Kinh Tụng Huynh Ðệ Mãn Phần
ID026039 - Thế Kinh : Kinh Tụng Huynh Ðệ Mãn Phần 🖶 Print this Thế Kinh
Kinh : Giải Nghĩa Kinh Thế-Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Kinh Tụng Huynh Ðệ Mãn Phần

Kinh Tụng Huynh Ðệ Mãn Phần
 ♫ (Giọng Nam ai)

KINH: GIẢI NGHĨA:
1.
2.
Niềm thủ túc đã đành vĩnh biệt,
Càng nhớ nhau càng tiếc tình nồng.
Tình cảm giữa anh chị em ruột đành xa cách nhau mãi mãi. Càng nhớ nhau càng luyến tiếc tình thương yêu nồng nàn.
3.
4.
Thân nhau từ buổi lọt lòng,
Chén cơm miếng cá cũng đồng chia nhau.
Anh chị em ruột gần gũi thương mến nhau ngay từ buổi mới lọt lòng mẹ, cùng chia xẻ cho nhau từ chén cơm miếng cá.
5.
6.
Câu chọc ruột còn đau đớn bấy,
Huống Âm Dương hết thấy mặt nhau.
Anh chị em ruột gây gổ nhau còn cảm thấy đau đớn lắm thay, huống chi bây giờ người còn sống và người đã chết, chia lìa hết thấy mặt nhau !
7.
8.
Rẽ phân cốt nhục đồng bào,
Cảnh Thiên cõi tục lẽ nào không thương.
Anh chị em ruột cùng một mẹ sanh ra, nay phải chia lìa, người lên cõi Trời, người ở lại cõi trần, lẽ nào không thương nhớ nhau?
9.
10.
Thương những thuở huyên đường ôm ấp,
Thương những khi co đắp chung mền.
Thương nhớ hồi lúc còn thơ bé, mẹ hiền ôm ấp thương yêu mấy anh chị em, thương nhớ những khi Trời lạnh anh chị em nằm co đắp chung một cái mền.
11.
12.
Thương hồi thơ bé tuổi tên,
Thương cơn khôn lớn giữ bền nghĩa nhau.
Thương nhớ hồi còn thơ bé, anh em gọi tên gọi tuổi nhau, thương nhớ lúc khôn lớn nên người, anh em giữ bền việc đối xử tốt đẹp với nhau.
13.
14.
Rủi Thiên số Nam Tào đã định,
Giải căn sinh xa lánh trần ai.
Rủi là vị Tiên Nam Tào đã định số tuổi thọ rồi, nay đúng kỳ phải cởi bỏ hết các oan nghiệt và xa lánh cõi trần.
15.
16.
Khá tua theo bóng Cao Ðài,
Nương mây thoát tục ra ngoài Càn khôn.
Nên phải theo ánh sáng của Ðức Chí Tôn, nương theo các đám mây mà thoát ra khỏi cõi trần, đi ra bên ngoài, vào Càn Khôn Vũ Trụ.
17.
18.
Khối tình ái hương hồn dầu nhớ,
Tránh oan gia giải nợ trầm luân.
Khối thương yêu, hương hồn dầu nhớ tới, nên tránh xa các oan gia, cởi bỏ hết các món nợ oan nghiệt đã làm cho linh hồn chìm đắm nơi cõi trần.
19.
20.
Viếng thăm hôm sớm ... (1)...
Trọn câu thần tỉnh, ân cần cung Tiên.
Sớm hôm viếng thăm (cha mẹ, hoặc cha, hoặc mẹ, người nào đã chết), và làm cho tròn bổn phận ân cần chăm sóc cha mẹ nơi cõi Tiên.
21.
22.
Gởi Tổ phụ .. (2).. hiền cung phụng,
Gởi sắp em còn sống nơi đời.
Nhờ (anh hay chị mới chết) cung phụng Tổ tiên nơi cõi thiêng liêng, và xin gởi gấm đám em út đang còn sống nơi cõi trần.
23.
24.
Rót chung ly biệt lưng vơi,
Mảnh lòng tha thiết đưa người bạn xưa.
Xin rót chung rượu không đầy để tiễn biệt người bạn xưa với tấm lòng thương nhớ tha thiết.

(1) Song thân, hoặc phụ thân, hay mẫu thân đã qui vị.

(2) Anh hay Chị mãn phần.

GIẢI NGHĨA

Huynh đệ: Anh em. Huynh tỷ là anh chị.

Mãn phần: Mãn là hết, phần là cái số phận mà Trời dành cho mỗi người. Mãn phần là chết, đồng nghĩa với: Qui liễu, Qui vị.

Kinh Tụng Huynh Ðệ Mãn Phần là bài kinh dùng tụng lên cho em quì tế lễ Anh ruột hay Chị ruột mới chết.

Câu 1-2: Niềm thủ túc đã đành vĩnh biệt, Càng nhớ nhau càng tiếc tình nồng.

GIẢI NGHĨA

Niềm: Tiếng dùng để chỉ tâm trạng hay tình cảm.

Thủ túc: Tay chơn. Thủ là tay, túc là chơn. Thủ túc là chỉ anh em ruột. Ca dao: Anh em như thể tay chơn.

Vĩnh biệt: Xa cách vĩnh viễn.

Tình nồng: Tình thương yêu nồng nàn.

Câu 1-2: Tình cảm giữa anh chị em ruột đành xa cách nhau mãi mãi. Càng nhớ nhau càng luyến tiếc tình thương yêu nồng nàn.

Câu 3-4: Thân nhau từ buổi lọt lòng, Chén cơm miếng cá cũng đồng chia nhau.

GIẢI NGHĨA

Câu 3-4: Anh chị em ruột gần gũi thương mến nhau ngay từ buổi mới lọt lòng mẹ, cùng chia xẻ cho nhau từ chén cơm miếng cá.

Câu 5-6: Câu chọc ruột còn đau đớn bấy, Huống Âm Dương hết thấy mặt nhau.

GIẢI NGHĨA

Câu chọc ruột: Ý nói: Anh chị em ruột gây gổ với nhau làm cho đau đớn ruột gan như bị cây chọc vào ruột.

Bấy: Từ để chỉ mức độ nhiều.

Huống: Phương chi.

Âm Dương: Cõi Âm và cõi Dương, tức là cõi của người chết và cõi của người sống.

Câu 5-6: Anh chị em ruột gây gổ nhau còn cảm thấy đau đớn lắm thay, huống chi bây giờ người còn sống và người đã chết, chia lìa hết thấy mặt nhau !

Câu 7-8: Rẽ phân cốt nhục đồng bào, Cảnh Thiên cõi tục lẽ nào không thương.

GIẢI NGHĨA

Cốt nhục: Xương thịt. Cốt là xương, nhục là thịt. Ý nói: Anh chị em ruột thịt với nhau.

Ðồng bào: Cùng một bọc sanh ra, ý nói: Anh chị em ruột với nhau.

Cảnh Thiên: Cõi Trời.

Cõi tục: Cõi trần.

Cảnh Thiên cõi tục: Người thì lên cõi Trời, người thì ở lại cõi trần.

Câu 7-8: Anh chị em ruột cùng một mẹ sanh ra, nay phải chia lìa, người lên cõi Trời, người ở lại cõi trần, lẽ nào không thương nhớ nhau?

Câu 9-10: Thương những thuở huyên đường ôm ấp, Thương những khi co đắp chung mền.

GIẢI NGHĨA

Huyên đường: dịch ra là Nhà huyên, chỉ mẹ hiền.

Ôm ấp: Mẹ âu yếm ôm con vào lòng với tình thương yêu thắm thiết.

Co đắp chung mền: Khi Trời lạnh, anh em nằm co, đắp chung một cái mền.

Câu 9-10: Thương nhớ hồi lúc còn thơ bé, mẹ hiền ôm ấp thương yêu mấy anh chị em, thương nhớ những khi Trời lạnh anh chị em nằm co đắp chung một cái mền.

Câu 11-12: Thương hồi thơ bé tuổi tên, Thương cơn khôn lớn giữ bền nghĩa nhau.

GIẢI NGHĨA

Câu 11-12: Thương nhớ hồi còn thơ bé, anh em gọi tên gọi tuổi nhau, thương nhớ lúc khôn lớn nên người, anh em giữ bền việc đối xử tốt đẹp với nhau.

Câu 13-14: Rủi Thiên số Nam Tào đã định, Giải căn sinh xa lánh trần ai.

GIẢI NGHĨA

Thiên số: Số tuổi thọ do Trời định trước cho mỗi người.

Nam Tào: Vị Tiên ngự nơi sao Nam Tào. Thường nói Nam Tào, Bắc Ðẩu, đó là 2 vị Tiên, một ngự nơi sao Nam Tào, một ngự nơi sao Bắc Ðẩu, có nhiệm vụ coi Bộ Sanh và Bộ Tử của nhơn loại.

Giải: Cởi bỏ ra.

Căn sinh: Căn là gốc rễ, chỉ những oan nghiệt đã gây ra trong kiếp sống trước; sinh là sống.

Căn sinh: Những oan nghiệt đã gây ra trong kiếp sống trước. Giải căn sinh là cởi bỏ hết những oan nghiệt đã tạo ra trong kiếp sống trước.

Trần ai: Trần là bụi, ai cũng là bụi. Trần ai là chỉ cõi trần, cõi của nhơn loại đang sống, cõi ô trược đầy bụi bặm.

Câu 13-14: Rủi là vị Tiên Nam Tào đã định số tuổi thọ rồi, nay đúng kỳ phải cởi bỏ hết các oan nghiệt và xa lánh cõi trần.

Câu 15-16: Khá tua theo bóng Cao Ðài, Nương mây thoát tục ra ngoài Càn khôn.

GIẢI NGHĨA

Khá tua: Nên phải.

Bóng: Ánh sáng.

Cao Ðài: Danh xưng của Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Nương mây: Dựa vào các đám mây.

Thoát tục: Thoát ra khỏi cõi trần.

Ra ngoài Càn khôn: Ði ra bên ngoài cõi trần (là nơi mình ở), để vào Càn Khôn Vũ Trụ.

Câu 15-16: Nên phải theo ánh sáng của Ðức Chí Tôn, nương theo các đám mây mà thoát ra khỏi cõi trần, đi ra bên ngoài, vào Càn Khôn Vũ Trụ.

Câu 17-18: Khối tình ái hương hồn dầu nhớ, Tránh oan gia giải nợ trầm luân.

GIẢI NGHĨA

Khối tình ái: Ý nói tình thương yêu nhiều lắm, cả một khối thương yêu.

Hương hồn: Hồn thơm, từ ngữ dùng để gọi linh hồn người chết với ý kính trọng.

Oan gia: Người có mối thù giận mình.

Giải nợ: Cởi bỏ các món nợ oan nghiệt.

Trầm luân: Chìm đắm. Trầm là chìm, luân là chìm mất.

Câu 17-18: Khối thương yêu, hương hồn dầu nhớ tới, nên tránh xa các oan gia, cởi bỏ hết các món nợ oan nghiệt đã làm cho linh hồn chìm đắm nơi cõi trần.

Câu 19-20: Viếng thăm hôm sớm ... (1)... Trọn câu thần tỉnh, ân cần cung Tiên.

GIẢI NGHĨA

Hôm sớm: Buổi tối và buổi sáng.

Trọn câu Thần tỉnh: Làm cho tròn câu "Hôn định thần tỉnh" trong Kinh Thi. Hôn là buổi tối, định là yên ổn, thần là buổi sáng, tỉnh là thăm hỏi. Hôn định thần tỉnh là buổi tối đến săn sóc cha mẹ đến lúc ngủ yên, buổi sáng đến thăm hỏi cha mẹ có được khỏe không, ý nói: Ân cần săn sóc cha mẹ.

Câu 19-20: Sớm hôm viếng thăm (cha mẹ, hoặc cha, hoặc mẹ, người nào đã chết), và làm cho tròn bổn phận ân cần chăm sóc cha mẹ nơi cõi Tiên.

KHẢO DỊ:
- Kinh Lễ, Kinh TÐ-TÐ 1936, 1968: Trọn câu thần tỉnh.
- Kinh TÐ-TÐ 1974, 1975: Trọng câu thần tỉnh.
Trọn: Toàn vẹn.
Trọng: Coi nặng.

Câu 21-22: Gởi Tổ phụ .. (2).. hiền cung phụng, Gởi sắp em còn sống nơi đời.

GIẢI NGHĨA

Tổ phụ: Tổ tiên của dòng họ.

Hiền: Lành. Anh hiền hay Chị hiền: dịch chữ Hiền huynh hay Hiền tỷ.

Cung phụng: Cung là dâng, phụng là kính dâng. Cung phụng là cung cấp đầy đủ những thứ cần thiết cho người trên.

Sắp em: Ðám em út. Sắp là bọn, đám.

Câu 21-22: Nhờ (anh hay chị mới chết) cung phụng Tổ tiên nơi cõi thiêng liêng, và xin gởi gấm đám em út đang còn sống nơi cõi trần.

Câu 23-24: Rót chung ly biệt lưng vơi, Mảnh lòng tha thiết đưa người bạn xưa.

GIẢI NGHĨA

Chung ly biệt: Chung rượu bày tỏ sự biệt ly.

Lưng vơi: Không đầy.

Mảnh lòng: Tấm lòng.

Bạn xưa: Người bạn cũ thuở trước. Lúc đầu kiếp xuống trần thì làm anh chị em ruột với nhau, nhưng thuở trước lúc còn ở cõi thiêng liêng thì là bạn bè với nhau, cho nên mới gọi là "bạn xưa".

Câu 23-24: Xin rót chung rượu không đầy để tiễn biệt người bạn xưa với tấm lòng thương nhớ tha thiết.