Kinh Ðệ Lục Cửu
ID026004 - Thiên Kinh : Kinh Ðệ Lục Cửu 🖶 Print this Thiên Kinh
Kinh : Giải Nghĩa Kinh Thiên-Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Kinh Ðệ Lục Cửu
(Giọng Nam xuân)

KINH: GIẢI NGHĨA:
1.
2.
Bạch Y Quan mở đàng rước khách,
Cõi Kim Thiên nhẹ tách Tiên xa.
Nơi Bạch Y Quan, mở cửa đón rước Chơn hồn. Chơn hồn nhẹ nhàng bước xuống rời khỏi chiếc xe Tiên để đi vào cõi Kim Thiên.
3.
4.
Vào Cung Vạn Pháp xem qua,
Cho tường cựu nghiệp mấy tòa thiên nhiên.
Chơn hồn được đưa vào Cung Vạn Pháp để xem qua cho biết rõ ràng sự nghiệp cũ của mình được ghi lại trong mấy Tòa thiên nhiên.
5. Cung Lập Khuyết tìm duyên định ngự. Tại Cung Lập Khuyết, Chơn hồn tìm thấy ngôi vị cũ của mình, định ngồi lên (nhưng chưa được).
6. Lãnh Kim sa đặng dự Như Lai. Chơn hồn lãnh một hột Kim sa đặng đi gặp Phật.
7.
8.
Minh Vương Khổng Tước cao bay,
Ðem Chơn thần đến tận Ðài Huệ Hương.
Vị Minh Vương Khổng Tước chở Chơn thần bay lên cao, đem đến tận Ðài Huệ Hương.
9.
10.
Mùi ngào ngọt thơm luôn Thánh thể,
Trừ tiêu tàn ô uế sinh quang.
Mùi thơm ngào ngọt của Ðài Huệ Hương xông thơm Chơn thần, tẩy trừ hết sạch các mùi dơ bẩn hôi hám lẫn vào trong Khí Sanh quang.
11.
12.
Thiên thiều trổi tiếng nhặt khoan,
Ðưa linh thẳng đến Niết Bàn mới thôi.
Khúc nhạc thiều của Trời khởi lên lúc nhanh lúc chậm, đưa Chơn linh thẳng lên đến cõi Niết Bàn mới thôi.

(Niệm Câu Chú của Thầy 3 lần)

GIẢI NGHĨA

Kinh Ðệ Lục Cửu do Lục Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho. Lục Nương có nhiệm vụ hướng dẫn các Chơn hồn từ từng Trời Xích Thiên lên từng Trời Kim Thiên. Kim Thiên là từng Trời thứ 6 trong Cửu Trùng Thiên.

Câu 1-2: Bạch Y Quan mở đàng rước khách, Cõi Kim Thiên nhẹ tách Tiên xa.

GIẢI NGHĨA

Bạch Y Quan: Một địa danh nơi từng Trời Kim Thiên.

Tiên xa: Chiếc xe Tiên, cũng gọi là xe Như Ý.

Câu 1-2: Nơi Bạch Y Quan, mở cửa đón rước Chơn hồn. Chơn hồn nhẹ nhàng bước xuống rời khỏi chiếc xe Tiên để đi vào cõi Kim Thiên.

Câu 3-4: Vào Cung Vạn Pháp xem qua, Cho tường cựu nghiệp mấy tòa thiên nhiên.

GIẢI NGHĨA

Tường: Rõ ràng, biết rõ.

Cựu: Xưa, cũ.

Cựu nghiệp: Sự nghiệp cũ, tức là những sự nghiệp đã tạo ra trong nhiều kiếp sống trước nơi cõi trần.

Tòa: Ngôi nhà lớn.

Thiên nhiên: Cái mà Trời làm ra như thế, không phải do sức người tạo ra.

Tòa thiên nhiên: Ngôi nhà lớn do Trời tạo ra như thế, để ghi lại sự nghiệp của mỗi Chơn hồn đã tạo ra trong các kiếp sống nơi cõi trần.

Câu 3-4: Chơn hồn được đưa vào Cung Vạn Pháp để xem qua cho biết rõ ràng sự nghiệp cũ của mình được ghi lại trong mấy Tòa thiên nhiên.

Câu 5: Cung Lập Khuyết tìm duyên định ngự.

GIẢI NGHĨA

Duyên: Cái mối dây ràng buộc được định sẵn từ trước. Ở đây ý nói ngôi vị cũ của mình nơi cõi thiêng liêng.

Ðịnh: Có ý làm.

Ngự: Ngồi lên một cách trang trọng.

Câu 5: Tại Cung Lập Khuyết, Chơn hồn tìm thấy ngôi vị cũ của mình, định ngồi lên (nhưng chưa được).

Câu 6: Lãnh Kim sa đặng dự Như Lai.

GIẢI NGHĨA

Kim sa: Kim là vàng, sa là hột cát. Kim sa là hột cát vàng. Những hột cát vàng nầy do Phép Phật tạo thành. Kim Sa Ðại Ðiện là tòa nhà lớn làm bằng cát vàng tại kinh đô Cực Lạc Thế Giới, là nơi ngự của Ðức Phật Thích Ca.

Như Lai: Một trong 10 danh hiệu của Phật.

Câu 6: Chơn hồn lãnh một hột Kim sa đặng đi gặp Phật.

Câu 7-8: Minh Vương Khổng Tước cao bay, Ðem Chơn thần đến tận Ðài Huệ Hương.

GIẢI NGHĨA

Minh Vương Khổng Tước: Minh Vương là vua sáng, Khổng Tước là con công.

Theo Phật Học Từ Ðiển, Minh Vương là những vị Tôn giả hầu cận Ðức Phật, thọ giáo lệnh của Ðức Phật, hiện thân hàng phục bọn ác ma. Các Tôn giả nầy có trí huệ và oai đức, đánh phá hết thảy các ma chướng, ủng hộ các nhà tu hành chơn thật. Tuy là người hầu cận Ðức Phật, nhưng vâng mệnh cầm giữ giáo lệnh thì quyền uy như một vị Minh Vương.

Minh Vương Khổng Tước là vị Tôn giả hầu cận Ðức Phật Chuẩn Ðề (Chuẩn Ðề Bồ Tát) mà nguyên căn là một con công, sanh vào thời Khai Thiên Lập Ðịa, được Ðức Chuẩn Ðề Bồ Tát thâu phục vào thời Phong Thần. Khi Ðức Chuẩn Ðề xuất du thì vị tôn giả nầy hiện lại nguyên hình là một con công màu đỏ, xòe 2 cánh chiếu hào quang ngũ sắc, chở Ðức Chuẩn Ðề bay đi.

Câu 7-8: Vị Minh Vương Khổng Tước chở Chơn thần bay lên cao, đem đến tận Ðài Huệ Hương.

Câu 9-10: Mùi ngào ngọt thơm luôn Thánh thể, Trừ tiêu tàn ô uế sinh quang.

GIẢI NGHĨA

Mùi ngào ngọt: Mùi rất thơm.

Thánh thể: Thánh là thiêng liêng huyền diệu, thể là thân thể. Thánh thể là xác thân thiêng liêng, tức là Chơn thần.

Trừ: Làm cho mất đi.

Tiêu tàn: Làm tiêu mất hẳn.

Ô uế: Ô là dơ bẩn, uế là hôi hám. Ô uế là dơ bẩn hôi hám.

Sinh quang: Khí Sanh quang, chất khí để nuôi dưỡng sự sống cho các loài sanh vật trong khắp Càn Khôn Vũ Trụ.

Câu 9-10: Mùi ngào ngọt thơm luôn Thánh thể, Trừ tiêu tàn ô uế sinh quang. Nghĩa là: Mùi thơm ngào ngọt của Ðài Huệ Hương xông thơm Chơn thần, tẩy trừ hết sạch các mùi dơ bẩn hôi hám lẫn vào trong Khí Sanh quang.

Câu 11-12: Thiên thiều trổi tiếng nhặt khoan, Ðưa linh thẳng đến Niết Bàn mới thôi.

GIẢI NGHĨA

Thiên thiều: Thiều là nhạc thiều, loại nhạc cung đình, nghe rất réo rắt êm tai, khiến cho tâm hồn người nghe trở nên cao thượng. Tương truyền Nhạc thiều do vua Thuấn học được của Bà Nữ Oa. Thiên thiều là nhạc thiều của Trời.

Trổi tiếng nhặt khoan: Khởi lên tiếng nhạc khi nhanh khi chậm, khi nhặt khi lơi.

Ðưa linh: Ðưa Chơn linh đi lên.

Niết Bàn: Cõi Phật, cõi Cực Lạc Thế Giới hoàn toàn hạnh phúc.

Câu 11-12: Khúc nhạc thiều của Trời khởi lên lúc nhanh lúc chậm, đưa Chơn linh thẳng lên đến cõi Niết Bàn mới thôi.

KHẢO DỊ:
* Kinh Lễ in bên Pháp 1952: Tiêu thiều.
* Kinh TÐ-TÐ năm 1936, 1968, 1974, 1975: Thiên thiều.
Tiêu thiều: Khúc nhạc thiều thổi bằng ống sáo.