Kinh Tiểu Tường
ID026008 - Thiên Kinh : Kinh Tiểu Tường 🖶 Print this Thiên Kinh
Kinh : Giải Nghĩa Kinh Thiên-Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Kinh Tiểu Tường
(Giọng Nam xuân)

KINH: GIẢI NGHĨA:
1. Tịnh niệm phép Nhiên Ðăng tưởng tín. Phép tịnh niệm giữ lòng trong sạch để niệm danh Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật và tin tưởng nơi Ngài.
2. Hư Vô Thiên đến thính Phật điều. Chơn hồn đến từng Trời Hư Vô Thiên để nghe những điều Phật dạy.
3. Ngọc Hư Ðại Hội ngự triều. Ðức Chí Tôn đến Ngọc Hư Cung để họp Ðại Hội triều đình.
4. Thiều quang nhị bá Thiên kiều để chơn. Hai trăm ngày sau, Chơn hồn được đặt chơn lên cây cầu Thiên kiều.
5.
6.
Bồ Ðề Dạ dẫn hồn thượng tấn,
Cực Lạc quan đẹp phận Tây Qui.
Bồ Ðề Dạ hướng dẫn Chơn hồn tiến lên cao, đến cái cổng lớn đi vào Cực Lạc Thế Giới, rồi đi đến một chỗ gọi là Tây Qui, là nơi định phận tốt đẹp cho Chơn hồn.
7.
8.
Vào Lôi Âm kiến A-Di,
Bộ Công Di-Lạc Tam Kỳ độ sanh.
Chơn hồn đi vào Chùa Lôi Âm để bái kiến Ðức Phật A-Di-Ðà. Ðức Phật Di-Lạc lập ra Bộ Công Quả trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để cứu giúp các Chơn hồn đưa lên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.
9. Ao Thất Bửu gội mình sạch tục. Chơn hồn được đến tắm nơi Ao Thất Bửu để gội sạch hết các thứ dơ bẩn của cõi trần đã bám vào Chơn thần.
10. Ngôi liên đài quả phúc Dà Lam. Tòa sen, ngôi vị Phật Dà Lam là kết quả của những phước đức tu hành.
11. Vạn linh trổi tiếng mầng thầm. Vạn linh đều cất tiếng nói thầm trong lòng là rất vui mừng thấy một Chơn linh đắc đạo vào phẩm vị Phật.
12. Thiên Thơ Phật tạo độ phàm giải căn. Chư Phật lập ra Thiên thơ để cứu giúp và cởi bỏ hết các oan nghiệt của chúng sanh nơi cõi trần.

(Niệm Câu Chú của Thầy 3 lần)

GIẢI NGHĨA

Kinh Tiểu Tường do Ðức Phật Mẫu giáng cơ ban cho.

Từ ngày làm Tuần Cửu Cửu (Chung Cửu) đến ngày làm Lễ Tiểu Tường là đúng 200 ngày.

Tiểu Tường cũng được làm tại Thánh Thất sở tại, phải tụng bài Kinh Khai Cửu Ðại Tường và Tiểu Tường, rồi kế đó mới tụng Kinh Tiểu Tường.

Câu 1: Tịnh niệm phép Nhiên Ðăng tưởng tín.

GIẢI NGHĨA

Tịnh niệm: Tịnh là trong sạch, niệm là tưởng nghĩ tới.

Tịnh niệm phép là phép tắc giữ lòng trong sạch để tưởng nghĩ tới một Ðấng Thiêng Liêng.

Nhiên Ðăng: Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật, Giáo chủ Phật giáo thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ, chưởng quản từng Trời Hư Vô Thiên.

Tưởng tín: Tưởng là nhớ nghĩ tới, tín là tin. Tưởng tín là tin tưởng.

Câu 1: Phép tịnh niệm giữ lòng trong sạch để niệm danh Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật và tin tưởng nơi Ngài.

Câu 2: Hư Vô Thiên đến thính Phật điều.

GIẢI NGHĨA

Hư Vô Thiên: Từng Trời thứ 10, ngay bên trên Cửu Trùng Thiên. Trong từng Trời nầy có Ngọc Hư Cung và Cực Lạc Thế Giới.

Thính: Nghe.

Phật điều: Những điều Phật dạy.

Câu 2: Chơn hồn đến từng Trời Hư Vô Thiên để nghe những điều Phật dạy.

Câu 3: Ngọc Hư Ðại Hội ngự triều.

GIẢI NGHĨA

Ngọc Hư: Ngọc Hư Cung, thuộc từng Trời Hư Vô Thiên.

Ngự triều: Ngự là chỉ hành động của vua. Ngự triều là Ðức Chí Tôn đến họp triều đình.

Câu 3: Ðức Chí Tôn đến Ngọc Hư Cung để họp Ðại Hội triều đình.

Câu 4: Thiều quang nhị bá Thiên kiều để chơn.

GIẢI NGHĨA

Thiều quang: Thiều là đẹp, quang là ánh sáng. Thiều quang là ánh sáng đẹp, ở đây chỉ 1 ngày.

Nhị bá: 200.

Thiều quang nhị bá: 200 ngày. Từ ngày làm Tuần Chung Cửu đến ngày làm Tiểu Tường là 200 ngày.

Thiên kiều: Kiều là cây cầu. Thiên kiều là cây cầu bắc lên Trời.

Câu 4: Thiều quang nhị bá Thiên kiều để chơn, nghĩa là: Hai trăm ngày sau, Chơn hồn được đặt chơn lên cây cầu Thiên kiều.

Câu 5-6: Bồ Ðề Dạ dẫn hồn thượng tấn, Cực Lạc quan đẹp phận Tây Qui.

GIẢI NGHĨA

Thượng tấn: Thượng là đi lên, tấn là tiến tới. Thượng tấn là tiến lên cao.

Quan: Cái cổng lớn.

Cực Lạc quan: Cái cổng lớn đi vào Cực Lạc Thế Giới.

Ðẹp phận: Số phận tốt đẹp.

Tây Qui: Một địa danh nơi cõi Cực Lạc Thế Giới.

Câu 5-6: Bồ Ðề Dạ hướng dẫn Chơn hồn tiến lên cao, đến cái cổng lớn đi vào Cực Lạc Thế Giới, rồi đi đến một chỗ gọi là Tây Qui, là nơi định phận tốt đẹp cho Chơn hồn.

Câu 7-8: Vào Lôi Âm kiến A-Di, Bộ Công Di-Lạc Tam Kỳ độ sanh.

GIẢI NGHĨA

Vào Lôi Âm: Ði vào Lôi Âm Tự, tức là đi vào Chùa Lôi Âm ở kinh đô của Cực Lạc Thế Giới.

Kiến: Thấy, gặp.

A-Di: nói tắt của từ ngữ A-Di-Ðà Phật. Ðức Phật A-Di-Ðà là Chưởng giáo Cực Lạc Thế Giới trong thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ. Qua thời TKPÐ, Ðức Phật A-Di-Ðà vâng lịnh Ðức Chí Tôn giao quyền Chưởng giáo lại cho Ðức Di-Lạc Vương Phật, Ngài vào ngự trong Lôi Âm Tự cùng với Ðức Phật Thích Ca.

Bộ Công: Bộ là sổ sách ghi chép, Công là công quả. Bộ công là bộ sổ ghi chép công quả. Những người nào có công quả giúp đời giúp Ðạo, phổ độ nhơn sanh thì được ghi vào Bộ Công Quả. Trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Ðức Chí Tôn lập ra một Trường thi Công quả cho chúng sanh đắc đạo, mà Ðức Phật Di-Lạc là Chánh Chủ Khảo nên Ðức Di-Lạc lập ra Bộ Công Quả để căn cứ vào đó mà chấm thi đậu rớt.

Ðộ sanh: Cứu giúp Chơn hồn đưa lên sống cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Câu 7-8: Chơn hồn đi vào Chùa Lôi Âm để bái kiến Ðức Phật A-Di-Ðà. Ðức Phật Di-Lạc lập ra Bộ Công Quả trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để cứu giúp các Chơn hồn đưa lên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Câu 9: Ao Thất Bửu gội mình sạch tục.

GIẢI NGHĨA

Thất bửu: 7 món báu, kể ra: Vàng, Bạc, Ngọc Lưu ly, Ngọc Xà cừ, Ngọc Mã não, Ngọc Hổ phách, Ngọc San hô.

Ao Thất Bửu: Cái ao nơi cõi Cực Lạc Thế Giới, được xây dựng và trang trí bằng 7 thứ quí báu đẹp đẽ lạ thường. Ðặc biệt nước trong Ao Thất Bửu có đủ 8 công đức nên gọi là Bát Công Ðức Thủy. Người nào được ân huệ vào tắm trong Ao Thất Bửu thì trí tuệ được khai thông và chơn thần được trong sáng, vì các thứ ô trược nhiễm vào Chơn thần đã được gội sạch bởi nước 8 công đức trong ao.

Sạch tục: Rửa sạch hết các thứ dơ bẩn nơi cõi trần đã bám vào Chơn thần. (Tục là chỉ cõi trần).

Câu 9: Chơn hồn được đến tắm nơi Ao Thất Bửu để gội sạch hết các thứ dơ bẩn của cõi trần đã bám vào Chơn thần.

Câu 10: Ngôi liên đài quả phúc Dà Lam.

GIẢI NGHĨA

Liên đài: Tòa sen, ngôi vị của Phật.

Quả phúc: Kết quả của phước đức. Ðó là ngôi vị Tiên, Phật.

Dà Lam: Già Lam, ngôi vị Phật gọi là Phật Già Lam.

Câu 10: Tòa sen, ngôi vị Phật Dà Lam là kết quả của những phước đức tu hành.

Câu 11: Vạn linh trổi tiếng mầng thầm.

GIẢI NGHĨA

Vạn linh: Tất cả các Chơn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ gồm đủ Bát hồn.

Trổi tiếng: Cất tiếng nói lên.

Mầng thầm: Mừng rỡ mà không lộ ra ngoài, mừng kín đáo trong lòng.

Câu 11: Vạn linh trổi tiếng mừng thầm, nghĩa là: Vạn linh đều cất tiếng nói thầm trong lòng là rất vui mừng thấy một Chơn linh đắc đạo vào phẩm vị Phật.

Câu 12: Thiên Thơ Phật tạo độ phàm giải căn.

GIẢI NGHĨA

Thiên thơ: Thơ là sách, Thiên thơ là quyển sách của Trời ghi chép Thiên điều, tức là ghi chép các Luật pháp điều hành sự vận chuyển của Càn Khôn Vũ Trụ và sự tiến hóa của vạn linh. Thiên thơ được các Ðấng Tiên Phật họp tại Ngọc Hư Cung lập ra nên câu kinh mới viết là: Thiên thơ Phật tạo.

Ðộ phàm: Cứu giúp chúng sanh nơi cõi trần. Ðộ là cứu giúp, phàm là tầm thường thấp kém, chỉ cõi trần .

Giải căn: Cởi bỏ cái gốc rễ, cái gốc rễ ấy là những việc làm thiện ác trong kiếp sống trước tạo thành các oan nghiệt nơi cõi trần. Giải căn là cởi bỏ các oan nghiệt của chúng sanh nơi cõi trần .

Câu 12: Thiên thơ Phật tạo độ phàm giải căn, nghĩa là: Chư Phật lập ra Thiên thơ để cứu giúp và cởi bỏ hết các oan nghiệt của chúng sanh nơi cõi trần.