ cẩn thận, phân chia ra nhiều chỗ để thờ. Vị Tăng Thống của Phật giáo Tích Lan có đem qua tặng Tòa Thánh Tây Ninh một hột Ngọc Xá lợi nầy. Do đó, từ ngữ Huờn Xá lợi là chỉ Ðức Phật.

Câu 13: Nhìn về phía Cực Lạc Thế Giới để theo về với Phật.

Câu 14: Cửu Trùng Thiên mở lối qui nguyên.

GIẢI NGHĨA

Cửu Trùng Thiên: Chín từng Trời. Cửu là 9, Trùng là nhiều lớp chập chồng lên nhau, Thiên là Trời.

Mở lối: Mở đường.

Qui nguyên: Qui là trở về; Nguyên là cái gốc mà từ đó nó được sanh ra, gốc đó là Thái Cực tức là Ðức Chí Tôn Thượng Ðế. Qui nguyên là trở về với Ðức Chí Tôn.

Câu 14: Chín từng Trời mở ra một con đường để các Chơn hồn trở về với Ðức Chí Tôn.

Câu 15: Rỡ ràng Phật cốt Tiên duyên.

GIẢI NGHĨA

Rỡ ràng: Sáng ngời một cách đẹp đẽ.

Phật cốt: Cốt cách như Phật.

Tiên duyên: Có duyên với Tiên, tức là có mối dây ràng buộc với các vị Tiên.

Câu 15: Cốt cách sáng ngời như Phật, có mối dây ràng buộc với Tiên.

KHẢO DỊ:
* Kinh TÐ-TÐ- năm 1936: Rỡ ràng Phật cốt Tiên duyên.
* Kinh Lễ 1952, Kinh TÐ-TÐ 1968, 1974, 1975: Rõ ràng Phật cốt tiền duyên.
Rõ ràng: Rất rõ, rất minh bạch.
Tiền duyên: Có mối dây ràng buộc từ trước.

Câu 16: Nước Cam lồ rửa sạch thuyền độ nhân.

GIẢI NGHĨA

Nước Cam lồ: Chữ Hán là Cam lồ thủy, Cam là ngọt, Lồ do chỡ Lộ đọc trại ra, Lộ là giọt sương. Cam lồ thủy tức là Cam lộ thủy là nước sương ngọt. Ðây là chất nước huyền diệu do Ðức Quan Âm Bồ Tát luyện thành, có vị ngọt, mùi thơm, công dụng rất linh diệu, giải trừ oan nghiệt, cải tử huờn sanh.

Thuyền độ nhân: Chiếc thuyền Bát Nhã cứu độ người.

Câu 16: Nước Cam lồ rửa sạch tiền khiên nghiệp chướng, và chiếc thuyền Bát Nhã cứu độ người đưa qua biển khổ.