Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu
ID026035 - Thế Kinh : Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu 🖶 Print this Thế Kinh
Kinh : Giải Nghĩa Kinh Thế-Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu

Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu
 ♫ (Giọng Nam ai)

KINH: GIẢI NGHĨA:
1.
2.
Giọt máu mủ lưu truyền tại thế,
Con nhẫng mong truyền kế lửa hương.
Ðứa con của dòng họ còn lưu truyền nơi cõi đời, con chỉ mong tiếp nối sự thờ cúng tổ tiên.
3.
4.
Nguyện cùng Thất Tổ xin thương,
Cho bền gan tấc noi đường thảo ngay.
Cầu nguyện Thất Tổ xin thương con, phò hộ con cho ý chí được bền vững để noi theo con đường thảo ngay.
5.
6.
Xưa chẳng đặng phước may gặp Ðạo,
Nay phò trì con cháu tu tâm.
Thuở xưa, Thất Tổ không đặng phước may gặp Ðạo Cao Ðài, nay xin giúp đỡ và gìn giữ con cháu tu tâm trong cửa Ðạo Cao Ðài.
7.
8.
Dâng gươm huệ kiếm xin cầm,
Chặt lìa trái chủ đặng tầm ngôi Thiên.
Dâng lên cây gươm trí huệ, xin cầm lấy để chặt cho đứt lìa các dây oan nghiệt mà các chủ nợ ràng buộc, thì mới lên được cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, tìm về ngôi vị cũ.
9.
10.
11.
12.
Dầu tội chướng ở miền Ðịa giái,
Dầu oan gia ở ngoại Càn Khôn,
Dầu mang xác tục hay hồn,
Nhớ cầu Từ Phụ Chí Tôn cứu nàn.
- Mặc dù đã gây ra các tội chướng nơi cõi trần,
- Mặc dù gặp phải các oan gia ở bên ngoài cõi trần,
- Mặc dù còn mang xác phàm hay chỉ còn linh hồn,
- Phải nhớ cầu khẩn Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ cứu nạn.
13.
14.
15.
16.
Dầu đoạt vị ở an Thiên cảnh,
Dầu tái sanh mở cảnh siêu phàm.
Nương thuyền Bát Nhã cho an,
Dìu chừng con cháu vào đàng nghĩa nhân.
- Dù đã đoạt được ngôi vị và ở yên nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống,
- Dù đã tái kiếp xuống cõi trần và mở ra một sự nghiệp phi thường,
- Xin nương dựa vào chiếc thuyền Bát Nhã để vượt qua biển khổ cho được yên ổn,
- Xin dìu dắt và coi chừng tất cả con cháu đi trọn vẹn trong con đường đạo đức.
17.
18.
Kìa lố bóng hồng ân bao phủ,
Cả thế gian đầy đủ đạo mầu.
Kìa là ánh sáng hiện ra chứa đầy ơn huệ của Chí Tôn, bao phủ khắp cả thế gian, đầy đủ Ðạo pháp mầu nhiệm.
19.
20.
Âm dương đôi nẻo như nhau,
Cửu Huyền Thất Tổ giữ câu thọ trì.
Nơi cõi của người sống và nơi cõi của người chết, 2 con đường đều như nhau. Xin Cửu Huyền Thất Tổ nhận lấy và gìn giữ các lời dạy bảo của Ðức Chí Tôn để thi hành.
21.
22.
Chốn Tây phương đường đi thong thả,
Cõi Diêm Cung tha quả vong căn.
Cõi Tây phương Cực Lạc Thế Giới, đường đi đến đó rất thong thả. Cõi Ðịa ngục, các vị Diêm Vương tha thứ và quên đi các căn quả (do thời kỳ Ðại Ân Xá của Ðức Chí Tôn: Ðóng Ðịa ngục, mở tầng Thiên).
23.
24.
Tiêu diêu định tánh nắm phan,
Dò theo Cực Lạc đon đường siêu thăng.
Giữ cho Chơn thần được yên ổn để đi theo cây phướn Tiêu Diêu, dò theo con đường đi lên cõi Cực Lạc Thế Giới mà bay thẳng lên cao.
25.
26.
Nhớ nỗi hiếu khó ngăn nét thảm,
Tưởng nguồn ân đốt nắm tâm hương.
Nhớ đến nỗi niềm hiếu thảo mà không ngăn được dòng lệ. Nhớ tưởng đến ơn huệ của Tổ Tiên, xin đốt dâng lên nắm tâm hương.
27.
28.
Tấc lòng đòi đoạn đau thương,
Chơn mây vái với hương hồn hiển linh.
Tấm lòng của con cháu vô cùng đau đớn thương tiếc, nguyện vái với hương hồn của Tổ phụ nơi cõi Trời hiển linh xin chứng.

(Tụng tiếp KINH CỨU KHỔ)

GIẢI NGHĨA

Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu dùng để đồng nhi tụng khi cúng tế Cửu Huyền Thất Tổ, hay khi Cáo Từ Tổ trong Tang lễ.

Tổ phụ: Tổ là người sanh ra một dòng họ, phụ là cha. Tổ phụ là chỉ chung tổ tiên. Trong một trường hợp khác, Tổ phụ có nghĩa là Ông Nội, Tổ mẫu là Bà Nội.

Qui liễu: Qui là trở về, liễu là xong việc. Quy liễu là xong việc thì trở về. Ý nói: Sự chết nơi cõi trần, linh hồn xuất ra khỏi xác bay trở về cõi thiêng liêng.

Ðạo Cao Ðài quan niệm rằng, con người sanh ra nơi cõi trần đều có lãnh một sứ mạng Thiêng Liêng do Ðức Chí Tôn giao phó. Sau khi làm xong công việc thì linh hồn xuất ra khỏi xác phàm, bay trở về cõi Thiêng Liêng phục lịnh. Ở cõi trần gọi đó là chết.

Câu 1-2: Giọt máu mủ lưu truyền tại thế, Con nhẫng mong truyền kế lửa hương.

GIẢI NGHĨA

Máu mủ: Chỉ sự quan hệ huyết thống trong thân tộc.

Giọt máu mủ: Ý nói: Ðứa con của dòng họ.

Lưu truyền: Ðể trao lại cho đời sau.

Nhẫng: Chỉ là.

Truyền kế: Trao lại để có sự tiếp nối liên tục.

Lửa hương: Hương hỏa. Hương là cây nhang, lửa là chỉ cây đèn. Hương hỏa là nhang đèn, chỉ sự thờ cúng tổ tiên.

Câu 1-2: Ðứa con của dòng họ còn lưu truyền nơi cõi đời, con chỉ mong tiếp nối sự thờ cúng tổ tiên.

Câu 3-4: Nguyện cùng Thất Tổ xin thương, Cho bền gan tấc noi đường thảo ngay.

GIẢI NGHĨA

THẤT TỔ: 7 vị Tổ của một dòng họ. Thất Tổ gồm:

7. Thất Tổ: Thỉ Tổ Tỷ Khảo.
6. Lục Tổ: Cao Cao Tổ Tỷ Khảo.
5. Ngũ Tổ: Viễn Tổ Tỷ Khảo.
4. Tứ Tổ: Tiên Tổ Tỷ Khảo.
3. Tam Tổ: Cao Tổ Tỷ Khảo. (Ông Sơ Bà Sơ đã chết)
2. Nhị Tổ: Tằng Tổ Tỷ Khảo. (Ông Cố Bà Cố đã chết)
1. Nhứt Tổ: Nội Tổ Tỷ Khảo. (Ông Nội Bà Nội đã chết)

Chỉ kể 7 vị Tổ của dòng họ mà không kể lên đến các vị Tổ lớn hơn nữa là vì Lễ Nghi xưa của Nho giáo qui định rằng:

Thứ dân chỉ được thờ tới Nhứt Tổ.
Quan Ðại phu được thờ tới Tam Tổ.
Vua Chư Hầu được thờ tới Ngũ Tổ.
Hoàng Ðế thờ Thất Tổ.

Những Linh vị của các vị Tổ đứng trên hàng Thất Tổ được đem đốt, lấy tro đổ vào một cái hủ đặt ngay giữa bàn thờ Thất Tổ gọi là Hủ tro Mộc chủ.

Gan tấc: Gan biểu thị ý chí mạnh mẽ bền bỉ, không lùi bước trước khó khăn nguy hiểm; tấc là chỉ tấm lòng. Cho bền gan tấc là giữ ý chí và lòng dạ bền vững dù gặp nguy hiểm.

Câu 3-4: Cầu nguyện Thất Tổ xin thương con, phò hộ con cho ý chí được bền vững để noi theo con đường thảo ngay.

Câu 5-6: Xưa chẳng đặng phước may gặp Ðạo, Nay phò trì con cháu tu tâm.

GIẢI NGHĨA

Gặp Ðạo: Gặp Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tức là gặp Ðạo Cao Ðài để nhập môn tu hành. Ðức Chí Tôn mở Ðạo Cao Ðài kể từ ngày 15-10-Bính Dần (1926). Những vị nào chết trước ngày nầy thì không có phước may gặp Ðạo, để hưởng được thời kỳ Ðại Ân Xá của Ðức Chí Tôn cứu rỗi.

Phò trì: Phò là giúp đỡ, trì là gìn giữ. Phò trì là giúp đỡ và gìn giữ.

Tu tâm: Sửa lòng, sửa đổi cái Tâm cho tốt đẹp.

Câu 5-6: Thuở xưa, Thất Tổ không đặng phước may gặp Ðạo Cao Ðài, nay xin giúp đỡ và gìn giữ con cháu tu tâm trong cửa Ðạo Cao Ðài.

Câu 7-8: Dâng gươm huệ kiếm xin cầm, Chặt lìa trái chủ đặng tầm ngôi Thiên.

GIẢI NGHĨA

Huệ kiếm: Gươm trí huệ.

Trái chủ: Người chủ nợ. Trái là món nợ. Nợ đây là nợ oan nghiệt. Mình là con nợ, người ta là chủ nợ. Lúc nào đó, người ta sẽ buộc mình phải trả món nợ oan nghiệt ấy.

Ngôi Thiên: Ngôi vị nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Câu 7-8: Dâng lên cây gươm trí huệ, xin cầm lấy để chặt cho đứt lìa các dây oan nghiệt mà các chủ nợ ràng buộc, thì mới lên được cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, tìm về ngôi vị cũ.

Ý nói: Xin dùng cái trí huệ diệt trừ các oan nghiệt đã gây ra nơi cõi trần thì mới được trở về ngôi vị cũ nơi cõi Thiêng Liêng.

Câu 9-10-11-12: Dầu tội chướng ở miền Ðịa giái, Dầu oan gia ở ngoại Càn Khôn, Dầu mang xác tục hay hồn, Nhớ cầu Từ Phụ Chí Tôn cứu nàn.

GIẢI NGHĨA

Dầu: Mặc dù.

Tội chướng: Những tội lỗi đã gây ra trong kiếp sống trước tạo thành nghiệp cảm xấu làm cho kiếp nầy phải chịu nhiều trở ngại khó khăn. Chướng là trở ngại.

Ðịa giái: Thế giới địa cầu, tức là địa cầu 68 của nhơn loại chúng ta đang ở, thường được gọi là cõi trần.

Oan gia: Oan là thù giận, gia là người. Oan gia là người thù giận mình.

Ở ngoại: Ở bên ngoài nơi mình ở, tức là ở bên ngoài cõi trần.

Càn Khôn: Càn Khôn Vũ Trụ.

Ở ngoại Càn Khôn: Ở bên ngoài cõi trần, trong Càn Khôn Vũ Trụ.

Xác tục: Thể xác phàm nơi cõi trần.

Hồn: Linh hồn.

Cứu nàn: Cứu giúp các tai nạn.

Bốn câu: 9-10-11-12:

- Mặc dù đã gây ra các tội chướng nơi cõi trần,
- Mặc dù gặp phải các oan gia ở bên ngoài cõi trần,
- Mặc dù còn mang xác phàm hay chỉ còn linh hồn,
- Phải nhớ cầu khẩn Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ cứu nạn.

Ý nói: Dù trong bất cứ cảnh ngộ nào, bất cứ ở đâu, phải luôn luôn ghi nhớ là cầu khẩn Ðức Chí Tôn cứu giúp.

Câu 13-14-15-16: Dầu đoạt vị ở an Thiên cảnh, Dầu tái sanh mở cảnh siêu phàm. Nương thuyền Bát Nhã cho an, Dìu chừng con cháu vào đàng nghĩa nhân.

GIẢI NGHĨA

Ðoạt vị: Chiếm được ngôi vị.

Thiên cảnh: Cõi Trời, cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Tái sanh: Sanh lại một lần nữa, tức là đầu thai xuống cõi trần một lần nữa. Tái sanh đồng nghĩa với Tái kiếp.

Siêu phàm: Siêu là vượt lên trên, phàm là tầm thường thấp kém. Siêu phàm là vượt lên trên cái tầm thường.

Mở cảnh siêu phàm: Mở ra một sự nghiệp phi thường.

Thuyền Bát Nhã: Chiếc thuyền đưa người phước đức vượt qua biển khổ, đến cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Dìu chừng: Dìu dắt và coi chừng.

Ðàng nghĩa nhân: Con đường đạo đức, con đường Ðạo.

Bốn câu 13-14-15-16:

- Dù đã đoạt được ngôi vị và ở yên nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống,
- Dù đã tái kiếp xuống cõi trần và mở ra một sự nghiệp phi thường,
- Xin nương dựa vào chiếc thuyền Bát Nhã để vượt qua biển khổ cho được yên ổn,
- Xin dìu dắt và coi chừng tất cả con cháu đi trọn vẹn trong con đường đạo đức.

Câu 17-18: Kìa lố bóng hồng ân bao phủ, Cả thế gian đầy đủ đạo mầu.

GIẢI NGHĨA

Lố bóng: Ánh sáng lộ ra.

Hồng ân: Ơn huệ của Ðức Chí Tôn.

Ðạo mầu: Ðạo pháp mầu nhiệm.

Câu 17-18: Kìa là ánh sáng hiện ra chứa đầy ơn huệ của Chí Tôn, bao phủ khắp cả thế gian, đầy đủ Ðạo pháp mầu nhiệm.

Câu 19-20: Âm dương đôi nẻo như nhau, Cửu Huyền Thất Tổ giữ câu thọ trì.

GIẢI NGHĨA

Âm Dương: Cõi Âm và cõi Dương, tức là cõi của người sống và cõi của người chết.

Ðôi nẻo: Hai đường.

Thọ trì: Nhận lãnh và gìn giữ. Thọ là nhận lãnh, trì là gìn giữ.

Giữ câu thọ trì: Nhận lãnh và gìn giữ những lời dạy bảo của Ðức Chí Tôn để thi hành.

Câu 19-20: Nơi cõi của người sống và nơi cõi của người chết, 2 con đường đều như nhau. Xin Cửu Huyền Thất Tổ nhận lấy và gìn giữ các lời dạy bảo của Ðức Chí Tôn để thi hành.

Giải thích Cửu Huyền Thất Tổ:

CỬU HUYỀN: Tổ tiên 9 đời. Thờ Cửu Huyền, ý nói mình là cháu 9 đời, thờ các bậc Tổ tiên 9 đời trước mình. Còn khi nói bà con dòng dõi 9 đời là nói Cửu Tộc.

Cách gọi tên các bậc trong Cửu Huyền thì lấy Bản thân làm gốc mà đặt ra: Từ Bản thân kể lên 4 đời và kể xuống 4 đời, gộp chung lại là 9 đời, kể ra như sau:

- Cao Tổ (Ông Sơ)
- Tằng Tổ (Ông Cố)
- Tổ phụ (Ông Nội)
- Phụ thân (Cha)
- Bản thân
- Trưởng tử (Con trai lớn)
- Ðích tôn (Cháu nội)
- Tằng tôn (Cháu cố) (Chắt)
- Huyền tôn (Cháu sơ) (Chích)

Gọi như vậy thì thờ Cửu Huyền, cúng lạy Cửu Huyền là cúng lạy cả con cháu của Bản thân mình hay sao?

Ðiều nầy có thể được giải thích bằng nhiều lẽ sau đây:

* 1) Vấn đề là dùng danh từ để đặt tên cho dễ hiểu: Có Bản thân, có Tổ phụ, có tử tôn; lên 4 đời, xuống 4 đời; trong đó có người đã chết, người đang sống, và người chưa sanh ra, tức là có đủ lẽ Âm Dương.

* 2) Gọi như thế để chỉ 3 đời (Tam thế): Ðời quá khứ là Tổ tiên, đời hiện tại là mình, đời tương lai là con cháu.

* 3) Gọi như thế là có ý chỉ rằng có sự đầu thai chuyển kiếp trong dòng họ, có thể có những vị Tổ đầu thai trở lại làm con cháu mình để thực hiện Nhân Quả, và chính Bản thân mình cũng có thể là một vị Tổ đời trước đầu kiếp trở lại.

* 4) Gọi như thế để thể hiện sự vay trả: Mình đứng giữa, vay lớp trên 4 đời, trả cho lớp dưới 4 đời. Công đức hay tội lỗi do Bản thân mình gây ra trong kiếp sống hiện tại có ảnh hưởng đến Tổ tiên 4 đời trước và con cháu 4 đời sau.

Công đức do mình làm ra thì cả Cửu Huyền đều thọ hưởng, tức là 4 đời Tổ có hưởng và con cháu 4 đời sau có hưởng; còn tội lỗi do mình gây ra thì 4 đời Tổ trước mình phải chịu khổ tâm nơi cõi Thiêng liêng, và con cháu 4 đời sau mình phải lo đền trả nếu Bản thân mình chưa trả hết.

Thờ cúng Cửu Huyền Thất Tổ là kỉnh trọng các bậc tiền nhân, Tổ tiên chúng ta, trong buổi sanh tiền, đã giáo hóa cử chỉ hành động, công ăn việc làm, sao cho tốt đẹp, hợp đạo lý để phát huy sự nghiệp của Tổ tiên, làm rạng rỡ Tổ tiên.

Ngoài ra, Cửu Huyền Thất Tổ có thể được giải thích chung trong một hệ thống sau đây:

Hệ Thống CỬU HUYỀN:










1. Ông Sơ của Ông Sơ (Thỉ Tổ) Thất tổ






2. Ông Cố của Ông Sơ (Cao Cao Tổ) Lục tổ
3. Ông Nội của Ông Sơ (Viễn Tổ) Ngũ tổ
4. Cha của Ông Sơ (Tiên Tổ) Tứ tổ THẤT TỔ
5. Ông Sơ (Cao Tổ) Tam tổ
6. Ông Cố (Tằng Tổ) Nhị Tổ
7. Ông Nội (Nội Tổ) Nhứt Tổ
8. Cha (Phụ thân)
9. Bản thân

Trong Hệ thống Cửu Huyền, Bản thân mình là cháu 9 đời, suy lên Ông Tổ 9 đời là Ông Sơ của Ông Sơ.

Còn Thất Tổ, Cha của mình chưa được liệt vào Thất Tổ, Ông Nội của mình là Nội Tổ mới bắt đầu được liệt vào Thất Tổ. Cho nên, Thất Tổ bao gồm từ Ông Nội (Nội Tổ) lên đến Ông Sơ của Ông Sơ. Thất Tổ hợp với Cha mình và Bản thân mình, gồm 9 đời, tạo thành Hệ Thống Cửu Huyền.

Câu 21-22: Chốn Tây phương đường đi thong thả, Cõi Diêm Cung tha quả vong căn.

GIẢI NGHĨA

Chốn Tây phương: Cõi Tây phương Cực Lạc, tức là cõi Cực Lạc Thế Giới.

Diêm Cung: Cung Ðiện của các vị Diêm Vương. Cõi Diêm Cung là cõi Ðịa ngục.

Tha quả vong căn: Tha là bỏ qua không bắt tội, vong là quên, căn quả là những tội lỗi trong kiếp trước làm cho kiếp nầy phải bị quả báo xấu là hoạn nạn và tai ương. Tha quả vong căn là tha thứ và quên đi cái căn quả xấu nơi kiếp trước.

Câu 21-22: Cõi Tây phương Cực Lạc Thế Giới, đường đi đến đó rất thong thả. Cõi Ðịa ngục, các vị Diêm Vương tha thứ và quên đi các căn quả (do thời kỳ Ðại Ân Xá của Ðức Chí Tôn: Ðóng Ðịa ngục, mở tầng Thiên).

Câu 23-24: Tiêu diêu định tánh nắm phan, Dò theo Cực Lạc đon đường siêu thăng.

GIẢI NGHĨA

Tiêu diêu: Cây phướn Tiêu diêu, còn gọi là Phướn Truy hồn, do Lục Nương Diêu Trì Cung cầm giữ, để hướng dẫn các chơn hồn đi lên Diêu Trì Cung bái kiến Ðức Phật Mẫu.

Ðịnh tánh: Làm cho yên ổn cái tánh. Tánh là thể hiện của Tâm. Tâm là Chơn linh thì Tánh là Chơn thần. Ðịnh tánh là làm cho Chơn thần được yên ổn.

Phan: Cây phướn để dẫn đường.

Ðon đàng: Hỏi thăm dò cho biết đường đi.

Câu 23-24: Giữ cho Chơn thần được yên ổn để đi theo cây phướn Tiêu Diêu, dò theo con đường đi lên cõi Cực Lạc Thế Giới mà bay thẳng lên cao.

Câu 25-26: Nhớ nỗi hiếu khó ngăn nét thảm, Tưởng nguồn ân đốt nắm tâm hương.

GIẢI NGHĨA

Nỗi hiếu: Nỗi niềm hiếu thảo đối với Ông bà Cha mẹ.

Nét thảm: Cái vẻ biểu lộ ra ngoài lòng sầu thảm, ý nói khóc chảy nước mắt vì sầu thảm.

Nguồn ân: Cái ơn huệ của Tổ phụ, vì Tổ phụ là nguồn gốc của mình.

Nắm: Một bó nhỏ vừa nắm gọn trong bàn tay.

Nắm tâm hương: Bó hương lòng, tức là lấy lòng thành làm bó hương dâng lên khẩn nguyện.

Câu 25-26: Nhớ đến nỗi niềm hiếu thảo mà không ngăn được dòng lệ. Nhớ tưởng đến ơn huệ của Tổ Tiên, xin đốt dâng lên nắm tâm hương.

Câu 27-28: Tấc lòng đòi đoạn đau thương, Chơn mây vái với hương hồn hiển linh.

GIẢI NGHĨA

Tấc lòng: Tấm lòng. Dùng chữ Tấc là để tỏ ý khiêm nhượng.

Ðòi đoạn: Ðòi là nhiều, đoạn là khúc. Ðòi đoạn là cắt ra làm nhiều khúc.

Tấc lòng đòi đoạn đau thương: Lòng đau đớn dữ dội như ruột bị cắt ra làm nhiều khúc.

Chơn mây: Ở phía dưới các đám mây, ý nói ở cõi Trời.

Hương hồn: Hồn thơm. Từ ngữ nầy dùng để gọi linh hồn người chết với ý kính trọng và mong mỏi linh hồn người chết được siêu thăng.

Hiển linh: Hiện ra một cách thiêng liêng.

Câu 27-28: Tấm lòng của con cháu vô cùng đau đớn thương tiếc, nguyện vái với hương hồn của Tổ phụ nơi cõi Trời hiển linh xin chứng.