Kinh Tụng Khi Chồng Qui Vị
ID026040 - Thế Kinh : Kinh Tụng Khi Chồng Qui Vị 🖶 Print this Thế Kinh
Kinh : Giải Nghĩa Kinh Thế-Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Kinh Tụng Khi Chồng Qui Vị

Kinh Tụng Khi Chồng Qui Vị
 ♫ (Giọng Nam ai)

KINH: GIẢI NGHĨA:
1.
2.
Niềm ân ái thân hòa làm một,
Nghĩa sơ giao khắc cốt ghi xương.
Nhớ tới sự thương yêu ăn ở hòa hợp hạnh phúc giữa vợ chồng, hai người như hòa chung làm một, sự đối đãi tốt đẹp lúc mới quen nhau làm nhớ mãi trong lòng.
3.
4.
Nhắn mưa gởi gió đưa thương,
Từ đây thiếp tỏ đoạn trường với ai?
Nhớ tới sự thương yêu ăn ở hòa hợp hạnh phúc giữa vợ chồng, hai người như hòa chung làm một, sự đối đãi tốt đẹp lúc mới quen nhau làm nhớ mãi trong lòng.
5.
6.
Càng nhớ đến những ngày hội ngộ,
Càng ngổn ngang mối nợ tình chung.
Càng nhớ đến những ngày gặp nhau thuở trước, lòng càng bối rối cho mối nợ tình chung thủy.
7.
8.
Ðã đành bẻ gãy chữ đồng,
Hiển linh chứng chiếu tấm lòng tiết trinh.
Ðã đành là chàng đã chết, xin chàng linh hiển chứng thực và soi rọi tấm lòng tiết trinh của thiếp.
9.
10.
Dầu sống sót cũng đành gọi thác,
Vui chi còn man mác tơ duyên.
Dù thiếp còn sống sót nơi đây, nhưng cũng đành coi như đã chết. Còn vui gì nữa! Lòng buồn man mác cho tình duyên gãy đổ.
11.
12.
Thiệt thòi cam phận thuyền quyên,
Chứa chan giọt lệ cửu tuyền cuộn trôi.
Ðành chịu thiệt thòi cho số phận của người phụ nữ phải chịu đau khổ khóc than tràn đầy giọt lệ, đến 9 dòng suối mới cuốn trôi đi hết.
13.
14.
Chàng đã đặng phủi rồi nợ thế,
Xin hiển linh giúp kẻ góa thân.
Chàng đã chết rồi thì coi như đã phủi sạch nợ đời, xin chàng hiển linh giúp đỡ kẻ góa bụa nầy.
15.
16.
Chở che khỏi kiếp phong trần,
Gìn gương liệt nữ hồng quần để soi.
Xin chàng che chở cho thiếp khỏi phải khó khăn vất vả trong cuộc sống. Thiếp xin gìn giữ để làm người liệt nữ nêu gương tốt cho phụ nữ soi chung.
17.
18.
Chàng dầu đặng thảnh thơi cảnh trí,
Hộ dâu con giữ kỹ nhơn luân.
Chàng dầu đặng thảnh thơi nơi cõi Thánh, xin chàng phò hộ các con và dâu giữ gìn kỹ lưỡng đạo nhơn luân.
19.
20.
Chàng dầu vinh hiển cảnh Thần,
Gởi trong giấc mộng đặng gần cùng nhau.
Chàng dầu đặng vẻ vang và có danh vọng nơi cõi Thần, nhưng thiếp với chàng chỉ còn có thể gặp đặng nhau trong giấc mộng mà thôi.
21.
22.
Chàng dầu hưởng Thiên Tào huyền phép,
Ðỡ đường trần chật hẹp thân côi.
Chàng dầu hưởng được huyền pháp nơi cõi Thiên Tào, xin chàng giúp đỡ tấm thân lẻ loi của thiếp đang bước trên đường đời đầy khó khăn vất vả.
23.
24.
Chàng dầu cung ngọc an ngôi,
Xin thương thân thiếp nợ đời còn mang.
Chàng dầu đặng an ổn trên ngôi vị nơi cõi Tiên, xin chàng xót thương thân thiếp còn mang nhiều món nợ đời.
25.
26.
Gởi hồn phách cho chàng định số,
Gởi kiếp căn chàng mở dây oan.
Gởi chàng cả linh hồn và thể xác của thiếp, để chàng định đoạt số phận cho thiếp, gởi cả kiếp căn của thiếp cho chàng để nhờ chàng cởi mở các mối dây oan nghiệt.
27.
28.
Thiếp cam bao tóc thờ chàng,
Rót chung ly biệt đôi hàng lụy sa.
Thiếp đành giữ trọn lòng chung thủy thờ chàng. Xin rót chung rượu ly biệt dâng lên chàng với hai dòng nước mắt rơi.

Câu 1-2: Niềm ân ái thân hòa làm một, Nghĩa sơ giao khắc cốt ghi xương.

GIẢI NGHĨA

Niềm ân ái: Nhớ tới sự thương yêu ăn ở hòa hợp hạnh phúc giữa vợ chồng.

Nghĩa: Cách cư xử tốt đẹp đúng theo lẽ phải.

Sơ giao: Sơ là lúc đầu, giao là tiếp xúc. Sơ giao là tiếp xúc lần đầu, tức là lúc mới quen nhau.

Khắc cốt ghi xương: Ý nói nhớ hoài, không bao giờ quên.

Câu 1-2: Nhớ tới sự thương yêu ăn ở hòa hợp hạnh phúc giữa vợ chồng, hai người như hòa chung làm một, sự đối đãi tốt đẹp lúc mới quen nhau làm nhớ mãi trong lòng.

Câu 3-4: Nhắn mưa gởi gió đưa thương, Từ đây thiếp tỏ đoạn trường với ai?

GIẢI NGHĨA

Nhắn gởi: Nhờ một trung gian nói lại giùm để gởi tin tức đến người khác.

Ðưa thương: Trao lại nỗi niềm thương nhớ.

Ðoạn trường: chỉ sự đau đớn dữ dội như ruột bị cắt ra làm nhiều khúc. Ðoạn là cắt đứt nhiều khúc, trường là ruột.

Câu 3-4: Nhắn với mưa, gởi theo gió, nỗi niềm thương nhớ đến chàng. Từ đây thiếp biết bày tỏ đoạn trường với ai?

Câu 5-6: Càng nhớ đến những ngày hội ngộ, Càng ngổn ngang mối nợ tình chung.

GIẢI NGHĨA

Hội ngộ: Gặp gỡ nhau. Hội là họp nhau, ngộ là gặp.

Tình chung: Tình yêu chung thủy giữa vợ chồng.

Câu 5-6: Càng nhớ đến những ngày gặp nhau thuở trước, lòng càng bối rối cho mối nợ tình chung thủy.

Câu 7-8: Ðã đành bẻ gãy chữ đồng, Hiển linh chứng chiếu tấm lòng tiết trinh.

GIẢI NGHĨA

Chữ đồng: Ðồng là cùng chung. Chữ đồng là chỉ cái nghĩa vợ chồng, bởi vì là vợ chồng thì cái gì cũng chung nhau tất cả, chung nhau về cuộc sống, chung nhau về quyền lợi và trách nhiệm.

Bẻ gãy chữ đồng: Ý nói, vợ chồng mà có một người chết.

Hiển linh: Hiện ra một cách linh thiêng.

Chứng chiếu: Nhận thực và soi rọi.

Tiết trinh: Lòng ngay thẳng và trong sạch của người vợ đối với chồng.

Câu 7-8: Ðã đành là chàng đã chết, xin chàng linh hiển chứng thực và soi rọi tấm lòng tiết trinh của thiếp.

Câu 9-10: Dầu sống sót cũng đành gọi thác, Vui chi còn man mác tơ duyên.

GIẢI NGHĨA

Sống sót: Hai người mà chết một người, còn sống một người.

Thác: Chết.

Man mác: Tâm trạng lâng lâng buồn.

Câu 9-10: Dù thiếp còn sống sót nơi đây, nhưng cũng đành coi như đã chết. Còn vui gì nữa! Lòng buồn man mác cho tình duyên gãy đổ.

Câu 11-12: Thiệt thòi cam phận thuyền quyên, Chứa chan giọt lệ cửu tuyền cuộn trôi.

GIẢI NGHĨA

Cam phận: Ðành chấp nhận số phận.

Thuyền quyên: Người con gái xinh đẹp dịu dàng.

Cửu tuyền: dịch ra là Chín suối, nghĩa đen là 9 dòng suối, nghĩa bóng là chỉ cõi Âm phủ, bởi vì truyền thuyết cho rằng ở cõi Âm phủ có 9 dòng suối. Chữ Cửu tuyền ở đây được dùng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Câu 11-12: Ðành chịu thiệt thòi cho số phận của người phụ nữ phải chịu đau khổ khóc than tràn đầy giọt lệ, đến 9 dòng suối mới cuốn trôi đi hết.

Ý nói: Người vợ có chồng mới chết, phải chịu phận thiệt thòi và nhiều nỗi đau đớn, khóc than không kể hết, linh hồn người chồng nơi cõi vô hình có biết chăng?

Câu 13-14: Chàng đã đặng phủi rồi nợ thế, Xin hiển linh giúp kẻ góa thân.

GIẢI NGHĨA

Phủi rồi nợ thế: Phủi sạch nợ đời, ý nói chết.

Góa thân: Tấm thân góa bụa, vì chồng mới chết.

Câu 13-14: Chàng đã chết rồi thì coi như đã phủi sạch nợ đời, xin chàng hiển linh giúp đỡ kẻ góa bụa nầy.

Câu 15-16: Chở che khỏi kiếp phong trần, Gìn gương liệt nữ hồng quần để soi.

GIẢI NGHĨA

Phong trần: Gió bụi, chỉ những nỗi khó khăn vất vả ở đời.

Kiếp phong trần: Kiếp sống khó khăn vất vả.

Liệt nữ: Liệt là cứng cỏi ngay thẳng, không chịu khuất; nữ là phụ nữ. Liệt nữ là người phụ nữ có khí tiết anh hùng.

Gương liệt nữ: Người phụ nữ có khí tiết anh hùng dùng làm mẫu mực cho người đời noi theo.

Hồng quần: Cái quần màu đỏ. Thời xưa ở bên Tàu, các nhà giàu đều cho con gái mặc quần màu đỏ. Do đó, Hồng quần là chỉ chung giới phụ nữ.

Soi: Nhìn vào.

Câu 15-16: Xin chàng che chở cho thiếp khỏi phải khó khăn vất vả trong cuộc sống. Thiếp xin gìn giữ để làm người liệt nữ nêu gương tốt cho phụ nữ soi chung.

Câu 17-18: Chàng dầu đặng thảnh thơi cảnh trí, Hộ dâu con giữ kỹ nhơn luân.

GIẢI NGHĨA

Cảnh trí: Trí là sự sáng suốt hiểu biết. Cảnh trí là cảnh của những người sáng suốt hiểu biết, ý nói cảnh của bực Thánh, tức là cõi Thánh.

Hộ: Gìn giữ và che chở. Dâu con: Các con trai gái và các con dâu.

Nhơn luân: Những phép tắc mà con người phải tuân theo để cư xử với mọi người cho hợp lẽ phải và đạo đức.

Câu 17-18: Chàng dầu đặng thảnh thơi nơi cõi Thánh, xin chàng phò hộ các con và dâu giữ gìn kỹ lưỡng đạo nhơn luân.

Câu 19-20: Chàng dầu vinh hiển cảnh Thần, Gởi trong giấc mộng đặng gần cùng nhau.

GIẢI NGHĨA

Cảnh Thần: Cõi của chư Thần.

Câu 19-20: Chàng dầu đặng vẻ vang và có danh vọng nơi cõi Thần, nhưng thiếp với chàng chỉ còn có thể gặp đặng nhau trong giấc mộng mà thôi.

Câu 21-22: Chàng dầu hưởng Thiên Tào huyền phép, Ðỡ đường trần chật hẹp thân côi.

GIẢI NGHĨA

Thiên Tào: Cơ quan có nhiệm vụ chuyên môn của Thiên triều. Mỗi Thiên Tào là một từng Trời.

Huyền phép: Phép thuật huyền diệu.

Ðỡ: Giúp đỡ.

Ðường trần chật hẹp: Ý nói cuộc sống nơi cõi trần đầy khó khăn vất vả.

Thân côi: Tấm thân lẻ loi.

Câu 21-22: Chàng dầu hưởng được huyền pháp nơi cõi Thiên Tào, xin chàng giúp đỡ tấm thân lẻ loi của thiếp đang bước trên đường đời đầy khó khăn vất vả.

KHẢO DỊ:
- Kinh Lễ, Kinh TÐ-TÐ 1936: Thiên Tào huyền phép.
- Kinh TÐ-TÐ 1968, 1974, 1975: Thiên Tào quyền phép.
Quyền phép: Quyền hành và pháp thuật.

Câu 23-24: Chàng dầu cung ngọc an ngôi, Xin thương thân thiếp nợ đời còn mang.

GIẢI NGHĨA

Cung ngọc: Cung điện làm bằng ngọc, đó là Cung Tiên, chỉ cõi Tiên.

An ngôi: Yên ổn trên ngôi vị của mình.

Nợ đời: Những món nợ mà người sống trong cõi đời đều phải gánh chịu như: Nợ đối với cha mẹ, nợ đối với con cái, nợ đối với xã hội, .

Câu 23-24: Chàng dầu đặng an ổn trên ngôi vị nơi cõi Tiên, xin chàng xót thương thân thiếp còn mang nhiều món nợ đời.

Câu 25-26: Gởi hồn phách cho chàng định số, Gởi kiếp căn chàng mở dây oan.

GIẢI NGHĨA

Hồn phách: Linh hồn và thể xác. Hồn là linh hồn, Phách: nghĩa thông thường là cái vía, tức chơn thần, nhưng trong trường hợp đặc biệt nầy, phách có nghĩa là thể xác.

Ðịnh số: Sắp đặt cái số phận.

Kiếp căn: Cái gốc rễ của kiếp sống. Theo Luật Nhơn quả, kiếp sống hiện tại được sung sướng hay vất vả là do cái gốc rễ từ kiếp trước, tức là những việc làm thiện hay ác trong kiếp sống trước. Kiếp căn là ý nói tất cả việc làm thiện hay ác trong kiếp sống trước. Chính những việc làm ác tạo thành các sợi dây oan nghiệt ràng buộc con người vào vòng luân hồi nơi cõi trần.

Dây oan: Các sợi dây oan nghiệt.

Câu 25-26: Gởi chàng cả linh hồn và thể xác của thiếp, để chàng định đoạt số phận cho thiếp, gởi cả kiếp căn của thiếp cho chàng để nhờ chàng cởi mở các mối dây oan nghiệt.

Câu 27-28: Thiếp cam bao tóc thờ chàng, Rót chung ly biệt đôi hàng lụy sa.

GIẢI NGHĨA

Bao tóc: Bao kín mái tóc lại, ý nói: Giữ lòng chung thủy với chồng suốt đời.

Chung ly biệt: Chung rượu bày tỏ sự biệt ly.

Ðôi hàng lụy sa: Hai hàng nước mắt rơi.

Câu 27-28: Thiếp đành giữ trọn lòng chung thủy thờ chàng. Xin rót chung rượu ly biệt dâng lên chàng với hai dòng nước mắt rơi.

KHẢO DỊ:
- Kinh Lễ 1952: Thiếp cầm bao tóc.
- Kinh TÐ-TÐ 1936,1968,1974,1975: Thiếp cam bao tóc.
Theo điển tích "Bao tóc", dùng chữ cầm không chính xác.
Cầm là giữ vật gì trong bàn tay.