Kinh Tận độ Vong linh: Bài Xưng Tụng Công Ðức Phật Tiên Thánh Thần
ID026018 - Thiên Kinh : Kinh Tận độ Vong linh: Bài Xưng Tụng Công Ðức Phật Tiên Thánh Thần 🖶 Print this Thiên Kinh
Kinh : Giải Nghĩa Kinh Thiên-Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Bài Xưng Tụng Công Ðức Phật Tiên Thánh Thần
(Giọng Nam xuân)

KINH: GIẢI NGHĨA:
1.
2.
Hào quang chiếu chín từng mây bạc,
Thần Thánh Tiên thừa hạc cỡi rồng.
Ánh hào quang chiếu sáng Chín từng Trời có mây màu trắng bạc. Chư Thần, Thánh, Tiên, Ðấng thì cỡi hạc, Ðấng thì cỡi rồng.
3.
4.
Phép linh thiệt rất chí công,
Hóa sanh muôn vật, ngưỡng trông phước đời.
Cái Pháp Thiêng Liêng của Ðức Chí Tôn rất công bình, hóa sanh ra vạn vật, trông ngóng điều tốt lành cho cõi đời.
5.
6.
Trên điện ngọc, Vua Trời ngự giáng,
Trước đền vàng phán đoán phân minh.
Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế từ trên Linh Tiêu Ðiện đi xuống, đến trước Huỳnh Kim Khuyết xem xét công việc và quyết đoán một cách rõ ràng.
7.
8.
Cõi trần, Trung giới thinh thinh,
Phàm gian lao khổ đao binh tai nàn.
Cõi trần và cõi Trung giới rộng lớn mênh mông, nhơn loại nơi cõi trần mệt nhọc khổ sở vì chiến tranh và tai nạn.
9.
10.
Lòng Trời cảm cứu an lê thứ,
Ðộ chúng sanh muôn xứ gội ơn.
Tấm lòng của Ðức Thượng Ðế cảm động, giúp đỡ dân chúng được an ổn, cứu giúp chúng sanh ở khắp nơi và ban cho nhiều ơn huệ.
11.
12.
Ðạo Nho truyền dạy nghĩa nhơn,
Văn Tuyên Khổng Thánh khuyến dân răn đời.
Ðức Khổng Thánh, Giáo chủ Ðạo Nho, truyền dạy về Nhân và Nghĩa, khuyên răn dân chúng.
13.
14.
Ghi các sách ngàn lời để lại,
Chép vào thơ vạn đại truyền ra.
Các kinh sách xưa để lại, trong đó ghi chép biết bao lời hay ý đẹp của Thánh Hiền, truyền lại muôn đời.
15.
16.
Tây phương cõi Phật chói lòa,
Từ bi Phật Tổ hải hà độ dân.
Cõi Cực Lạc Thế Giới ở hướng Tây là cõi Phật, ánh hào quang chiếu sáng rực rỡ. Ðức Phật Thích Ca, Tổ Sư Phật giáo, có lòng từ bi rộng lớn như sông như biển, cứu giúp dân chúng.
17.
18.
Lòng cảm xót dương trần lận đận,
Ra oai linh tiếp dẫn nhơn cầm.
Lòng của Phật cảm động thương xót chúng sanh nơi cõi trần chịu nhiều nỗi khó khăn vất vả, nên Phật dùng oai quyền thiêng liêng để tiếp dẫn chúng sanh.
19.
20.
Phổ Ðà có Phật Quan Âm.
Ra công cứu thế, ân thâm đức dày.
Ở Phổ Ðà Sơn có Ðức Phật Quan Âm đắc đạo, Ngài ra công cứu giúp người đời, ơn đức sâu dày.
21.
22.
Nhiều kiếp đã đầu thai biết mấy,
Xuống hồng trần khuyến dạy thương sanh.
Ðây là nói về Ðức Phật Quan Âm, đã đầu thai xuống cõi trần rất nhiều kiếp để khuyên dạy nhơn sanh.
23.
24.
Lão Quân ứng hóa Tam Thanh,
Khuyên răn nhơn vật lòng lành chớ xao.
Ðức Thái Thượng Lão Quân biến hóa và hiện ra Tam Thanh (ý nói pháp thuật rất cao siêu huyền diệu), thường khuyên răn chúng sanh, giữ được tấm lòng lành (Thiện tâm), chớ nên xao lãng.
25.
26.
Cơ huyền diệu Ðạo Cao minh chánh,
Hiển phép mầu ma lánh quỉ kiêng.
Ðạo là cơ quan huyền diệu, cao siêu, sáng tỏ, chơn chánh. Hiện rõ ra các pháp thuật huyền diệu làm cho ma quỉ nể sợ tránh xa.
27.
28.
Trừ yêu có Thánh Tề Thiên.
Qui y Phật pháp ở miền Tây phương.
Trừ diệt yêu quái thì có Tề Thiên Ðại Thánh. Ngài đã qui y theo Ðạo Phật ở cõi Tây phương Cực Lạc.
29.
30.
Oai bốn hướng,Thần nhường quỉ sợ,
Ðức ba giềng tế trợ thương sanh.
Cái oai quyền của Ðức Quan Thánh trong khắp 4 phương, Thần phải nhường, quỉ phải sợ. Cái đức của Ngài là giữ vững Tam cang và cứu giúp nhơn sanh.
31.
32.
Hớn Trào Quan Thánh bia danh,
Trung can nghĩa khí háo sanh giúp đời.
Ðức Quan Thánh hiển Thánh vào cuối thời nhà Hớn bên Tàu, để lại danh tiếng cho đời, gồm đủ Trung can Nghĩa khí, có đức Háo sanh giúp đời.
33.
34.
Tuần ba cửa cõi Trời đều dụng,
Xét bốn phương dân chúng dữ lành.
Nơi cõi Trời, Ngài có nhiệm vụ tuần tra 3 cửa Trời. Nơi cõi trần, Ngài xem xét việc lành việc dữ của dân chúng khắp bốn phương.
35.
36.
Linh Tiêu Thái Bạch Trường Canh,
Truyền tâu Ðế Khuyết dữ lành nhơn gian.
Ðức Lý Thái Bạch vào Linh Tiêu Ðiện, tâu bày với Ðức Chí Tôn các việc lành dữ của nhơn loại ở thế gian.
37.
38.
Chí từ huệ giúp an lê thứ,
Thông rõ đời nhơn sự kiết hung.
Cái chí của Ngài là thương yêu và giúp nhơn sanh an ổn. Ngài biết rõ việc đời, việc người, việc lành việc dữ.
39.
40.
Ðại Tiên ở chốn Thiên cung,
Lòng lành thi phú thung dung độ người.
Ðức Lý Thái Bạch là một vị Ðại Tiên ở Thiên Cung (cõi Trời), với tấm lòng lành, Ngài thảnh thơi dùng văn chương thi phú dạy dỗ và cứu giúp người đời.
41.
42.
Ánh Xá lợi sáng ngời Cực Lạc.
Hiện kim thân Bồ Tát hóa duyên.
Ánh hào quang phát ra từ Chơn thần Ðức Phật làm sáng ngời cõi Cực Lạc Thế Giới. Chư vị Bồ Tát hiện ra Kim thân đi giáo hóa những người có duyên lành với Phật.
43.
44.
Thiên cung Tinh Tú, Thánh, Tiên,
Ðịa Kỳ, Thần Tướng đàn tiền giáng lâm.
Nơi Thiên cung, các vị Tinh Quân, các vị Thánh và Tiên, các vị Thần Ðất, các vị Thần Tướng, xin giáng lâm trước đàn cúng tế.
45.
46.
Lòng sở vọng lâm dâm tụng niệm,
Xin giải nàn Nam Thiệm Bộ Châu.
Lòng sở vọng mong cầu, lâm râm tụng kinh niệm Phật, cầu xin các Ðấng Thiêng liêng giải nạn cho nhơn loại nơi cõi trần thuộc Nam Thiệm Bộ Châu.
47.
48.
Chúng sanh cảm đức cao sâu,
Rèn lòng sửa nết lo âu làm lành.
Chúng sanh cảm đội ơn đức cao sâu của Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thiêng Liêng, lo tu tâm sửa tánh, và lo âu làm lành.

Nguồn Gốc:

Bài Xưng Tụng Công Ðức Phật Tiên Thánh Thần gồm 48 câu thơ song thất lục bát, do Ðức Thái Thượng Lão Quân giáng cơ ban cho 40 câu thơ đầu, Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật giáng tiếp cho thêm 8 câu chót là trọn bài, tại đàn cơ Minh Lý Ðạo vào đầu năm Ất Sửu (1925).

Thuở Khai Ðạo, Ðức Chí Tôn dạy Phật giáo và Ngũ Chi Minh Ðạo dâng kinh cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nên Hội Thánh đến Minh Lý thỉnh bài Kinh nầy về làm Kinh Ðạo Cao Ðài.

Câu 1-2: Hào quang chiếu chín từng mây bạc, Thần Thánh Tiên thừa hạc cỡi rồng.

GIẢI NGHĨA

Hào quang: Ánh sáng tỏa ra chung quanh, thấy giống như những cái lông nhọn túa ra. Ánh sáng nầy mát dịu chớ không nóng bức như ánh sáng mặt Trời.

Chín từng mây bạc: 9 từng Trời có mây màu trắng bạc.

Thừa hạc: Cỡi lên chim hạc.

Câu 1-2: Ánh hào quang chiếu sáng Chín từng Trời có mây màu trắng bạc. Chư Thần, Thánh, Tiên, Ðấng thì cỡi hạc, Ðấng thì cỡi rồng.

Câu 3-4: Phép linh thiệt rất chí công, Hóa sanh muôn vật, ngưỡng trông phước đời.

GIẢI NGHĨA

Phép linh: Cái Pháp thiêng liêng của Ðức Chí Tôn.

"Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn Khôn Thế Giới nên mới gọi là Pháp, Pháp có mới sanh ra CKVV rồi mới có người nên gọi là Tăng. Thầy là Phật, chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các Ðạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy." (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 52).

Câu 3-4: Cái Pháp Thiêng Liêng của Ðức Chí Tôn rất công bình, hóa sanh ra vạn vật, trông ngóng điều tốt lành cho cõi đời.

Câu 5-6: Trên điện ngọc, Vua Trời ngự giáng, Trước đền vàng phán đoán phân minh.

GIẢI NGHĨA

Ðiện ngọc: Cung điện bằng ngọc, đó là Linh Tiêu Ðiện trong Ngọc Hư Cung, nơi Ðức Chí Tôn họp Thiên triều.

Vua Trời: Ðức Chí Tôn.

Ngự giáng: Ðức Chí Tôn đi xuống.

Ðền vàng: Ðền của vua làm bằng vàng ròng, đó là Huỳnh Kim Khuyết.

Câu 5-6: Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế từ trên Linh Tiêu Ðiện đi xuống, đến trước Huỳnh Kim Khuyết xem xét công việc và quyết đoán một cách rõ ràng.

Câu 7-8: Cõi trần, Trung giới thinh thinh, Phàm gian lao khổ đao binh tai nàn.

GIẢI NGHĨA

Trung giới: Trung giái, là cõi trung gian giữa Hạ giới và Thượng giới. Hạ giới là cõi trần, Thượng giới là cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Ấy là sự phân chia Càn Khôn Vũ Trụ làm 3 cõi giới một cách tổng quát của các Thánh Hiền xưa.

Ðao binh: chỉ cảnh chiến tranh. Ðao là cây đao, vũ khí đánh giặc thời xưa; binh là lính.

Câu 7-8: Cõi trần và cõi Trung giới rộng lớn mênh mông, nhơn loại nơi cõi trần mệt nhọc khổ sở vì chiến tranh và tai nạn.

Câu 9-10: Lòng Trời cảm cứu an lê thứ, Ðộ chúng sanh muôn xứ gội ơn.

GIẢI NGHĨA

Cảm: Mối rung động trong lòng.

Lê thứ: Dân chúng.

Câu 9-10: Tấm lòng của Ðức Thượng Ðế cảm động, giúp đỡ dân chúng được an ổn, cứu giúp chúng sanh ở khắp nơi và ban cho nhiều ơn huệ.

Câu 11-12: Ðạo Nho truyền dạy nghĩa nhơn, Văn Tuyên Khổng Thánh khuyến dân răn đời.

GIẢI NGHĨA

Nghĩa Nhân: 2 điều căn bản trong giáo lý Nho giáo. Nhân là tình thương yêu rộng lớn, nghiêng về tình cảm; Nghĩa là việc làm chánh đáng theo lẽ phải, nghiêng về lý trí. Hai mặt Nhân và Nghĩa cần đi liền nhau, bổ sung cho nhau. Nhân là nơi yên ổn của con người, Nghĩa là con đường chánh của con người: Ở thì theo đạo Nhân, làm thì noi theo đường Nghĩa.

Văn Tuyên: Văn Tuyên Vương, tên thụy của Ðức Khổng Tử.

Câu 11-12: Ðức Khổng Thánh, Giáo chủ Ðạo Nho, truyền dạy về Nhân và Nghĩa, khuyên răn dân chúng.

Câu 13-14: Ghi các sách ngàn lời để lại, Chép vào thơ vạn đại truyền ra.

GIẢI NGHĨA

Thơ: tức là Thư: sách.

Vạn đại: Muôn đời. Ðại là đời.

Câu 13-14: Các kinh sách xưa để lại, trong đó ghi chép biết bao lời hay ý đẹp của Thánh Hiền, truyền lại muôn đời.

Câu 15-16: Tây phương cõi Phật chói lòa, Từ bi Phật Tổ hải hà độ dân.

GIẢI NGHĨA

Tây phương cõi Phật: Cõi Cực Lạc Thế Giới là cõi của chư Phật.

Phật Tổ: Ðức Phật Thích Ca.

Hải hà: Hải là biển, hà là sông. Hải hà là sông biển, ý nói lòng dạ rộng rãi như sông biển.

Câu 15-16: Cõi Cực Lạc Thế Giới ở hướng Tây là cõi Phật, ánh hào quang chiếu sáng rực rỡ. Ðức Phật Thích Ca, Tổ Sư Phật giáo, có lòng từ bi rộng lớn như sông như biển, cứu giúp dân chúng.

Câu 17-18: Lòng cảm xót dương trần lận đận, Ra oai linh tiếp dẫn nhơn cầm.

GIẢI NGHĨA

Cảm xót: Cảm động thương xót.

Dương trần: Cõi trần, cõi của nhơn loại đang sống.

Nhơn cầm: Loài người và loài chim, ý nói Chúng sanh nơi cõi trần.

Câu 17-18: Lòng của Phật cảm động thương xót chúng sanh nơi cõi trần chịu nhiều nỗi khó khăn vất vả, nên Phật dùng oai quyền thiêng liêng để tiếp dẫn chúng sanh.

Câu 19-20: Phổ Ðà có Phật Quan Âm. Ra công cứu thế, ân thâm đức dày.

GIẢI NGHĨA

Phổ Ðà: Phổ Ðà Sơn ở biển Nam Hải, là nơi Công Chúa Diệu Thiện tu hành đắc quả, hiệu là Quan Thế Âm Bồ Tát.

Ân thâm đức dày: Ơn đức sâu dày.

Câu 19-20: Ở Phổ Ðà Sơn có Ðức Phật Quan Âm đắc đạo, Ngài ra công cứu giúp người đời, ơn đức sâu dày.

Câu 21-22: Nhiều kiếp đã đầu thai biết mấy, Xuống hồng trần khuyến dạy thương sanh.

GIẢI NGHĨA

Hồng trần: Bụi đỏ, chỉ cõi trần.

Thương sanh: Nhơn sanh.

Câu 21-22: Ðây là nói về Ðức Phật Quan Âm, đã đầu thai xuống cõi trần rất nhiều kiếp để khuyên dạy nhơn sanh.

Ðức Phật Quan Âm, Ngài còn muốn làm một vị Bồ Tát để cứu độ chúng sanh, nên Ngài xưng là Quan Thế Âm Bồ Tát, được Ðức Chí Tôn giao nhiệm vụ Nhị Trấn Oai Nghiêm của Ðạo Cao Ðài, cầm quyền Phật giáo thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Câu 23-24: Lão Quân ứng hóa Tam Thanh, Khuyên răn nhơn vật lòng lành chớ xao.

GIẢI NGHĨA

Lão Quân: Ðức Lão Tử là một kiếp giáng trần của Ðức Thái Thượng Ðạo Tổ, mở Tiên giáo thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, nên được gọi là Thái Thượng Lão Quân.

Ứng hóa: Ứng là hiện ra để đáp lại, hóa là biến hóa. Ứng hoá là biến hóa hiện ra để đáp lại.

Tam Thanh: Ba Thanh: Thái Thanh, Thượng Thanh và Ngọc Thanh.

Câu 23-24: Ðức Thái Thượng Lão Quân biến hóa và hiện ra Tam Thanh (ý nói pháp thuật rất cao siêu huyền diệu), thường khuyên răn chúng sanh, giữ được tấm lòng lành (Thiện tâm), chớ nên xao lãng.

Câu 25-26: Cơ huyền diệu Ðạo Cao minh chánh, Hiển phép mầu ma lánh quỉ kiêng.

GIẢI NGHĨA

Cơ huyền diệu: Cơ quan huyền diệu, đó là Thiên cơ, Máy Trời.

Ðạo Cao: Cái Ðạo cao siêu. Ðạo Cao còn có thể hiểu là Ðạo Cao Ðài do Ðức Chí Tôn sáng lập.

Minh chánh: Sáng tỏ, ngay thẳng.

Hiển: Hiện ra. Phép mầu: Pháp thuật huyền diệu.

Câu 25-26: Ðạo là cơ quan huyền diệu, cao siêu, sáng tỏ, chơn chánh. Hiện rõ ra các pháp thuật huyền diệu làm cho ma quỉ nể sợ tránh xa.

Câu 27-28: Trừ yêu có Thánh Tề Thiên. Qui y Phật pháp ở miền Tây phương.

GIẢI NGHĨA

Thánh Tề Thiên: Tề Thiên Ðại Thánh.

Qui y Phật pháp: Qui y theo Ðạo Phật. Qui y là nguyện tin và làm đúng theo lời Phật dạy, quyết gởi trọn đời mình cho Ðạo pháp.

Câu 27-28: Trừ diệt yêu quái thì có Tề Thiên Ðại Thánh. Ngài đã qui y theo Ðạo Phật ở cõi Tây phương Cực Lạc.

Theo truyện Tây Du, Tề Thiên Ðại Thánh loạn Thiên Cung, bị Phật Tổ bắt, phạt đè dưới Ngũ Hành Sơn 500 năm.

Nhà sư Tam Tạng đi ngang, được Phật Tổ chấp thuận cho cứu Tề Thiên khỏi nạn núi đè, thâu làm đồ đệ. Tề Thiên bảo hộ Tam Tạng đi Tây phương thỉnh kinh. Nhờ công quả nầy, Tề Thiên đắc Phật vị, hiệu là Chiến Ðấu Thắng Phật.

Câu 29-30: Oai bốn hướng,Thần nhường quỉ sợ, Ðức ba giềng tế trợ thương sanh.

GIẢI NGHĨA

Bốn hướng: Bốn phương, ý nói khắp nơi.

Tế trợ: Tế là giúp đỡ, trợ là giúp cho.

Ba giềng: Tam cang.

Câu 29-30: Cái oai quyền của Ðức Quan Thánh trong khắp 4 phương, Thần phải nhường, quỉ phải sợ. Cái đức của Ngài là giữ vững Tam cang và cứu giúp nhơn sanh.

Câu 31-32: Hớn Trào Quan Thánh bia danh, Trung can nghĩa khí háo sanh giúp đời.

GIẢI NGHĨA

Hớn trào Quan Thánh: Ngài là Quan Vân Trường, được nhà Hán phong chức Hớn Thọ Ðình Hầu (thời Tam Quốc), khi chết thì hiển Thánh, hiệu là Quan Thánh Ðế Quân.

Bia danh: Cái danh tiếng để lại cho đời sau.

Trung can: Trung thành và can đảm.

Nghĩa khí: Lòng dạ cứng cỏi ưa chuộng điều phải, ghét điều sái quấy tà gian.

Háo sanh: Ưa thích sự sống.

Câu 31-32: Ðức Quan Thánh hiển Thánh vào cuối thời nhà Hớn bên Tàu, để lại danh tiếng cho đời, gồm đủ Trung can Nghĩa khí, có đức Háo sanh giúp đời.

Ðức Quan Thánh, sau khi đắc vị Thánh, Ngài dùng oai đức cứu độ chúng sanh, diệt quỉ trừ ma giúp đời. Nhờ công đức nầy, về sau Ngài đắc quả Cái Thiên Cổ Phật. Trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Ngài được Ðức Chí Tôn giao cho nhiệm vụ Ðệ Tam Trấn Oai Nghiêm, cầm quyền Nho giáo.

Câu 33-34: Tuần ba cửa cõi Trời đều dụng, Xét bốn phương dân chúng dữ lành.

GIẢI NGHĨA

Hai câu nầy bắt đầu nói về Ðức Lý Thái Bạch:

Câu 33-34: Nơi cõi Trời, Ngài có nhiệm vụ tuần tra 3 cửa Trời. Nơi cõi trần, Ngài xem xét việc lành việc dữ của dân chúng khắp bốn phương.

Câu 35-36: Linh Tiêu Thái Bạch Trường Canh, Truyền tâu Ðế Khuyết dữ lành nhơn gian.

GIẢI NGHĨA

Linh Tiêu: Linh Tiêu Ðiện trong Ngọc Hư Cung, nơi họp triều đình của Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế.

Thái Bạch Trường Canh: Sao Thái Bạch, còn được gọi là sao Trường Canh. Ðó là Sao Kim hay Kim Tinh, nhập chung lại gọi là Thái Bạch Kim Tinh. Vì sao Thái Bạch có một lần đầu kiếp xuống trần, vào nhà họ Lý, đời Ðường bên Tàu. Bà mẹ có thai, chiêm bao thấy sao Thái Bạch rơi vào lòng bà, liền sanh ra Ngài, nên đặt tên Lý Thái Bạch, gọi tắt Lý Bạch.

Hiện nay, thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Ðức Lý Thái Bạch là một vị Ðại Tiên Trưởng, lãnh nhiệm vụ Nhứt Trấn Oai Nghiêm, cầm quyền Tiên giáo, và lại được Ðức Chí Tôn giao cho kiêm nhiệm chức Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Như vậy, Ðạo Cao Ðài có một vị Giáo Tông đầu tiên là Ðức Lý Thái Bạch, ở cõi thiêng liêng, với Tịch Ðạo đầu tiên là Thanh Hương.

Ðế Khuyết: Ðấng Thượng Ðế nơi Huỳnh Kim Khuyết.

Câu 35-36: Ðức Lý Thái Bạch vào Linh Tiêu Ðiện, tâu bày với Ðức Chí Tôn các việc lành dữ của nhơn loại ở thế gian.

Câu 37-38: Chí từ huệ giúp an lê thứ, Thông rõ đời nhơn sự kiết hung.

GIẢI NGHĨA

Chí: Cái ý muốn mạnh mẽ.

Từ: Lòng thương yêu chúng sanh.

Huệ: Lòng nhân ái, thương người.

Lê thứ: Dân chúng.

Nhơn sự: Việc người.

Kiết: Lành.

Hung: Dữ.

Câu 37-38: Cái chí của Ngài là thương yêu và giúp nhơn sanh an ổn. Ngài biết rõ việc đời, việc người, việc lành việc dữ.

Câu 39-40: Ðại Tiên ở chốn Thiên cung, Lòng lành thi phú thung dung độ người.

GIẢI NGHĨA

Câu 39-40: Ðức Lý Thái Bạch là một vị Ðại Tiên ở Thiên Cung (cõi Trời), với tấm lòng lành, Ngài thảnh thơi dùng văn chương thi phú dạy dỗ và cứu giúp người đời.

KHẢO DỊ:
- Kinh Sám Hối. MLÐ, Kinh Lễ, Kinh TÐ-TÐ 1936: Thiên cung.
- Kinh TÐ-TÐ 1968, 1974, 1975: Tiên cung.

Câu 41-42: Ánh Xá lợi sáng ngời Cực Lạc. Hiện kim thân Bồ Tát hóa duyên.

GIẢI NGHĨA

Xá lợi: Chơn thần của Ðức Phật.

Ánh Xá lợi: Ánh hào quang phát ra từ Chơn thần Ðức Phật.

Kim thân: Mình vàng.

Hóa duyên: Hóa là cầu xin, duyên là mối dây ràng buộc. Hóa duyên là nhà sư đi quyên tiền làm việc công đức như xây chùa, đúc tượng, khiến người ta đóng góp tiền bạc, tức là giúp người ta kết duyên lành với Phật.

Hóa còn có nghĩa là Giáo hóa. Trong trường hợp nầy, Hóa duyên là nhân duyên giáo hóa. Phật hay Bồ Tát đến cõi đời nầy là vì có nhân duyên giáo hóa nhơn sanh. Khi nhân duyên ấy hết thì Phật liền trở về ngay.

Câu 41-42: Ánh hào quang phát ra từ Chơn thần Ðức Phật làm sáng ngời cõi Cực Lạc Thế Giới. Chư vị Bồ Tát hiện ra Kim thân đi giáo hóa những người có duyên lành với Phật.

Câu 43-44: Thiên cung Tinh Tú, Thánh, Tiên, Ðịa Kỳ, Thần Tướng đàn tiền giáng lâm.

GIẢI NGHĨA

Thiên cung: chỉ Cõi Trời.

Tinh tú: Các vì sao, ý nói các vị Tinh Quân.

Ðịa Kỳ: Ðịa là đất, Kỳ là Ông Thần đất. Ðịa Kỳ là các vị Thần đất.

Thần Tướng: Các vị Thần làm tướng trấn nhậm ở các địa phương.

Ðàn tiền: Trước đàn cúng tế.

Giáng lâm: Ði xuống tới. Giáng là đi xuống, lâm là tới.

Câu 43-44: Nơi Thiên cung, các vị Tinh Quân, các vị Thánh và Tiên, các vị Thần Ðất, các vị Thần Tướng, xin giáng lâm trước đàn cúng tế.

Câu 45-46: Lòng sở vọng lâm dâm tụng niệm, Xin giải nàn Nam Thiệm Bộ Châu.

GIẢI NGHĨA

Sở vọng: Ðiều quan trọng mà mình hằng mong ước.

Nam Thiệm Bộ Châu: Một Châu lớn trong Tứ Ðại Bộ Châu nơi cõi thiêng liêng. Cõi trần, tức là Ðiạ cầu 68 của nhơn loại thuộc về Nam Thiệm Bộ Châu.

Câu 45-46: Lòng sở vọng mong cầu, lâm râm tụng kinh niệm Phật, cầu xin các Ðấng Thiêng liêng giải nạn cho nhơn loại nơi cõi trần thuộc Nam Thiệm Bộ Châu.

Câu 47-48: Chúng sanh cảm đức cao sâu, Rèn lòng sửa nết lo âu làm lành.

GIẢI NGHĨA

Câu 47-48: Chúng sanh cảm đội ơn đức cao sâu của Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thiêng Liêng, lo tu tâm sửa tánh, và lo âu làm lành.