Phần Đạo Pháp
ID026044 - Phần : Phần Đạo Pháp 🖶 Print this Phần
Luật : Tân Luật

   

Điều Thứ Nhứt: Phẩm GIÁO TÔNG và quyền hạn.

  • Trên hết có một phẩm GIÁO TÔNG là anh cả có quyền thay mặt cho Thầy mà dìu dắt cả tín đồ trong đường Đạo và đường Đời. Đức Giáo Tông có quyền về phần xác, chớ không có quyền về phần hồn.
  • Đức Giáo Tông đặng phép thông công cùng Tam Thập Lục Thiên và Thất Thập Nhị Địa Giái mà cầu rỗi cho cả tín đồ.
  • Chư tín đồ phải tuân mạng lịnh phẩm ấy.

 

Điều Thứ Nhì: Phẩm CHƯỞNG PHÁP và quyền hạn.

  • Kế đó có ba vị CHƯỞNG PHÁP của ba phái là Nho, Thích, Đạo.
  • Ba vị ấy có quyền xem xét luật lệ trước buổi thi hành, hoặc của Giáo Tông truyền xuống, hoặc của Đầu Sư dâng lên. Như hai đàng chẳng thuận thì phải dâng lên cho Hộ Pháp đến Hiệp Thiên Đài cầu Thầy giáng xuống mà sửa lại.
  • Ba vị ấy có quyền xem xét Kinh Điển trước khi phổ thông; như có Kinh Luật chi làm cho bại phong hóa thì ba vị ấy phải truất bỏ chẳng cho xuất bản.
  • Mỗi Chưởng Pháp có ấn riêng. Ba ấn phải có đủ trên mỗi Luật mới đặng thi hành.
  • Chưởng Pháp phải can gián sửa lỗi của Giáo Tông; nếu cả ba thấy lẽ vô đạo của Giáo Tông, có quyền đem đơn kiện nơi Tòa Thánh.

 

Điều Thứ Ba: Phẩm ĐẦU SƯ và quyền hạn.

  • Ba vị ĐẦU SƯ của ba phái có quyền cai trị phần Đạo và phần Đời của tín đồ.
  • Ba vị ấy đặng quyền lập luật, song phải dâng lên cho Giáo Tông phê chuẩn. Ba vị ấy phải tuân mạng lịnh Giáo Tông truyền dạy. Như khoản Luật Lệ nào nghịch với sự sinh hoạt của nhơn sanh thì ba vị ấy được nài xin hủy bỏ.
  • Như Luật Lệ nào Giáo Tông đã truyền dạy mà cả ba đều ký tên không tuân mạng thì Luật Lệ ấy phải trả lại cho Giáo Tông; Giáo Tông truyền lịnh cho Chưởng Pháp xét nét lại.
  • Ba vị có ấn riêng nhau; mỗi tờ giấy chi chi phải có đủ ba ấn mới thi hành.

 

Điều Thứ Tư: Phẩm PHỐI SƯ và quyền hạn.

  • Ba mươi sáu vị PHỐI SƯ, chia ra mỗi phái là 12 vị. Trong ấy có ba vị CHÁNH PHỐI SƯ.
  • Ba vị ấy đặng thế quyền cho Đầu Sư mà hành sự song chẳng quyền cầu phá luật lệ.

 

Điều Thứ Năm: Phẩm GIÁO SƯ và quyền hạn.

  • GIÁO SƯ có 72 người, trong mỗi phái có 24 người. Giáo Sư là người để dạy dỗ chư tín đồ trong đường Đạo và đường Đời.
  • Buộc Giáo Sư lo lắng cho chư tín đồ như anh ruột lo cho em.
  • Giáo Sư cầm sổ bộ của cả tín đồ, phải chăm nom về sự tang hôn của mỗi người.
  • Như tại châu thành lớn, Giáo Sư được quyền cai quản và cúng tế Thầy như thể Đầu Sư và Phối Sư.
  • Giáo Sư đặng quyền dâng sớ cầu nài về Luật Lệ làm hại nhơn sanh hay là cầu chế giảm Luật Lệ ấy.
  • Giáo Sư phải thân cận với tín đồ như anh em một nhà cần lo giúp đỡ.

 

Điều Thứ Sáu: Phẩm GIÁO HỮU và quyền hạn.

  • GIÁO HỮU là người để phổ thông chơn đạo của Thầy, đặng quyền xin chế giảm Luật Lệ đạo, đặng phép hành lễ khi làm chủ mấy cái chùa nơi mấy tỉnh nhỏ. Có 3.000 Giáo Hữu, mỗi phái 1.000, chẳng nên tăng thêm hay là giảm bớt.

 

Điều Thứ Bảy: Phẩm LỄ SANH và quyền hạn.

  • LỄ SANH là người có hạnh, lựa chọn trong chư tín đồ mà hành lễ.
  • Lễ Sanh đặng quyền đi khai đàn cho mỗi tín đồ.
  • Phải vào hàng Lễ Sanh rồi mới mong bước qua hàng Chức Sắc.

Luật lệ lập Hội Thánh này vì chiếu theo Thánh Ngôn mà đem ra.

 

Điều Thứ Tám: Luật công cử.

  • Đầu Sư muốn lên Chưởng Pháp thì nhờ ba vị công cử nhau.
  • Phối Sư muốn lên Đầu Sư thì nhờ 36 vị công cử lên.
  • Giáo Sư muốn lên Phối Sư thì nhờ 72 vị công cử nhau.
  • Giáo Hữu muốn lên Giáo Sư thì nhờ 3.000 vị xúm nhau công cử.
  • Lễ Sanh muốn lên Giáo Hữu thì nhờ cả Lễ Sanh xúm nhau công cử.
  • Ngôi Giáo Tông thì hai phẩm Chưởng Pháp và Đầu Sư tranh đặng, song phải chịu toàn tín đồ công cử mới đặng.
  • Kỳ dư Thầy giáng cơ ban thưởng mới ra khỏi luật lệ ấy mà thôi.

Luật lệ lập Hội Thánh này vì chiếu theo Thánh Ngôn mà đem ra.

   

Điều Thứ Chín: Điều lệ nhập môn.

  • Muốn xin nhập môn phải có hai người đạo đức tiến dẫn đến người làm đầu trong Họ. Hai người tiến dẫn phải lo lắng chỉ biểu và dìu dắt người mới cho hiểu biết đạo lý.

 

Điều Thứ Mười: Điều kiện cho người mới vào Đạo.

  • Mỗi Thánh Thất từ đây phải lập minh thệ. Còn ai mới vô Đạo, nội ngày đem tên vào sổ phải ra đứng giữa đại điện thề liền.
  • Buộc phải thuộc Kinh và thông hiểu Luật Pháp của Đại Đạo truyền ra.

 

Điều Thứ Mười Một: Lễ cúng khai đàn cho ngưòi mới vào Đạo.

  • Người làm đầu trong Họ hay là Chức Sắc thay mặt cho mình phải đến làm lễ cúng khai đàn trấn thần an vị cho người mới vào Đạo.

 

Điều Thứ Mười Hai: Thứ bực của hàng Tín Đồ.

Nhập môn rồi gọi là tín đồ. Trong hàng tín đồ có hai bực:

  1. Một bực còn ở thế, có vợ chồng làm ăn như người thường, song buộc phải giữ trai kỳ họăc 6 họăc 10 ngày trong tháng, phải giữ Ngũ Giái Cấm và phải tuân theo Thế Luật của Đại Đạo truyền bá. Bực này gọi là người giữ Đạo mà thôi; vào phẩm hạ thừa.
  2. Một bực đã giữ trường trai, giái sát và tứ đại điều qui, gọi là vào phẩm thượng thừa.

 

Điều Thứ Mười Ba: Điều kiện được thọ truyền Bửư Pháp.

  • Trong hàng hạ thừa, ai giữ trai kỳ từ mười ngày sắp lên, được thọ truyền bửu pháp, vào tịnh thất có người chỉ luyện Đạo.

 

Điều Thứ Mười Bốn: Điều kiện để trở thành Chức Sắc.

  • Chức Sắc cai trị trong đạo từ bực Giáo Hữu sắp lên, phải chọn trong bực người thượng thừa mà thôi.

 

Điều Thứ Mười Lăm: Qui định của Tín Đồ bực thượng thừa.

  • Bực thượng thừa theo Đại Đạo buộc phải để râu, tóc. Ăn mặc thường. Phải dùng toàn đồ vải trắng, hoặc màu theo phái mình, song phải tùy tiện chẳng nên xa xí.

   

Điều Thứ Mười Sáu: Lập Họ và Thánh Thất.

  • Nơi nào có đông tín đồ được chừng 500 người sấp lên, thì được lập riêng một Họ đặt riêng một Thánh Thất, có một Chức Sắc làm đầu cai trị.

 

Điều Thứ Mười Bảy: Thẩm quyền cho phép lập Họ.

  • Sự lập Họ phải có phép Đức Giáo Tông và phải do nơi quyền người.

 

Điều Thứ Mười Tám: Bổn phận của Tín Đồ trong họ Đạo.

  • Bổn đạo trong Họ phải tuân mạng lịnh của Chức Sắc làm đầu trong Họ, nhứt nhứt phải do nơi người, chẳng đặng tự chuyên mà trái Đạo.

 

Điều Thứ Mười Chín: Bổn phận của Tín Đồ trong những ngày Sóc Vọng.

  • Một tháng hai ngày Sóc Vọng, bổn đạo phải tựu lại Thánh Thất sở tại mà làm lễ và nghe dạy. Trừ ra ai có việc được chế.

 

Điều Thứ Hai Mươi: Cúng Tứ Thời tại Thánh Thất.

  • Chức Sắc giữ Thánh Thất mỗi ngày phải làm tiểu lễ bốn lần theo Tứ Thời: Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu. Mỗi Thời phải cúng đúng 6 giờ sáng, 12 giờ trưa, 6 giờ tối và 12 giờ khuya.
  • Đổ một hồi chuông trước khi hành lễ. Trong mấy Thời này, bổn đạo muốn đến tụng kinh tùy ý.

   

Điều Thứ Hai Mươi Mốt:

Hễ nhập môn rồi phải trau giồi giữ tánh hạnh, cần giữ Ngũ Giới Cấm là:

  1. Nhứt Bất Sát Sanh, là chẳng nên sát hại sanh vật.
  2. Nhì Bất Du Đạo, là cấm trộm cướp; lấy ngang, lường gạt của người, hoặc mượn vay không trả, hoặc chứa đồ gian, hoặc lượm lấy của rơi, hoặc sanh lòng tham của quấy để ý hại cho người, mà lợi cho mình, cờ bạc gian lận.
  3. Tam Bất Tà Dâm, là cấm lấy vợ người, thả theo đàn điếm, xúi giục người làm loạn luân thường, hoặc thấy sắc dậy lòng tà, hoặc lấy lời gieo tình huê nguyệt (vợ chồng không gọi tà dâm).
  4. Tứ Bất Tửu Nhục, là cấm say mê rượu thịt, ăn uống quá độ, rối loạn tâm thần, làm cho náo động xóm làng, hoặc miệng ước rượu ngon, bụng mơ đồ mỹ vị.
  5. Ngũ Bất Vọng Ngữ, là cấm xảo trá láo xược, gạt gẫm người, khoe mình, bày lỗi người, chuyện quấy nói phải, chuyện phải thêu dệt ra quấy, nhạo báng, chê bai, nói hành kẻ khác, xúi giục người hờn giận, kiện thưa xa cách, ăn nói lỗ mãng, thô tục, chưởi rủa người, hủy báng Tôn Giáo, nói ra không giữ lời hứa.
<@@@>

   

Điều Thứ Hai Mươi Hai: Về tứ đại điều qui

  • Buộc phải trau giồi đức hạnh giữ theo tứ đại điều qui là:
    1. Phải tuân lời dạy của bề trên, chẳng hổ chịu cho bực thấp hơn điều độ. Lấy lễ hòa người. Lỡ làm lỗi, phải ăn năn chịu thiệt.
    2. Chớ khoe tài, đừng cao ngạo, quên mình mà làm nên cho người. Giúp người nên Đạo. Đừng nhớ cừu riêng, chớ che lấp người hiền.
    3. Bạc tiền xuất nhập phân minh, đừng mượn vay không trả. Đối với trên, dưới đừng lờn dễ, trên dạy dưới lấy lễ, dưới gián trên đừng thất khiêm cung.
    4. Trước mặt sau lưng, cũng đồng một bực, đừng kỉnh trước rồi khi sau.
  • Đừng thấy đồng đạo tranh đua ngồi mà xem không để lời hòa giải, đừng lấy chung làm riêng đừng vụ riêng mà bỏ việc chung. Pháp luật phải tuân, đừng lấy ý riêng mà trái trên dễ dưới. Đừng cậy quyền mà yểm tài người.

   

Điều Thứ Hai Mươi Ba: Lập Học Đường.

  • Trong Đạo sẽ lập trường để dạy chữ và dạy Đạo.

 

Điều Thứ Hai Mươi Bốn: Nội qui chương trình giảng dạy.

  • Cách dạy và các việc sắp đặt trong trường sẽ có lập thể lệ riêng.

 

Điều Thứ Hai Mươi Lăm: Sở dụng của giấy tốt nghiệp.

  • Sau những người có giấy Tốt Nghiệp của nhà trường cho mới được dự cử vào hàng Chức Sắc trong Đạo.

   

Điều Thứ Hai Mươi Sáu: Phân xử Tín Đồ phạm tội nhẹ.

  • Trong bổn đạo ai có phạm luật pháp về mấy điều khoản nhẹ, thì về quyền người làm đầu trong Họ phân xử và đặng răn phạt quì hương tụng Kinh Sám Hối.

 

Điều Thứ Hai Mươi Bảy: Phân xử Tín Đồ phạm tội trọng hay tái phạm. Tổ chức và quyền hạn của Hội Công Đồng.

  • Như phạm tội trọng hay là tái phạm, thì phải đệ lên cho Hội Công Đồng phán đoán.
  • Hội ấy một vị Đầu Sư hay là Phối Sư phái mình làm đầu và có hai vị Chức Sắc hai phái kia nghị án. Hội nầy được quyền trục xuất.

 

Điều Thứ Hai Mươi Tám: Phân giải Tín Đồ trong họ Đạo.

  • Về đường đời bổn đạo có xích mích nhau, cũng phải đến cho người làm đầu trong Họ phân giải.

 

Điều Thứ Hai Mươi Chín: Phân xử Chức Sắc phạm pháp.

  • Chư Chưc Sắc, ai có phạm luật pháp trong đạo, thì đem trước Tòa Tam Giáo phân xử.

 

Điều Thứ Ba Mươi: Tổ chức của Tòa Tam Giáo.

  • Tòa Tam Giáo có Đức Giáo Tông làm đầu. Ba vị Chưởng Pháp nghị án. Vị Đầu Sư phái mình về phần dâng biểu buộc tội. Một chức sắc Hiệp Thiên Đài làm trạng sư.

 

Điều Thứ Ba Mươi Mốt: Quyền hạn của Tòa Tam Giáo.

  • Tòa này có quyền xử giáng cấp hay là trục xuất.

   

Điều Thứ Ba Mươi Hai: Ban hành và triển hạn áp dụng Tân Luật.

  • Trong hạn 6 tháng, kể từ ngày ban hành luật pháp nầy chư tín đồ phải tuân y các điều lệ.

Ngoại trừ:

  1. Những người làm nghề nghiệp phạm nhằm luật cấm thì được kỳ hạn một năm phải giải nghệ.
  2. Những Chức Sắc chưa trường trai được kỳ hạn hai năm phải tập theo cho kịp.
  • Kỳ dư luật lệ Thầy canh cải phải tuân theo, còn bao nhiêu phải tùy cựu luật.