Kinh Nhập Hội

Kinh Nhập Hội
 ♫ (Giọng Nam xuân)

KINH: GIẢI NGHĨA:
1.
2.
Trên Bạch Ngọc Chí Tôn cao ngự,
Giữa Tây phương nắm giữ Thiên điều.
Ở trên hết là Bạch Ngọc Kinh, có Ðức Chí Tôn ngự trên cao. Ở giữa là cõi Tây phương Cực Lạc Thế Giới có chư Phật nắm giữ Thiên điều.
3.
4.
Dưới Ngọc Hư kể bao nhiêu,
Thiêng liêng các Ðấng lập triều trị dân.
Ở phía dưới thì có Ngọc Hư Cung, các Ðấng Thiêng Liêng họp thành triều đình để cai trị chúng sanh trong toàn cả Càn Khôn Thế Giới .
5. Một nuôi nấng tinh thần tinh khiết. Nhiệm vụ thứ nhứt của các Ðấng Thiêng Liêng nơi Ngọc Hư Cung là dạy nhơn sanh biết cách nuôi nấng tinh thần tinh khiết.
6. Hai dạy răn cho biết tội tình. Nhiệm vụ thứ nhì là dạy bảo và răn cấm cho biết cái nào là tội lỗi đáng bị trừng phạt.
7. Ba lo trị thế thái bình. Nhiệm vụ thứ ba của các Ðấng Thiêng liêng là cai trị nhơn loại trên các cõi trần cho được thái bình.
8. Cộng chung pháp luật Thiên đình chí công. Nói chung lại thì các Ðấng Thiêng liêng nơi Ngọc Hư Cung thi hành luật pháp của Thiên đình rất công bình.
9. Các con vốn trong vòng Thánh thể. Chúng con đây, nguyên từ trước ở trong vòng Thánh thể của Ðức Chí Tôn.
10. Phép tu vi là kế tu hành. Cách thức sửa đổi cho tốt đẹp từ những việc nhỏ. Ấy là kế hoạch tốt nhứt của người tu hành.
11.
12.
Mở đường tích cực oai linh,
Cậy phương thuyết giáo vẽ thành Kinh chơn.
Mở ra con đường tích cực và oai linh. Nhờ vào phương cách thuyết giảng giáo lý, diễn tả ra được Chơn lý, nên tạo thành các quyển Chơn Kinh.
13.
14.
Ðại Từ Phụ ra ơn dìu dẫn,
Diệt trí phàm: hờn giận, ghét ganh.
Xin Ðức Chí Tôn ban ơn dìu dẫn chúng con, giúp chúng con tiêu diệt những sự giận hờn, ganh ghét trong cái phần phàm tục của trí não.
15.
16.
Ðể tâm dưới ánh Chí Linh,
Soi tường chơn lý, chỉ rành chánh văn.
Ðặt cái Tâm dưới ánh sáng thiêng liêng của Ðức Chí Tôn để nhờ ánh sáng ấy soi rọi cho rõ ràng cái Chơn lý bất biến, và chỉ rõ cái văn chương chơn chánh.
17.
18.
Cơ chuyển thế khó khăn lắm nỗi,
Mượn Thánh ân xây đổi cơ đời.
Cơ quan Chuyển thế của Ðức Chí Tôn trong lúc nầy gặp rất nhiều nỗi khó khăn. Nhờ ơn huệ của Ðức Chí Tôn mà xoay chuyển được Cơ Ðời, cứu nhơn loại thoát khỏi nạn tiêu diệt.
19.
20.
Thuận nhơn tâm ắt thuận Trời,
Câu kinh Vô tự độ người thiện duyên.
Thuận lòng người thì ắt thuận lẽ Trời. Những lời thuyết đạo có thể làm giác ngộ những người có duyên lành.
21.
22.
Nguyện Ơn Trên cho yên trí não,
Nguyện Phật Tiên dạy bảo chơn linh.
Xin cầu nguyện với Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thiêng liêng giúp cho trí não được an ổn. Xin cầu nguyện chư Phật chư Tiên dạy bảo chơn linh của chúng con.
23.
24.
Mang danh Hội Thánh đã đành,
Nâng tay nhục thể xây hình Chí Tôn.
Ðã đành mang danh là Chức sắc của Hội Thánh, thì phải dùng đôi tay phàm ra sức xây dựng Hội Thánh.

(Niệm 1 lần Câu Chú của Thầy)

GIẢI NGHĨA

Nhập hội: Nhập là vào, Hội là nhiều người tụ họp lại để bàn luận những vấn đề quan trọng, biểu quyết lấy ý kiến chung. Nhập Hội là vào Hội nghị.

Kinh Nhập Hội là bài Kinh để tất cả thành viên trong Hội Nghị đứng lên tụng trước khi bắt đầu cuộc Hội để cầu nguyện cuộc hội tiến triển tốt đẹp, đúng theo Luật Ðạo và thành công.

Câu 1-2: Trên Bạch Ngọc Chí Tôn cao ngự, Giữa Tây phương nắm giữ Thiên điều.

GIẢI NGHĨA

Bạch Ngọc: Bạch Ngọc Kinh, nơi ngự của Ðức Chí Tôn.

Chí Tôn cao ngự: Ðức Chí Tôn ngồi ở trên cao.

Tây phương: Cõi Cực Lạc Thế Giới ở về hướng Tây, là cõi của chư Phật.

Thiên điều: Các điều luật pháp của Trời. Thiên điều được chép trong Thiên Thơ. Thiên điều do các Ðấng Tiên Phật họp Hội Nghị tại Ngọc Hư Cung lập ra để điều hành sự vận chuyển trong Càn Khôn Vũ Trụ và sự tiến hóa của vạn linh.

Câu 1-2: Ở trên hết là Bạch Ngọc Kinh, có Ðức Chí Tôn ngự trên cao. Ở giữa là cõi Tây phương Cực Lạc Thế Giới có chư Phật nắm giữ Thiên điều.

Câu 3-4: Dưới Ngọc Hư kể bao nhiêu, Thiêng liêng các Ðấng lập triều trị dân.

GIẢI NGHĨA

Ngọc Hư: Ngọc Hư Cung, ở từng Trời Hư Vô Thiên.

Lập triều trị dân: Thành lập triều đình cai trị toàn cả Càn Khôn Thế Giới và chúng sanh. Chữ Dân ở đây, chúng ta phải hiểu theo nghĩa rộng là toàn cả chúng sanh.

Câu 3-4: Ở phía dưới thì có Ngọc Hư Cung, các Ðấng Thiêng Liêng họp thành triều đình để cai trị chúng sanh trong toàn cả Càn Khôn Thế Giới .

Câu 5: Một nuôi nấng tinh thần tinh khiết.

GIẢI NGHĨA

Tinh thần: Phần sáng suốt trong con người để hiểu biết và phân biệt lẽ phải trái. Do đó, tinh thần chính là Chơn thần của con người.

Tinh khiết: Trong sạch.

Tinh thần tinh khiết: Chơn thần trong sạch. Một Chơn thần trong sạch khi ở trong một xác thân trong sạch. Muốn xác thân trong sạch thì phải: "Ẩm thực tinh khiết, Tư tưởng tinh khiết, Tín ngưỡng mạnh mẽ nơi Chí Tôn, Phật Mẫu."

Câu 5: Nhiệm vụ thứ nhứt của các Ðấng Thiêng Liêng nơi Ngọc Hư Cung là dạy nhơn sanh biết cách nuôi nấng tinh thần tinh khiết.

Câu 6: Hai dạy răn cho biết tội tình.

GIẢI NGHĨA

Câu 6: Nhiệm vụ thứ nhì là dạy bảo và răn cấm cho biết cái nào là tội lỗi đáng bị trừng phạt.

Câu 7: Ba lo trị thế thái bình.

GIẢI NGHĨA

Trị thế: Thế là đời, chỉ các cõi trần có nhơn loại ở.

Trị thế là cai trị nhơn loại trên các cõi trần.

Câu 7: Nhiệm vụ thứ ba của các Ðấng Thiêng liêng là cai trị nhơn loại trên các cõi trần cho được thái bình.

Câu 8: Cộng chung pháp luật Thiên đình chí công.

GIẢI NGHĨA

Câu 8: Nói chung lại thì các Ðấng Thiêng liêng nơi Ngọc Hư Cung thi hành luật pháp của Thiên đình rất công bình.

Câu 9: Các con vốn trong vòng Thánh thể.

GIẢI NGHĨA

Vốn: Nguyên từ trước.

Thánh thể của Ðức Chí Tôn: Những Chức sắc Cửu Trùng Đài từ phẩm Giáo Hữu trở lên.

Câu 9: Chúng con đây, nguyên từ trước ở trong vòng Thánh thể của Ðức Chí Tôn.

Câu 10: Phép tu vi là kế tu hành.

GIẢI NGHĨA

Phép tu vi: Phép là cách thức, phương pháp; Tu là sửa đổi cho tốt đẹp, tu hành; Vi là phần rất nhỏ. Phép tu vi là phương pháp sửa đổi cho tốt đẹp từ những việc rất nhỏ nhặt.

Lưu Bị, một vị vua thời Tam Quốc, hiệu là Hớn Chiêu Liệt, đã dạy con là Thái Tử Lưu Thiện (sau gọi là Hậu chủ) một câu rất nổi tiếng: "Vật dĩ thiện tiểu nhi bất vi, vật dĩ ác tiểu nhi vi chi." Nghĩa là: Ðừng cho việc lành nhỏ mà không làm, đừng cho việc ác nhỏ mà lại làm.

Ý nói: Thấy việc lành nhỏ, cho rằng công đức không đáng kể nên không thèm làm. Trái lại, khi thấy việc ác nhỏ, cho rằng tội lỗi không đáng kể nên lại làm.

Việc gì cũng vậy, luôn luôn bắt đầu từ cái nhỏ nhặt rồi mới đến cái to lớn. Ðối với người tu hành, phải bắt đầu tập làm các việc lành nhỏ, thí dụ: lượm miểng chai, đinh nhọn, chông gai rơi trên đường đi; nhường ghế cho cụ già; đưa người tàn tật qua đường,... và tránh làm các điều ác nhỏ, thí dụ: bẻ một cành hoa đẹp nơi công viên, giết một con kiến, con dế,...

Câu 10: Cách thức sửa đổi cho tốt đẹp từ những việc nhỏ. Ấy là kế hoạch tốt nhứt của người tu hành.

Câu 11-12: Mở đường tích cực oai linh, Cậy phương thuyết giáo vẽ thành Kinh chơn.

GIẢI NGHĨA

Tích cực: Nghiêng về mặt hành động để đạt được những kết quả cụ thể.

Oai linh: Oai nghiêm thiêng liêng.

Thuyết giáo: Thuyết giảng giáo lý.

Kinh chơn: Quyển kinh chép lại đúng y lời giảng dạy của chư Tiên, Phật.

Câu 11-12: Mở ra con đường tích cực và oai linh. Nhờ vào phương cách thuyết giảng giáo lý, diễn tả ra được Chơn lý, nên tạo thành các quyển Chơn Kinh.

Ðức Phật Thích Ca, lúc còn sanh tiền, Ngài chỉ thuyết giảng giáo lý mà Ngài đã chứng ngộ được, chớ Ngài không hề cầm bút viết ra một quyển kinh sách nào. Sau khi Ngài tịch, các Ðại Ðệ tử của Ngài họp nhau lại, tạo thành các buổi kết tập kinh điển, đọc lại các lời giảng dạy của Phật, ghi chép thành Tam Tạng Kinh, truyền lại đến ngày nay.

Câu 13-14: Ðại Từ Phụ ra ơn dìu dẫn, Diệt trí phàm: hờn giận, ghét ganh.

GIẢI NGHĨA

Trí phàm: Cái trí não suy nghĩ hiểu biết còn thấp kém.

Trong mỗi con người đều có 2 phần tương đối trái ngược nhau là: Chánh, Tà; Thánh, Phàm; Phật, Ma. Một bên có khuynh hướng kéo con người đi lên chỗ cao thượng, một bên thì muốn kéo con người đi xuống chỗ thấp kém tối tăm.

Diệt trí phàm là tiêu diệt cái phần phàm của trí não để phần Thánh trí hiện rõ ra, đưa con người lên chỗ cao thượng.

Câu 13-14: Xin Ðức Chí Tôn ban ơn dìu dẫn chúng con, giúp chúng con tiêu diệt những sự giận hờn, ganh ghét trong cái phần phàm tục của trí não.

Câu 15-16: Ðể tâm dưới ánh Chí Linh, Soi tường chơn lý, chỉ rành chánh văn.

GIẢI NGHĨA

Tâm: Chữ Tâm ở đây lấy theo nghĩa bên Phật giáo, là phần vô hình tinh thông linh diệu của con người, mà nếu phân tách ra thì Tâm gồm: Chơn linh và Chơn thần của con người.

Ánh Chí Linh là ánh sáng của Ðức Chí Tôn.

Soi tường: Soi rọi rõ ràng.

Chơn lý: Cái lẽ chơn thật không biến đổi theo thời gian và không gian (Bất biến).

Chánh văn: Văn chương có ý nghĩa ngay thẳng, diễn tả những điều chơn thực, đúng đắn.

Câu 15-16: Ðặt cái Tâm dưới ánh sáng thiêng liêng của Ðức Chí Tôn để nhờ ánh sáng ấy soi rọi cho rõ ràng cái Chơn lý bất biến, và chỉ rõ cái văn chương chơn chánh.

Câu 17-18: Cơ chuyển thế khó khăn lắm nỗi, Mượn Thánh ân xây đổi cơ đời.

GIẢI NGHĨA

Chuyển thế: Làm cho đời biến đổi từ xấu thành tốt.

Cơ Chuyển thế: Cơ quan có nhiệm vụ làm cho Ðời biến đổi từ xấu thành tốt. Ðức Chí Tôn lập Ðạo Cao Ðài là mở ra một Cơ quan Chuyển thế, với chủ trương NHO TÔNG CHUYỂN THẾ, nghĩa là dùng tinh hoa giáo lý Nho giáo để dạy dỗ nhơn sanh, làm cho cuộc đời hung bạo hiện nay sẽ trở nên thuần lương đạo đức.

Thánh ân: Ơn huệ của Ðức Chí Tôn.

Xây đổi: Xoay chuyển làm cho thay đổi.

Cơ đời: Bộ máy của đời. Bộ máy nầy đang hoạt động mạnh mẽ, đưa nhơn loại vào vòng tranh đấu khốc liệt, đi đến chỗ diệt vong.

Câu 17-18: Cơ quan Chuyển thế của Ðức Chí Tôn trong lúc nầy gặp rất nhiều nỗi khó khăn. Nhờ ơn huệ của Ðức Chí Tôn mà xoay chuyển được Cơ Ðời, cứu nhơn loại thoát khỏi nạn tiêu diệt.

Câu 19-20: Thuận nhơn tâm ắt thuận Trời, Câu kinh Vô tự độ người thiện duyên.

GIẢI NGHĨA

Nhơn tâm: Lòng người.

Thiện duyên: Duyên lành.

Thuận nhơn Tâm ắt thuận Trời, là bởi vì Ý dân là Ý Trời, thuận theo lòng dân thì hạp lòng Trời, cho nên Quyền Vạn Linh mới đối lại được với Quyền của Ðức Chí Tôn.

Câu Kinh Vô tự: Câu Kinh không chữ. Trong trường hợp nầy, chúng ta có thể hiểu Câu Kinh Vô tự như sau:

Muốn cảm hóa người thì chúng ta phải nói Ðạo cho họ nghe mà biết Ðạo, biết lẽ chánh lẽ tà, biết con đường tốt đẹp nên theo. Muốn nói Ðạo cho hiệu quả thì chúng ta phải học thuộc Thánh Ngôn Thánh giáo, Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, nghiên cữu kỹ lưỡng Giáo lý và Triết lý của Ðạo, học cho nhập tâm, rồi mới nói ra bằng lời Thuyết đạo.

Ðức Chí Tôn có nói: "Dầu cho sắt đá cỏ cây mà nghe Thánh ngôn của Thầy nơi con nói ra cũng hoan nghinh, huống lựa là người."

Vậy chúng ta có thể xem Lời Thuyết đạo như là những Câu Kinh Vô tự. Dầu cho người dốt nát, không biết chữ nghe cũng hiểu được.

Xưa kia, Ðức Lục Tổ Huệ Năng của Phật giáo Trung Hoa, là người hoàn toàn không biết chữ, nhưng khi nghe người ta tụng Kinh Kim Cang đến câu: "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ Tâm." thì Ngài liền phát ngộ, rồi lập chí đi tìm Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn mà thọ truyền Tâm pháp.

Câu 19-20: Thuận lòng người thì ắt thuận lẽ Trời. Những lời thuyết đạo có thể làm giác ngộ những người có duyên lành.

Câu 21-22: Nguyện Ơn Trên cho yên trí não, Nguyện Phật Tiên dạy bảo chơn linh.

GIẢI NGHĨA

Câu 21-22: Xin cầu nguyện với Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thiêng liêng giúp cho trí não được an ổn. Xin cầu nguyện chư Phật chư Tiên dạy bảo chơn linh của chúng con.

Câu 23-24: Mang danh Hội Thánh đã đành, Nâng tay nhục thể xây hình Chí Tôn.

GIẢI NGHĨA

Mang danh: Có được cái danh. Hội Thánh: Một tập thể gồm các Chức sắc vào hàng Thánh đổ lên, tức là từ phẩm Giáo Hữu (đối phẩm Ðịa Thánh) hoặc tương đương đổ lên.

Mang danh Hội Thánh đã đành: Ðã đành mang danh là Chức sắc của Hội Thánh. (Bởi vì phần trên có câu: Các con vốn trong vòng Thánh thể nghĩa là Chúng con vốn là Chức sắc của Hội Thánh).

Nhục thể: Thể xác phàm bằng xương thịt.

Hình Chí Tôn: Hình thể của Ðức Chí Tôn tại thế, đó là Hội Thánh Cửu Trùng Đài. (Xem lại Câu 9 ở trên)

Nâng tay nhục thể xây hình Chí Tôn: Ý nói dùng đôi cánh tay của thể xác phàm để xây dựng Hội Thánh.

Câu 23-24: Ðã đành mang danh là Chức sắc của Hội Thánh, thì phải dùng đôi tay phàm ra sức xây dựng Hội Thánh.

KHẢO DỊ:
- Kinh TÐ-TÐ 1936: Mạng danh.
- Kinh Lễ, Kinh TÐ-TÐ 1968, 1974, 1975: Mang danh.
Mạng danh: Mệnh danh: gọi tên là, gọi là. Thí dụ: Thầy giáo được mệnh danh là Kỹ sư tâm hồn.
Mạng danh Hội Thánh đã đành: Ðã đành gọi là Hội Thánh.
Cùng đọc một âm đó, nhưng nếu viết là: Mạn danh, thì có nghĩa là: Mượn danh. Mạn là mượn. Mạn phép là mượn phép.