Kinh Tận độ Vong linh: Giới Tâm Kinh
ID026019 - Thiên Kinh : Kinh Tận độ Vong linh: Giới Tâm Kinh 🖶 Print this Thiên Kinh
Kinh : Giải Nghĩa Kinh Thiên-Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Giới Tâm Kinh
(Giọng Nam xuân)

KINH: GIẢI NGHĨA:
1.
2.
Vọng Thượng Ðế chứng lòng thành tín,
Chúng sanh đồng bái kỉnh khẩn nguyền.
Trông mong Ðức Chí Tôn chứng lòng thành thật tín ngưỡng. Chúng sanh đồng kính lạy và tha thiết cầu xin.
3.
4.
Nguyền cho trăm họ bình yên,
Nhà nhà no ấm khỏi phiền khỏi than.
Cầu xin cho dân chúng (Bá tánh) được bình yên, mọi nhà đều được no ấm, không còn phiền não, không còn than van.
5.
6.
Nguyền Khổng Thánh bảo toàn Nho giáo,
Lấy nghĩa nhân Ðại Ðạo truyền ra.
Cầu xin Ðức Khổng Thánh bảo toàn Nho giáo. Ðạo Cao Ðài với chủ trương Nho Tông Chuyển Thế, lấy 2 điều căn bản Nhân và Nghĩa của Nho giáo truyền rộng ra.
7.
8.
Tây phương Phật Tổ, Di-Ðà,
Nam Hải Phổ Ðà có Phật Quan Âm.
Nơi Cực Lạc Thế Giới, có Ðức Phật Thích Ca và Ðức A-Di-Ðà Phật. Nơi Phổ Ðà Sơn biển Nam Hải có Ðức Phật Quan Âm.
9.
10.
Lẽ báo ứng cao thâm huyền diệu,
Cho chúng sanh đặng hiểu răn mình.
Lẽ báo ứng của Trời Ðất rất cao sâu huyền diệu, để cho chúng sanh hiểu rõ mà răn mình.
11.
12.
Ðạo Quân đức hóa háo sinh,
Rộng quyền máy nhiệm an linh cứu đời.
Ðức Thái Thượng Ðạo Quân dùng đức cảm hóa nhơn sanh, hạp tánh háo sanh của Thượng Ðế, nắm giữ Máy Trời mầu nhiệm, an ổn Thiêng Liêng, rộng quyền cứu giúp nhơn sanh.
13.
14.
Xin xót thương con người ngây dại,
Phép huyền hư truyền dạy thế gian.
Xin xót thương con người còn khờ dại, xin truyền dạy Phép luyện đạo huyền diệu để luyện cho Chơn thần đến chỗ huờn hư đắc đạo.
15.
16.
Mong nhờ lịnh Ðức Thánh Quan,
Ra oai tiêu diệt cho tàn ác ma.
Mong nhờ Ðức Quan Thánh Ðế Quân ra oai tiêu diệt cho hết sạch lũ quỉ ma độc ác hại người.
17.
18.
Trường Canh chói rạng lòa Kim Khuyết,
Xin ban ơn giải nghiệt cho đời.
Sao Thái Bạch chiếu sáng Huỳnh Kim Khuyết, ý nói: Ðức Lý Thái Bạch vào Huỳnh Kim Khuyết chầu Ðức Chí Tôn, xin Ðức Chí Tôn ban ơn cởi bỏ hết các ác nghiệp cho đời.
19.
20.
Tề Thiên Ðại Thánh để lời,
Thiện nam, Tín nữ nghe thời phải vưng.
Tề Thiên Ðại Thánh để lời bảo các tín đồ Nam Nữ, hãy nghe lời dạy bảo và phải vâng theo.
21.
22.
Chớ tự phụ, cũng đừng khi ngạo,
Lẽ Trời hằng quả báo chẳng sai.
Chớ nên tự phụ, cũng đừng khinh rẻ ngược ngạo. Luật Trời hằng sắp đặt việc quả báo chẳng hề sai chạy.
23.
24.
Lời khuyên già trẻ gái trai,
Khá tua sửa nết, ăn chay làm lành.
Lời khuyên cho tất cả Nam, Nữ, già, trẻ, phải nên sửa đổi tánh nết cho tốt đẹp, phải ăn chay và làm lành.
25.
26.
Ðấng Tạo Hóa hóa sanh muôn vật,
Phú cho người tánh rất linh thông.
Ðấng Thượng Ðế sanh ra vạn vật, ban cho con người một cái tánh rất thiêng liêng và hiểu biết rõ.
27.
28.
Ðặt ra có họ có dòng,
Vua, Thầy, cha mẹ, vợ chồng, cháu con.
Ðặt ra cho mỗi người có dòng họ tổ tiên, có Vua, có Thầy, có Cha mẹ, có vợ chồng, có con cháu.
29.
30.
Tình huynh đệ tày non tợ biển,
Nghĩa hữu bằng phải kiếng phải tin.
Tình thương yêu giữa anh em ruột thịt nặng như núi, sâu như biển. Cái nghĩa giữa bạn bè là phải kính trọng nhau, tin cậy nhau.
31.
32.
Cang tam Thường ngũ phải gìn,
Chứa đức làm lành, làm phước, làm doan.
Phải gìn giữ Tam cang và Ngũ thường. Muốn chứa đức thì phải làm lành, làm phước, làm duyên.
33.
34.
Gặp người đói rách khốn nàn,
Ra tay chẩn cứu cho toàn nghĩa nhân.
Khi gặp người đói rách đang hoạn nạn khổ sở, phải ra tay chẩn cứu, mới trọn vẹn 2 chữ nhân nghĩa.
35.
36.
Mựa chớ ham giọng đờn tiếng quyển,
Thói dâm phong rù quến nguyệt hoa.
Chớ có ham mê theo lời ngon ngọt, quyến rũ vào thói ăn chơi dâm đảng, đi vào các cuộc tình ái lãng mạn.
37.
38.
Có ngày hư nát cửa nhà,
Xa gần đồn tiếng thúi tha vô cùng.
Có ngày phải bị hư nhà nát cửa, tiếng xấu đồn vang, xa gần đều biết, thật là thúi tha hổ thẹn vô cùng.
39.
40.
Trường đổ bác cũng đừng léo tới,
Phường trăng hoa hát bội khá từ.
Ðừng bén mảng tới những nơi cờ bạc. Nên từ bỏ đám trai gái trăng hoa lãng mạn và bọn đờn ca xướng hát.
41.
42.
Những điều nhơ nhuốc phải chừa,
Hỗn hào mắng nhiếc, nói thừa nói thêm.
Phải chừa những điều xấu xa nhục nhã, không được hỗn hào mắng nhiếc người trên, không được nói thêm nói bớt cho sai sự thật.
43.
44.
Nơi Ðịa ngục gông kềm sẵn đủ,
Ðể răn loài dâm phụ gian phu.
Nơi Ðịa ngục, có sẵn hai hình cụ là: Gông và Kềm, để trừng trị những kẻ dâm phụ, gian phu.
45.
46.
Ai ai bền chí mà tu,
Phước đem đổi tội cho phu dễ gì?
Mọi người nên bền chí tu hành. Ðem phước đức mà đổi lấy tội tình cho vừa đủ cũng không phải là chuyện dễ dàng gì!
47.
48.
Dễ gì lộn kiếp đặng làm người,
May đặng làm người chớ dể duôi.
Trở lại đầu thai làm một con người nơi cõi trần, không phải là điều dễ dàng. Ðó là một điều may mắn, chớ nên coi thường.
49.
50.
Lành dữ hai đường vừa ý chọn,
Lành như tòng, dữ tợ hoa tươi.
Con người có lý trí suy nghĩ, nên có 2 con đường: lành và dữ, mà tùy ý chọn lựa. Con đường lành thì bền bỉ như cây tòng; con đường dữ chóng tàn như cái hoa tươi.
51.
52.
Hoa tươi, tòng bá khác nhau xa,
Tòng bá xơ rơ kém sắc hoa.
Ðoá hoa tươi và cây tòng cây bá khác nhau xa: tòng bá thì xơ rơ, hoa tươi thì màu sắc rực rỡ.
53.
54.
Gặp tiết đông Thiên sương tuyết bủa,
Chỉ còn tòng bá, chẳng còn hoa.
Gặp tiết trời mùa đông, có sương và tuyết bao phủ, cây tòng cây bá thì đứng trơ trơ vững vàng, còn hoa kia thì rơi rụng vì chịu không nổi sương tuyết.
55.
56.
Còn hoa mà lại ích chi đâu,
Ðẹp dáng tươi màu đặng mấy lâu?
Nếu đóa hoa còn thì có ích lợi gì đâu? Hình dáng và màu hoa tươi đẹp, nhưng kéo dài được bao lâu?
57.
58.
Thử sánh ngọn đèn cùng bóng nguyệt,
Gió day đèn tắt, nguyệt làu làu.
Thử so sánh ngọn đèn với ánh sáng của mặt trăng, khi gió thổi qua hướng khác thì đèn tắt, còn ánh trăng vẫn sáng vằng vặc.
59.
60.
Làu làu một tấm tợ đài gương, Trung hiếu,
tiết trinh vẹn mọi đường.
Như một tấm gương soi thật trong sáng, Nam thì trung hiếu, Nữ thì tiết trinh, giữ cho được vẹn toàn mọi bề.
61.
62.
Sang cả mặc người đừng bợ đỡ, Hoạnh tài,
trơ mắt khỏi tai ương.
Người ta giàu có sang trọng thì mặc người ta, đừng theo nịnh hót bợ đỡ, mình nên giữ lấy phận mình.
63.
64.
Tai ương hoạn họa luống ưu sầu,
Vì bởi hay bày chước hiểm sâu.
Tai ương hoạn nạn gây ra lắm nỗi lo buồn, là bởi vì hay bày đặt mưu kế nham hiểm sâu độc hại người.
65.
66.
Lập kế đồ mưu âm hại chúng,
Kiếp sau mang lấy lốt heo trâu.
Sắp đặt mưu kế để âm thầm hãm hại người thì phải mang tội nặng, khi chết rồi, linh hồn phải đầu kiếp trở lại cõi trần làm thân heo hay trâu mà đền tội.
67.
68.
Heo trâu thân thể mạt hèn thay,
Mãn kiếp lại còn bị xẻ thây.
Mang kiếp làm heo trâu thật là thấp hèn, khi chết rồi thì thân thể còn bị xẻ ra làm thịt.
69.
70.
Lộng lộng lưới Trời tuy sếu sáo,
Thưa mà chẳng lọt mảy lông mày.
Lưới Trời cao rộng mênh mông, tuy coi lung lay yếu ớt nhưng một chút nhỏ cũng không qua lọt.
71.
72.
Mày râu đứng giữa cõi trần gian,
Gắng sức chống cho vững miếu đàng.
Phận làm trai đứng giữa cõi trần gian, phải cố gắng ra sức chống chỏi cho bền vững nước nhà.
73.
74.
Phận gái Tam Tùng cùng Tứ Ðức, Tề gia,
nội trợ vẹn là ngoan.
Phận làm đàn bà con gái thì phải giữ Tam Tùng và Tứ Ðức. Phải lo việc tề gia nội trợ cho hoàn toàn mới phải là gái ngoan.
75.
76.
Ngoan ngùy chơn chánh Phật Thần thương,
Chơn chánh liên hòa với thiện lương.
Phật và Thần, nói chung là các Ðấng Thiêng liêng đều thương mến những người ngoan ngùy, chơn chánh.
77.
78.
Thần Thánh thành do người chánh thiện,
Thiện lương chơn chánh đức không lường.
Người thiện lương chơn chánh mới có thể đắc thành Thần Thánh. Có thiện lương chơn chánh mới tạo được nhiều phước đức không lường hết được.
79.
80.
Không lường kẻ thiện với người hung,
Bợ đỡ giàu sang, phụ khốn cùng.
Không thể biết rõ được kẻ nào lành, kẻ nào dữ. Thói thường thì nịnh hót người giàu, phụ bạc kẻ nghèo khổ.
81.
82.
Ngoài mặt giả tuồng người trượng nghĩa,
Trong lòng dối kết chút tình chung.
Bề ngoài thì giả bộ là người trọng nghĩa, nhưng trong lòng thì dối trá làm như là có tình cảm chung thủy.
83.
84.
Tình chung đặng cậy thế người sang,
Mượn tiếng khua môi với xóm làng.
Giả bộ có tình cảm chung thủy đặng dựa vào thế lực của kẻ sang giàu, mượn đó đặng khoác lác khoe khoang với những người trong làng trong xóm.
85.
86.
Lời dạy Thần Tiên không kể đến,
Ðạo mầu chẳng cứ, cứ khoe khoang.
Lời dạy bảo của các Ðấng Thần, Tiên thì không kể đến, con đường Ðạo đức mầu nhiệm thì chẳng theo, mà cứ khoe khoang luôn miệng.

Nguồn Gốc:

Bài Giới Tâm Kinh do các Ðấng Thiêng liêng giáng cơ ban cho chi Minh Tân, một trong Năm chi Minh Ðạo, Hội Thánh đến thỉnh bài kinh nầy về làm kinh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Giới Tâm kinh: Giới là răn cấm, Tâm là lòng dạ. Giới Tâm Kinh là bài kinh có nội dung dạy người sửa tánh răn lòng.

Câu 1-2: Vọng Thượng Ðế chứng lòng thành tín, Chúng sanh đồng bái kỉnh khẩn nguyền.

GIẢI NGHĨA

Vọng: Trông ngóng.

Bái kỉnh: Lạy với lòng kính trọng.

Khẩn nguyền: Tha thiết mong ước cầu xin.

Câu 1-2: Trông mong Ðức Chí Tôn chứng lòng thành thật tín ngưỡng. Chúng sanh đồng kính lạy và tha thiết cầu xin.

Câu 3-4: Nguyền cho trăm họ bình yên, Nhà nhà no ấm khỏi phiền khỏi than.

GIẢI NGHĨA

Câu 3-4: Cầu xin cho dân chúng (Bá tánh) được bình yên, mọi nhà đều được no ấm, không còn phiền não, không còn than van.

Câu 5-6 Nguyền Khổng Thánh bảo toàn Nho giáo, Lấy nghĩa nhân Ðại Ðạo truyền ra.

GIẢI NGHĨA

Nghĩa nhân: Nhân là tình thương yêu rộng lớn, Nghĩa là việc làm chánh đáng theo lẽ phải. Nhân là nơi yên ổn của con người, Nghĩa là con đường chánh của con người. Ở thì theo đạo Nhân, làm thì noi theo đường Nghĩa.

Ðại Ðạo: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tức Ðạo Cao Ðài, chủ trương Nho Tông Chuyển Thế, lấy tinh hoa giáo lý Nho giáo để khuyến dạy nhơn sanh, làm cho đời trở nên thuần lương đạo đức.

Câu 5-6: Cầu xin Ðức Khổng Thánh bảo toàn Nho giáo. Ðạo Cao Ðài với chủ trương Nho Tông Chuyển Thế, lấy 2 điều căn bản Nhân và Nghĩa của Nho giáo truyền rộng ra.

Câu 7-8: Tây phương Phật Tổ, Di-Ðà, Nam Hải Phổ Ðà có Phật Quan Âm.

GIẢI NGHĨA

Phật Tổ: Ðức Phật Thích Ca là Tổ sư của Phật giáo.

Di-Ðà: Ðức Phật A-Di-Ðà.

Nam Hải Phổ Ðà: Núi Phổ Ðà ở biển Nam Hải cõi Thiêng Liêng, là nơi Công Chúa Diệu Thiện đắc đạo thành Phật hiệu là Quan Thế Âm.

Câu 7-8: Nơi Cực Lạc Thế Giới, có Ðức Phật Thích Ca và Ðức A-Di-Ðà Phật. Nơi Phổ Ðà Sơn biển Nam Hải có Ðức Phật Quan Âm.

Câu 9-10: Lẽ báo ứng cao thâm huyền diệu, Cho chúng sanh đặng hiểu răn mình.

GIẢI NGHĨA

Báo ứng: Ứng hiện ra để báo đáp những điều đã làm thuở trước, đúng theo Luật Nhân quả.

Cao thâm: Cao sâu.

Câu 9-10: Lẽ báo ứng của Trời Ðất rất cao sâu huyền diệu, để cho chúng sanh hiểu rõ mà răn mình.

Câu 11-12: Ðạo Quân đức hóa háo sinh, Rộng quyền máy nhiệm an linh cứu đời.

GIẢI NGHĨA

Ðạo Quân: Ðức Thái Thượng Ðạo Quân.

Ðức hóa: Dùng đức mà cảm hóa lòng người.

Háo sinh: Ưa thích sự sống.

Máy nhiệm: Máy Trời mầu nhiệm.

An linh: An ổn Thiêng Liêng.

Câu 11-12: Ðức Thái Thượng Ðạo Quân dùng đức cảm hóa nhơn sanh, hạp tánh háo sanh của Thượng Ðế, nắm giữ Máy Trời mầu nhiệm, an ổn Thiêng Liêng, rộng quyền cứu giúp nhơn sanh.

Câu 13-14: Xin xót thương con người ngây dại, Phép huyền hư truyền dạy thế gian.

GIẢI NGHĨA

Huyền hư: Huyền là huyền diệu, Hư là trống không, hư vô.

Phép Huyền hư: Phương pháp luyện đạo huyền diệu, luyện cho đến chỗ huờn hư thì đắc đạo.

Câu 13-14: Xin xót thương con người còn khờ dại, xin truyền dạy Phép luyện đạo huyền diệu để luyện cho Chơn thần đến chỗ huờn hư đắc đạo.

Câu 15-16: Mong nhờ lịnh Ðức Thánh Quan, Ra oai tiêu diệt cho tàn ác ma.

GIẢI NGHĨA

Cho tàn: Cho hết sạch. Tàn là hết.

Ác ma: Ma quỉ ác độc.

Câu 15-16: Mong nhờ Ðức Quan Thánh Ðế Quân ra oai tiêu diệt cho hết sạch lũ quỉ ma độc ác hại người.

Câu 17-18: Trường Canh chói rạng lòa Kim Khuyết, Xin ban ơn giải nghiệt cho đời.

GIẢI NGHĨA

Trường Canh: Sao Trường Canh là sao Thái Bạch, thường gọi là Thái Bạch Kim Tinh. Ðấng ấy hiện nay là một vị Ðại Tiên Trưởng lãnh nhiệm vụ Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm nhiệm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Kim Khuyết: Huỳnh Kim Khuyết, là nơi họp Triều đình của Ðức Chí Tôn.

Giải nghiệt: Giải là cởi bỏ ra, Nghiệt là nghiệp ác. Giải nghiệt là cởi bỏ nghiệp ác.

Câu 17-18: Sao Thái Bạch chiếu sáng Huỳnh Kim Khuyết, ý nói: Ðức Lý Thái Bạch vào Huỳnh Kim Khuyết chầu Ðức Chí Tôn, xin Ðức Chí Tôn ban ơn cởi bỏ hết các ác nghiệp cho đời.

Câu 19-20: Tề Thiên Ðại Thánh để lời, Thiện nam, Tín nữ nghe thời phải vưng.

GIẢI NGHĨA

Câu 19-20: Tề Thiên Ðại Thánh để lời bảo các tín đồ Nam Nữ, hãy nghe lời dạy bảo và phải vâng theo.

Câu 21-22: Chớ tự phụ, cũng đừng khi ngạo, Lẽ Trời hằng quả báo chẳng sai.

GIẢI NGHĨA

Khi ngạo: Khinh rẻ, ngạo mạn, đồng nghĩa Khinh ngạo.

Quả báo: Cái kết quả báo đáp lại. Những việc làm trong kiếp trước là Nhân, tạo ra Nghiệp, để báo đáp lại bằng sự hạnh phúc hay đau khổ trong kiếp nầy gọi là Quả. Ðây là Luật Nhân Quả thể hiện sự công bình của Trời Ðất.

Câu 21-22: Chớ nên tự phụ, cũng đừng khinh rẻ ngược ngạo. Luật Trời hằng sắp đặt việc quả báo chẳng hề sai chạy.

KHẢO DỊ:
- Kinh TÐ-TÐ 1936, 1968: khi ngạo.
- Kinh Lễ, Kinh TÐ-TÐ 1974, 1975: khinh ngạo.

Câu 23-24: Lời khuyên già trẻ gái trai, Khá tua sửa nết, ăn chay làm lành.

GIẢI NGHĨA

Khá: Nên.

Tua: Phải. Khá tua là phải nên.

Câu 23-24: Lời khuyên cho tất cả Nam, Nữ, già, trẻ, phải nên sửa đổi tánh nết cho tốt đẹp, phải ăn chay và làm lành.

Câu 25-26: Ðấng Tạo Hóa hóa sanh muôn vật, Phú cho người tánh rất linh thông.

GIẢI NGHĨA

Phú cho: Ban cho.

Linh: Thiêng Liêng.

Thông: Hiểu biết rõ.

Câu 25-26: Ðấng Thượng Ðế sanh ra vạn vật, ban cho con người một cái tánh rất thiêng liêng và hiểu biết rõ.

Ðó là nhờ điểm Linh quang của Ðức Chí Tôn ban cho, nên con người linh thông hơn vạn vật, đứng vào bực trên chúng sanh, nên gọi là Thượng đẳng chúng sanh.

Câu 27-28: Ðặt ra có họ có dòng, Vua, Thầy, cha mẹ, vợ chồng, cháu con.

GIẢI NGHĨA

Câu 27-28: Ðặt ra cho mỗi người có dòng họ tổ tiên, có Vua, có Thầy, có Cha mẹ, có vợ chồng, có con cháu.

Câu 29-30: Tình huynh đệ tày non tợ biển, Nghĩa hữu bằng phải kiếng phải tin.

GIẢI NGHĨA

Tày: Bằng, sánh bằng.

Tợ: Giống như.

Nghĩa: Cách cư xử đúng lẽ phải.

Hữu bằng: Bè bạn.

Kiếng: Kính trọng.

Câu 29-30: Tình thương yêu giữa anh em ruột thịt nặng như núi, sâu như biển. Cái nghĩa giữa bạn bè là phải kính trọng nhau, tin cậy nhau.

Câu 31-32: Cang tam Thường ngũ phải gìn, Chứa đức làm lành, làm phước, làm doan.

GIẢI NGHĨA

Cang tam: Tam cang, dịch là Ba giềng. Tam cang gồm: Quân thần cang, Phụ tử cang, Phu thê cang. Thường ngũ: Ngũ thường, dịch là Năm hằng. Ngũ thường gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Làm doan: Làm duyên, là làm những việc thiện để tạo duyên lành, hưởng phước về sau.

Câu 31-32: Phải gìn giữ Tam cang và Ngũ thường. Muốn chứa đức thì phải làm lành, làm phước, làm duyên.

Câu 33-34: Gặp người đói rách khốn nàn, Ra tay chẩn cứu cho toàn nghĩa nhân.

GIẢI NGHĨA

Chẩn cứu: Chẩn là giúp đỡ bằng cách đem vật thực đến cho. Chẩn cứu là cứu giúp, đem tiền bạc, thực phẩm, thuốc men, quần áo đến phát cho người đang bị hoạn nạn.

Câu 33-34: Khi gặp người đói rách đang hoạn nạn khổ sở, phải ra tay chẩn cứu, mới trọn vẹn 2 chữ nhân nghĩa.

Câu 35-36: Mựa chớ ham giọng đờn tiếng quyển, hói dâm phong rù quến nguyệt hoa.

GIẢI NGHĨA

Mựa: Chớ, tiếng dùng với ý cản ngăn.

Tiếng quyển: Tiếng sáo.

Giọng đờn tiếng quyển: Tiếng đàn tiếng sáo du dương khiến người ta mê theo. Ý nói: Lời nói ngon ngọt của phụ nữ đẹp dụ dỗ vào đường tình ái bất chánh.

Dâm phong: Thói quen ham mê thú vui xác thịt nam nữ. Phong là thói quen lâu đời.

Nguyệt hoa: Trăng hoa. Do câu: Nguyệt hạ hoa tiền: Dưới trăng trước hoa, ý nói: việc lén lút tình tự lãng mạn giữa trai gái hẹn hò ngắm trăng xem hoa. Ðó là tình yêu lãng mạn vượt ra ngoài lễ giáo, bị người xưa ngăn cấm.

Câu 35-36: Chớ có ham mê theo lời ngon ngọt, quyến rũ vào thói ăn chơi dâm đảng, đi vào các cuộc tình ái lãng mạn.

Câu 37-38: Có ngày hư nát cửa nhà, Xa gần đồn tiếng thúi tha vô cùng.

GIẢI NGHĨA

Câu 37-38: Có ngày phải bị hư nhà nát cửa, tiếng xấu đồn vang, xa gần đều biết, thật là thúi tha hổ thẹn vô cùng.

Câu 39-40: Trường đổ bác cũng đừng léo tới, Phường trăng hoa hát bội khá từ.

GIẢI NGHĨA

Trường: Nơi tụ tập nhiều người.

Ðổ bác: Ðánh bài bạc ăn tiền.

Trường đổ bác: Sòng bài, nơi tổ chức cờ bạc.

Léo: Bén mảng tới gần.

Phường: Ðám, bọn.

Hát bội: Hát diễn các truyện xưa tích cũ, chỉ việc đờn ca xướng hát. Thời xưa cho rằng, người theo đờn ca xướng hát đều lãng mạn phóng túng, không giữ được nền nếp Nho phong.

Khá từ: Nên từ bỏ.

Câu 39-40: Ðừng bén mảng tới những nơi cờ bạc. Nên từ bỏ đám trai gái trăng hoa lãng mạn và bọn đờn ca xướng hát.

Câu 41-42: Những điều nhơ nhuốc phải chừa, Hỗn hào mắng nhiếc, nói thừa nói thêm.

GIẢI NGHĨA

Nhơ nhuốc: Xấu xa nhục nhã.

Hỗn hào: Có lời nói hay cử chỉ vô lễ, láo xược, khi dể người trên.

Câu 41-42: Phải chừa những điều xấu xa nhục nhã, không được hỗn hào mắng nhiếc người trên, không được nói thêm nói bớt cho sai sự thật.

Câu 43-44: Nơi Ðịa ngục gông kềm sẵn đủ, Ðể răn loài dâm phụ gian phu.

GIẢI NGHĨA

Dâm phụ: Người đàn bà dâm đảng lấy chồng người.

Gian phu: Người đàn ông tà dâm lấy vợ người.

Câu 43-44: Nơi Ðịa ngục, có sẵn hai hình cụ là: Gông và Kềm, để trừng trị những kẻ dâm phụ, gian phu.

Câu 45-46: Ai ai bền chí mà tu, Phước đem đổi tội cho phu dễ gì ?

GIẢI NGHĨA

Phước: Phước đức.

Phu: Ðủ, thỏa.

Cho phu: Cho đủ.

Câu 45-46: Mọi người nên bền chí tu hành. Ðem phước đức mà đổi lấy tội tình cho vừa đủ cũng không phải là chuyện dễ dàng gì!

Câu 47-48: Dễ gì lộn kiếp đặng làm người, May đặng làm người chớ dể duôi.

GIẢI NGHĨA

Lộn kiếp: Quay trở lại cõi trần để đầu thai lên một kiếp sống khác.

Dể duôi: Khinh rẻ, coi thường.

Câu 47-48: Trở lại đầu thai làm một con người nơi cõi trần, không phải là điều dễ dàng. Ðó là một điều may mắn, chớ nên coi thường.

Bởi vì theo Luật Tiến hóa, từ loài Thú cầm, tiến hóa lên phẩm Người phải trải qua muôn ngàn kiếp, kéo dài không biết bao nhiêu năm mà kể. Cho nên làm được một con Người thì thật là quí báu. Người là loài Thượng đẳng chúng sanh, có tánh linh hơn vạn vật nên mới có thể tu thành Tiên, Phật.

Câu 49-50: Lành dữ hai đường vừa ý chọn, Lành như tòng, dữ tợ hoa tươi.

GIẢI NGHĨA

Tòng: Cây tùng, cây thông. Ðây là loại cây sống rất lâu năm, chịu được sương tuyết, lá vẫn xanh tươi, thân mọc thẳng đứng, nên được ví với người quân tử.

Câu 49-50: Con người có lý trí suy nghĩ, nên có 2 con đường: lành và dữ, mà tùy ý chọn lựa. Con đường lành thì bền bỉ như cây tòng; con đường dữ chóng tàn như cái hoa tươi.

Câu 51-52: Hoa tươi, tòng bá khác nhau xa, Tòng bá xơ rơ kém sắc hoa.

GIẢI NGHĨA

Tòng bá: Cây tùng và cây bá. Cây bá, cũng còn gọi là cây trắc, giống như cây tùng, sống rất lâu năm và chịu được sương tuyết, lá vẫn xanh tươi, trong lúc các cây khác thì bị rụng lá trơ trụi.

Xơ rơ: Lơ thơ, cành lá thưa thớt.

Câu 51-52: Ðoá hoa tươi và cây tòng cây bá khác nhau xa: tòng bá thì xơ rơ, hoa tươi thì màu sắc rực rỡ.

Câu 53-54: Gặp tiết đông Thiên sương tuyết bủa, Chỉ còn tòng bá, chẳng còn hoa.

GIẢI NGHĨA

Tiết đông Thiên: Tiết trời mùa đông, có tuyết rơi rất lạnh lẽo. Tiết là thời gian tương ứng với một đặc trưng về khí hậu.

Bủa: Giăng, bao phủ khắp bầu Trời.

Câu 53-54: Gặp tiết trời mùa đông, có sương và tuyết bao phủ, cây tòng cây bá thì đứng trơ trơ vững vàng, còn hoa kia thì rơi rụng vì chịu không nổi sương tuyết.

Câu 55-56: Còn hoa mà lại ích chi đâu, Ðẹp dáng tươi màu đặng mấy lâu ?

GIẢI NGHĨA

Câu 55-56: Nếu đóa hoa còn thì có ích lợi gì đâu? Hình dáng và màu hoa tươi đẹp, nhưng kéo dài được bao lâu?

Người hung ác thì như cánh hoa kia vậy. Lúc đắc thời thì như hoa tươi thắm, nhưng tồn tại được bao lâu?

Câu 57-58: Thử sánh ngọn đèn cùng bóng nguyệt, Gió day đèn tắt, nguyệt làu làu.

GIẢI NGHĨA

Gió day: Gió thổi trở qua hướng khác.

Nguyệt làu làu: Trăng sáng vằng vặc.

Câu 57-58: Thử so sánh ngọn đèn với ánh sáng của mặt trăng, khi gió thổi qua hướng khác thì đèn tắt, còn ánh trăng vẫn sáng vằng vặc.

KHẢO DỊ:
- Kinh TÐ-TÐ 1936, Kinh Lễ: Gió day.
- Kinh TÐ-TÐ 1968, 1974, 1975: Gió lay.
Gió lay: Gió lay động. Lay động là chuyển động nhẹ nhàng qua lại ở một vị trí nhứt định.

Câu 59-60: Làu làu một tấm tợ đài gương, Trung hiếu, tiết trinh vẹn mọi đường.

GIẢI NGHĨA

Ðài gương: Cái giá gỗ trên đó có đặt một tấm kiếng để làm gương soi.

Gương làu làu: Cái gương được lau thật sạch, không một tí bụi bám vào.

Câu 59-60: Như một tấm gương soi thật trong sáng, Nam thì trung hiếu, Nữ thì tiết trinh, giữ cho được vẹn toàn mọi bề.

Câu 61-62: Sang cả mặc người đừng bợ đỡ, Hoạnh tài, trơ mắt khỏi tai ương.

GIẢI NGHĨA

Sang cả: Sang là quí phái, cả là lớn. Sang cả là sang trọng lắm.

Bợ đỡ: Nịnh hót để cầu lợi.

Hoạnh tài: Hoạnh là không hợp lý, tài là tiền bạc. Hoạnh tài là có được nhiều tiền bạc một cách không hợp lý, không phải do sức lực của mình làm ra. Thí dụ: Lượm được một gói vàng, .

Trơ mắt: Ðứng yên, lấy mắt nhìn mà không làm gì cả.

Câu 61-62: Người ta giàu có sang trọng thì mặc người ta, đừng theo nịnh hót bợ đỡ, mình nên giữ lấy phận mình.

Ðồng tiền không do công sức mình làm ra một cách chánh đáng, chỉ nên lấy mắt ngó mà thôi, đừng chạm đến, thì khỏi rước lấy tai họa vào thân.

Câu 63-64: Tai ương hoạn họa luống ưu sầu, Vì bởi hay bày chước hiểm sâu.

GIẢI NGHĨA

Tai ương: Tai là việc hao tổn, ương là họa hại.

Hoạn họa: Hoạn là mối hại lớn, họa là tai vạ.

Tai ương hoạn họa: Tai nạn làm tổn hại lớn. Luống: Nhiều lần.

Ưu sầu: Lo lắng buồn rầu.

Chước: Mưu kế.

Hiểm sâu: Nham hiểm và sâu độc.

Câu 63-64: Tai ương hoạn nạn gây ra lắm nỗi lo buồn, là bởi vì hay bày đặt mưu kế nham hiểm sâu độc hại người.

Câu 65-66: Lập kế đồ mưu âm hại chúng, Kiếp sau mang lấy lốt heo trâu.

GIẢI NGHĨA

Lập kế đồ mưu: Sắp đặt lập ra mưu kế. Ðồ là sắp đặt.

Âm hại: Hại người một cách ngấm ngầm, không để lộ ra.

Chúng: Nhiều người.

Lốt: Hình thức bề ngoài.

Câu 65-66: Sắp đặt mưu kế để âm thầm hãm hại người thì phải mang tội nặng, khi chết rồi, linh hồn phải đầu kiếp trở lại cõi trần làm thân heo hay trâu mà đền tội.

Câu 67-68: Heo trâu thân thể mạt hèn thay, Mãn kiếp lại còn bị xẻ thây.

GIẢI NGHĨA

Mãn kiếp: Hết kiếp sống, tức là chết.

Xẻ thây: Thân thể bị làm thịt, chặt ra nhiều mảnh.

Câu 67-68: Mang kiếp làm heo trâu thật là thấp hèn, khi chết rồi thì thân thể còn bị xẻ ra làm thịt.

Câu 69-70: Lộng lộng lưới Trời tuy sếu sáo, Thưa mà chẳng lọt mảy lông mày.

GIẢI NGHĨA

Lộng lộng: Cao rộng mênh mông.

Sếu sáo: Lung lay yếu ớt như sắp hư nát.

Mảy lông mày: Ý nói một vật rất nhỏ như một chút lông mày.

Câu 69-70: Lưới Trời cao rộng mênh mông, tuy coi lung lay yếu ớt nhưng một chút nhỏ cũng không qua lọt.

Hai câu kinh nầy có ý nghĩa tương tợ như câu Hán văn: "Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu." Nghĩa là: Lưới Trời lồng lộng, thưa mà không lọt.

Câu 71-72: Mày râu đứng giữa cõi trần gian, Gắng sức chống cho vững miếu đàng.

GIẢI NGHĨA

Mày râu: Dịch chữ Tu mi, chỉ giới đàn ông con trai.

Miếu đàng: Miếu đường, nơi thờ phượng tổ tiên dòng họ của nhà vua. Miếu đường thường được xây dựng kế bên triều đình, nên từ ngữ Miếu đường dùng để chỉ Triều đình của vua, tức là cơ quan tối cao lãnh đạo quốc gia.

Câu 71-72: Phận làm trai đứng giữa cõi trần gian, phải cố gắng ra sức chống chỏi cho bền vững nước nhà.

Câu 73-74: Phận gái Tam Tùng cùng Tứ Ðức, Tề gia, nội trợ vẹn là ngoan.

GIẢI NGHĨA

Tam Tùng: Ba điều phải theo của người phụ nữ, gồm:

Tại gia tùng phụ: Ở tại nhà thì phải tùng theo cha.

Xuất giá tùng phu: Có chồng thì phải tùng theo chồng.

Phu tử tùng tử: Chồng chết thì theo con, tức là ở vậy nuôi con cho khôn lớn và tạo lập sự nghiệp cho con.

Tứ đức: Bốn đức tốt của người phụ nữ, gồm:

Công: Chăm làm việc nhà: May vá, nấu ăn, nuôi dạy con.

Dung: Chăm sóc dung nhan cho tốt đẹp.

Ngôn: Lời nói dịu dàng, mực thước, ngay thẳng.

Hạnh: Tánh nết hiền hòa, cử chỉ đoan trang.

Tề gia nội trợ: Sắp đặt mọi việc trong gia đình cho được an ổn, giúp đỡ bên trong gia đình.

Câu 73-74: Phận làm đàn bà con gái thì phải giữ Tam Tùng và Tứ Ðức. Phải lo việc tề gia nội trợ cho hoàn toàn mới phải là gái ngoan.

Câu 75-76: Ngoan ngùy chơn chánh Phật Thần thương, Chơn chánh liên hòa với thiện lương.

GIẢI NGHĨA

Ngoan ngùy: Ngoan ngoãn thùy mị, nết na dễ dạy.

Chơn chánh: Chơn thật ngay thẳng.

Liên hòa: Liên kết và hòa hợp.

Thiện lương: Lành tốt.

Câu 75-76: Phật và Thần, nói chung là các Ðấng Thiêng liêng đều thương mến những người ngoan ngùy, chơn chánh.

Sự chơn chánh phải liên kết hòa hợp với sự lương thiện.

Câu 77-78: Thần Thánh thành do người chánh thiện, Thiện lương chơn chánh đức không lường.

GIẢI NGHĨA

Chánh thiện: Chơn chánh và lương thiện.

Không lường: Không đo lường được, ý nói số lượng rất lớn, rất nhiều.

Câu 77-78: Người thiện lương chơn chánh mới có thể đắc thành Thần Thánh. Có thiện lương chơn chánh mới tạo được nhiều phước đức không lường hết được.

Câu 79-80: Không lường kẻ thiện với người hung, Bợ đỡ giàu sang, phụ khốn cùng.

GIẢI NGHĨA

Bợ đỡ: Nịnh hót để cầu lợi.

Phụ: Ðối xử tệ bạc.

Khốn cùng: Nghèo túng khổ sở.

Câu 79-80: Không thể biết rõ được kẻ nào lành, kẻ nào dữ. Thói thường thì nịnh hót người giàu, phụ bạc kẻ nghèo khổ.

Câu 81-82: Ngoài mặt giả tuồng người trượng nghĩa, Trong lòng dối kết chút tình chung.

GIẢI NGHĨA

Giả tuồng: Giả bộ, giả đò, không thật lòng.

Trượng nghĩa: Trọng nghĩa, xem nặng việc cư xử theo lẽ phải, hợp đạo đức.

Dối kết: Liên kết với nhau một cách dối trá.

Tình chung: Tình cảm chung thủy, không thay đổi.

Câu 81-82: Bề ngoài thì giả bộ là người trọng nghĩa, nhưng trong lòng thì dối trá làm như là có tình cảm chung thủy.

Câu 83-84: Tình chung đặng cậy thế người sang, Mượn tiếng khua môi với xóm làng.

GIẢI NGHĨA

Cậy thế: Dựa vào thế lực.

Người sang: Kẻ giàu sang.

Khua môi: Nói khoác lác khoe khoang.

Câu 83-84: Giả bộ có tình cảm chung thủy đặng dựa vào thế lực của kẻ sang giàu, mượn đó đặng khoác lác khoe khoang với những người trong làng trong xóm.

Câu 85-86: Lời dạy Thần Tiên không kể đến, Ðạo mầu chẳng cứ, cứ khoe khoang.

GIẢI NGHĨA

Câu 85-86: Lời dạy bảo của các Ðấng Thần, Tiên thì không kể đến, con đường Ðạo đức mầu nhiệm thì chẳng theo, mà cứ khoe khoang luôn miệng.