II. Tìm Hiểu Trận Chiến Thiện Ác
ID026167 - Phần : II. Tìm Hiểu Trận Chiến Thiện Ác 🖶 Print this Phần
Sách : Trận Chiến Thiện Ác Nơi Cõi Vô Hình
Tác Giả : Tùng Thiên Từ Bạch Hạc

 

1. Cõi Thiêng Liêng Hằng Sống Là cõi nào?

Cõi Thiêng liêng Hằng sống (The supernatural and immortal world) là cõi của các Ðấng Thần, Thánh, Tiên, Phật, cõi của những người đắc đạo, nơi đó không có sự chết, cõi Cực Lạc hoàn toàn an vui hạnh phúc. Con đường đi lên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống được gọi là Con đường Thiêng Liêng Hằng Sống, là con đường mà các Chơn linh trở về cùng Ðức Chí Tôn.

"Con đường về với Ðức Chí Tôn không phải dễ, mà cũng không phải về là tới liền. Muốn về với Ðức Chí Tôn, ta phải qua nhiều Cung nhiều Ðiện, mỗi Cung ta gặp một sự lạ, mỗi Ðiện chúng ta gặp một huyền vi khác nhau. Phải đi từ Cung nầy đến Ðiện nọ, nên gọi là dục tấn trên con đường Thiêng liêng Hằng sống. Về được với Ðức Chí Tôn thì không còn hạnh phúc nào bằng."

 

2. Pháp-bửu, Vân- Xa là gì?

Pháp bảo hay Pháp bửu có các nghĩa sau đây:

A. Pháp là một trong Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng.

Pháp bảo là ngôi Pháp quí báu. Đó là ngôi thứ nhì trong Thượng Đế ba ngôi: Phật, Pháp, Tăng. Ngôi thứ nhì ấy chính là Đức Phật Mẫu.

"Đức Chí Tôn là PHẬT, Phật chiết tánh biến ra PHÁP, là ngôi thứ nhì thuộc Âm, là Phật Mẫu. Nhưng chúng ta không biết cái bí mật ấy, là khí Âm Dương phối hiệp biến hình, mà Phật Mẫu dùng gì để tạo nên cơ quan hữu vi nầy, vì bởi Phật Mẫu dùng khối Sanh quang có năng lực vận hành trong không khí, chúng ta không thể thấy được. Khi biến ra hữu tướng là nước, lửa, gió, rồi nước lửa gió vận hành biến ra vạn vật, đi từ Hỗn Nguơn Khí, Hư Vô Khí, đến Huyền Ảnh Khí, rồi mới biến ra vạn vật, tức là Huyền Ảnh Khí biến ra nhơn hình vậy, ấy là TĂNG." (Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp)

B. Pháp là phép thuật huyền diệu.

Pháp bảo (Pháp bửu) hay Bửu pháp là những vật có pháp thuật huyền diệu của các Đấng thiêng liêng.

o Đức Hộ Pháp có 2 pháp bửu là: Giáng Ma XửKim Tiên.
o Đức Thượng Phẩm có 2 pháp bửu: Long Tu Phiến và Phất chủ
o Đức Thượng Sanh có 2 pháp bửu: Thư Hùng Kiếm và Phất chủ
o Đức Quyền Giáo Tông tức Lý Thiết Quả có hai pháp bửu là: Hồ Lô và Gậy sắt.

C. Pháp là Giáo lý. Pháp bửu là giáo lý quí báu.

Khi Đức Phật Thích Ca còn sanh tiền, Đức Phật thường nhắc nhở các đệ tử rằng: Khi Ta tịch rồi, Ta để cái Pháp lại. Hãy coi nó như Ta. Tôn kính Ta thế nào thì sùng thượng cái Pháp cũng thế ấy... Cái Pháp của Phật, tức là giáo lý của Phật để lại cho nhơn loại, cứ đúng theo đó mà tu thì được giải thoát luân hồi. Giáo lý ấy quí báu hơn tất cả vàng bạc châu báu nên mới được gọi là Pháp bảo.

Vân-xa là xe gì?

Vân: Mây. Xa: chiếc xe. Vân xa là chiếc xe đi trên mây. Đây là pháp bửu của các Đấng Tiên Phật, dùng để di chuyển đến các thế giới trong Càn Khôn Vũ Trụ.

   

4. Pháp-Thân

Hình minh họa Chơn Thần xuất ra khỏi trái đất

A. Pháp thân (Astral body, Perispirit) là xác thân thiêng liêng huyền diệu, đó là Chơn Thần của mỗi người. Mỗi người nơi cõi phàm trần đều có hai xác thân:

- Một xác thân phàm bằng xương thịt do cha mẹ phàm trần sanh ra, được nuôi dưỡng và lớn lên, đến lúc già thì chết.

- Một xác thân thiêng liêng ẩn trong xác thân phàm do Đức Phật Mẫu dùng các nguyên khí nơi Diêu Trì Cung tạo nên. Khi xác thân phàm chết, xác thân thiêng liêng xuất ra khỏi xác phàm, bay trở về cõi thiêng liêng. Những người đắc đạo thì xác thân thiêng liêng nầy rất huyền diệu, có thể biến hóa tùy ý mà đi lên các cõi Trời. Xác thân thiêng liêng còn được gọi là: Chơn Thần, chơn thân, pháp thân.....

Thầy nói “cái Chơn ThầnNhị xác thân các con, là khí chất nó bao bọc thân thể các con như khuôn bọc vậy, nơi trung tâm của nó là óc, nơi cửa xuất nhập của nó là mỏ ác, gọi tiếng chữ là Vi Hộ. Nơi ấy Hộ Pháp hằng đứng mà gìn giữ Chơn linh các con khi luyện thành đạo đặng hiệp một với Khí, rồi Khí mới thấu đến Chơn Thần hiệp một mà siêu phàm nhập thánh”.

Hình minh họa Chơn Thần xuất ra giống hệt người ở dưới

Chơn Thần, theo tài liệu của Bát Nương, là phần bán hữu hình của cơ thể vật lý có thể tách rời và di chuyển bên ngoài cơ thể. Người tịnh luyện thành công có thể xuất Chơn Thần đi khắp vũ trụ, gặp gỡ các đấng thiêng liêng và trở về xác phàm...

Tuy nhiên, điều quan trọng là những ai có căn cơ, tiền duyên mới luyện thành công chứ không phải ai tịnh luyện cũng đều đạt được như vậy! Bát Nương cũng dạy rõ xuất Chơn Thần được chưa phải là đắc đạo.

Chơn-Thần là một điểm linh của Phật-Mẫu sanh ra. Chơn-Thần đến với xác thân, đặng khai trí cho con người, bên Phật-Giáo gọi là Giác-Hồn đó.

Trong Đại thừa chơn giáo, Đức Chí Tôn dạy: Một con người thật sự được cấu tạo bởi 7 thể; có thể xem như 7 lớp. Mỗi lớp có cấu tạo khác nhau, từ thể đặc tới thể khí và càng lên cao càng thanh nhẹ dần để có thể sống trong 7 cõi của Càn khôn vũ trụ.

 

B. Pháp-Giới

Pháp: một cách tổng quát, Pháp là tất cả các sự, các việc, các vật, các hiện tượng, dù nhỏ dù lớn, dù thấy được hay còn ẩn kín không thấy được, dù hữu hình hay vô hình, tốt hay xấu, thiện hay ác, chơn hay giả, đơn giản hay phức tạp.

Giới: cảnh giới, cõi, phạm vi. Theo Từ Điển Phật Học Hán Việt, định nghĩa hai chữ Pháp giới như sau:

"Pháp giới” có nhiều nghĩa, sau đây là hai nghĩa chánh:

- Các pháp đều có tự thể, nhưng phận giới (giới hạn riêng của nó) thì không giống nhau, cho nên gọi là Pháp giới. Mỗi pháp đều gọi là Pháp giới, mà nói chung cả vạn pháp thì cũng chỉ một từ PHÁP GIỚI.

- Giới cũng có nghĩa là cõi, Pháp giới có nghĩa là cõi cùng cực của Pháp, dù rộng lớn, sâu xa đến đâu cũng không vượt qua cõi đó.

Tuy tên gọi khác nhau, nhưng lý thể của nó chỉ là một. Pháp giới có nhiều nghĩa rất rộng như thế, nhưng nghĩa thường dùng thì có 5 trường hợp sau đây:

· Pháp giới là cảnh giới của pháp, nói vắn tắt là: cõi.

· Cõi trần, cõi thiêng liêng, cõi địa ngục đều là Pháp giới.

· Pháp giới là phạm vi của Pháp, bao gồm các Pháp hữu vi và vô vi. Pháp hữu vi là Thể pháp, Pháp vô vi là Bí pháp.

· Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp: Không có một điều chi Chí Tôn để trong Pháp giới của Ngài trong cửa Đạo nầy mà không có nghĩa lý.

· Pháp giới là cơ quan tạo hóa ra vạn vật trong Càn Khôn Vũ Trụ.

· Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp: Cửu Trùng Đài là chơn tướng của Cửu Thiên Khai Hóa, tức là cơ hữu vi của Càn Khôn Vũ Trụ, do Cửu Thiên Khai Hóa tạo thành. Còn Hiệp Thiên Đài là Pháp giới tạo ra vạn linh, nó là Đạo, rõ rệt như vậy.

· Pháp giới là bí pháp huyền diệu, pháp thuật mầu nhiệm.

· Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp: Hộ Pháp đến kỳ Long Hoa nầy cốt để rước cửu nhị ức nguyên nhân là bạn chí thân của người đã bị đọa lạc nơi hồng trần không phương giải thoát. Muốn rước các bạn chí thân của Bần đạo, Đức Chí Tôn buộc phải lấy Pháp giới tận độ chúng sanh.

· KỆ CHUÔNG BÃI ĐÀN: Thiên phong hải chúng quốc thới dân an hồi hướng đàn trường tận thâu Pháp giới.

· Pháp giới là phạm vi pháp luật, nói tắt là: pháp luật.

Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp: Đấng cầm quyền trong Pháp giới là Hư-Vô Cao-Thiên vâng mạng lịnh Hạo-Nhiên Pháp-Thiên làm cho vũ trụ khỏi tương tàn với nhau... Hư-Vô Cao-Thiên thuộc về Pháp giới cầm cả luật Thiên đình.

 

4. Ngọc-Hư-Cung và Linh Tiêu Điện ở đâu? Ai chưởng quản?

Ngọc Hư Cung hay Cung Ngọc Hư là nơi họp triều đình của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, cầm quyền cai trị toàn cả Càn khôn thế giới. Ngọc Hư Cung ở từng Trời thứ 10 là HƯ VÔ THIÊN, ở ngay bên trên Cửu Trùng Thiên, dưới quyền Chưởng quản của Đức Nhiên Đăng Cổ Phật. Trong Ngọc Hư CungLinh Tiêu ĐiệnCung Hiệp Thiên Hành Hóa.

Linh Tiêu Điện (ĐÀI LINH TIÊU) là nơi Đức Chí Tôn họp Thiên triều của Ngài, gồm các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật, tạo định Thiên thơ, cầm quyền điều khiển Càn khôn vũ trụ.

Cung Hiệp Thiên Hành Hóa là Tòa Tam Giáo thiêng liêng, nơi làm việc của Tam Trấn Oai Nghiêm cầm quyền Tam Giáo thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Trong đề tài Con đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giảng về Ngọc Hư Cung như sau:

"Đó là một thế giới đẹp đẽ vô cùng, lầu đài nguy nga chớn chở, làm toàn bằng ngọc, có màu như pha lê, hào quang chiếu diệu, mà màu sắc ấy biến đổi luôn, rất huyền diệu. Trong Ngọc Hư Cung không dùng lời nói, chỉ nói chuyện với nhau bằng tư tưởng, nên không có vấn đề ngôn ngữ bất đồng, và nơi đó có trùng trùng điệp điệp muôn người mà không có một tiếng ồn ào.

Trong Ngọc Hư Cung có một nơi gọi là Cung Nam Tào Bắc Đẩu, đặt một quyển Thiên thơ không chữ gọi là VÔ TỰ KINH. Khi ta đến đứng trước quyển kinh ấy, dở ra xem thì thấy tên họ của mình hiện ra, cả kiếp sanh của mình đã làm gì thì nó hiện ra đủ hết, để ta quan sát trở lại kiếp sanh của ta, tự ta làm Tòa xử lấy ta.

Chẳng những nó hiện ra những việc làm trong kiếp sanh vừa qua, mà nó còn hiện ra tất cả các kiếp sanh của chúng ta từ lúc chúng ta đầu kiếp xuống cõi trần, bao nhiêu kiếp ghi lại đủ hết. Bởi vì chính Chơn Thần của ta ghi lại tất cả các kiếp sanh, như là quay phim lưu giữ lại đó, mỗi một kiếp sanh là một cuồn phim, đến chừng Chơn Thần đến trước VÔ TỰ KINH thì Chơn Thần chiếu trở lại các phim ấy. Cái huyền diệu của VÔ TỰ KINH là ở chỗ đó…"

"Cung Ngọc Hư là nơi cầm quyền chánh trị Càn Khôn Vũ Trụ, không có một ngôi sao nào, không có một mặt trời nào đứng trong Càn Khôn Vũ Trụ mà không chịu dưới quyền điều khiển của Ngọc Hư Cung”.

 

5. Cực Lạc Niết Bàn - Cực Lạc Thế Giới- Cực Lạc Quốc là cõi nào? Ai chưởng quản?

Ba từ ngữ: Cực Lạc Niết Bàn, Cực Lạc Thế Giới, Cực Lạc quốc (Nirvana, Paradise, Kingdom of happiness), đều đồng nghĩa, chỉ cõi hoàn toàn an vui, hạnh phúc, không còn mê lầm hay phiền não. Ðó là cõi của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, của những người đắc đạo.

Theo Phật giáo, ở cõi Cực-Lạc Thế-Giới, nhà cửa, đền đài, cung điện, ao hồ đều rất đẹp được làm bằng bảy món quí báu gọi là Thất bảo, có hoa Tiên rơi xuống như mưa, có chim linh hót thanh tao. Người ở cõi nầy muốn gì có nấy, chỉ cần tưởng là có liền. Mục đích của người tu theo Phật giáo là được đắc quả lên ở cõi Cực Lạc Niết Bàn, giải thoát khỏi luân hồi.

Cõi Cực-Lạc Thế-Giới ở từng Trời thứ 10, đó là từng Trời HƯ VÔ THIÊN, do Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật chưởng quản.

Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giảng về Cực Lạc Thế Giới như sau:

"Từ thử đến giờ, Cực-Lạc Thế-Giới trong Phât giáo đã truyền bá, tả tình trạng đã nhiều, cả thảy đều định, nếu mình tu theo Phật giáo, hễ đoạt vị đặng thì về Cực-Lạc Thế-Giới ... NIẾT BÀN CẢNH cũng như là kinh đô Cực-Lạc Thế-Giới vậy.

Chúng ta sẽ ngó thấy Ðức Phật Thích Ca nơi Kim Sa Ðại Ðiện, tức là Kim Tự Tháp, giống như bên Ai Cập, mà không thiệt giống. Có một điều, chúng ta nên để ý hơn hết là Kim Tự Tháp ấy có một cây dương lớn lắm, chúng ta không thế gì tả được, hình tướng cái lá của nó giống như sợi chỉ, chúng ta thấy nó bao trùm Kim Tự Tháp ấy.

Trong cái bí pháp của Niết bàn là cây dương ấy, mỗi lá dương đều có một giọt nước Cam lồ, mỗi giọt nước là một mạng căn trong Càn Khôn Vũ Trụ. Kim Tự Tháp có từng, có nấc, hằng hà sa số chư Phật, chúng ta không thể đếm được, ngồi trên liên đài của mình trên mỗi từng.

Bên Cửu Thiên Khai Hóa cầm quyền chánh trị Càn Khôn Vũ Trụ. Bên Cực Lạc Thế Giới tức là Niết Bàn, duy có giáo hóa mà thôi. Giờ phút nầy, dưới cội cây dương ấy, chúng ta vẫn thấy một liên đài rực rỡ quí báu vô giá, chiếu diệu cả muôn vạn linh quang bao phủ Càn Khôn Vũ Trụ. Trên liên đài ấy, giờ phút nầy, vị Chưởng giáo ở Niết Bàn là Ðức Di-Lạc Vương Phật đó vậy.

Buổi trước, ngai đó thuộc quyền của Ðức A-Di-Ðà. Ngày giờ mở ÐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ, tức là mở Ðạo Cao Ðài, Ðức Chí Tôn đã giao quyền lại cho Ðức Di-Lạc. Ngày giờ nầy, giờ phút thiêng liêng nầy, Ðức Chí Tôn ban cho nhơn loại nguyên tử lực cũng do nơi liên đài đó vậy. Bởi Ðức A-Di-Ðà đã giao quyền lại cho Ðức Di-Lạc, giao quyền chưởng quản Càn Khôn Vũ Trụ, Ðức Di-Lạc ngồi ngự nơi Kim Tự Tháp, còn Ðức A-Di-Ðà trở vào ngự nơi Lôi Âm Tự."

Đức Nhiên Đăng Cổ Phật chưởng quản từng trời HƯ VÔ THIÊN

Theo Di-Lạc Chơn Kinh thì Đức Nhiên Đăng Cổ Phật hiện nay chưởng quản từng Trời HƯ VÔ THIÊN, là từng Trời thứ 10, trên đó có Ngọc Hư Cung, là nơi họp Thiên triều của Đức Chí Tôn để chư Phật tạo định Thiên Thư, tận độ chúng sanh đắc qui Phật vị.

Kinh Tiểu Tường:
Tịnh niệm phép Nhiên Đăng tưởng tín,
HƯ VÔ THIÊN đến thính Phật điều.
Ngọc Hư Đại Hội ngự triều,..

Nhiên đăng 燃燈: Ám chỉ ánh sáng tâm linh bất hoại trong con người (wisdom light). Đây cũng là tên vị Phật xưa (thời Nhất Kỳ Phổ Độ), tiếng Sanskrit là Dipankara. Ngài có trước Phật Thích Ca (thời Nhị Kỳ Phổ Độ), hồng danh là Nhiên Ðăng Cổ Phật 然燈古佛 (Dipankara the Ancient Buddha).

Thời Nhứt Kỳ Phổ Độ, Đức Nhiên Đăng Cổ Phật giáng trần mở Phật giáo ở Ấn Độ ứng với đời vua Hiên Viên Huỳnh Đế bên Tàu. Ngài làm Chưởng Giáo Sơ Hội Long Hoa Thanh Vương Đại Hội.

   

A. Kim Quang Sứ và Quỉ vương, Lucifer có khác nhau? Nhiệm vụ của vị này?

Kim: Vàng, vua loài kim. Quang: ánh sáng. Sứ: sứ quân, nổi lên chiếm cứ đất đai làm vua một cõi.

Điều lưu ý là chúng ta nên viết chữ QUANG có G, nghĩa là ánh sáng, vì Đức Phạm Hộ Pháp có nói: Kim Quang Sứ là một vị Đại Tiên có quyền đem ánh sáng thiêng liêng của Đức Chí Tôn chiếu diệu trong Càn Khôn Vũ Trụ.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: "Từ khai Thiên, Thầy đã sanh ra các con, sự yêu mến của một ông cha nhân từ thế quá lẽ, làm cho đến đỗi con cái khinh khi, phản nghịch lại, cũng như Kim Quang Sứ là A-Tu-La, Thánh giáo gọi là Lucifer phản nghịch, náo động Thiên cung. Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật còn phàn nàn trách cứ Thầy thay! Các con ôi! Đã gọi là Đấng cầm cân, lẽ công bình thiêng liêng đâu mà Thầy đặng phép tư vị. Thầy lấy lẽ công bình thì tức nhiên phải chiếu theo Thiên điều, mà chiếu theo Thiên điều thì là con cái của Thầy, tức là các con, phải đọa trầm luân đời đời kiếp kiếp. Các con phải ngồi nơi địa vị Thầy thì các con thế nào?

Mỗi phen Thầy đau thảm khóc lóc các con, phải lén hạ trần, quyết bỏ ngôi Chí Tôn xuống lập Đạo, lại bị các con bạc đãi, biếm nhẻ, xua đuổi, bắt buộc đến đỗi phải chịu cho các con giết chết! Ôi! Thảm thay! Các mối Đạo Thầy đã liều thân lập thành đều vào tay Chúa Quỉ hết, nó mê hoặc các con. Nhiều bậc Thiên Tiên còn đọa, huống lựa là các chơn thần khác của Thầy đang nắn đúc thế nào thoát khỏi. Thầy đã chẳng trách phạt Kim Quang Sứ, lẽ nào lại trách phạt các con, song hình phạt của Thiên điều, dầu chính mình Thầy cũng khó tránh..."

 

B. Căn cội, Quyền hành, Nhiệm vụ của Kim Quang Sứ

Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo Con đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Ngài có giải rõ căn cội của Kim Quang Sứ, xin chép ra sau đây:

"Khi ở Ngọc Hư Cung, Linh Tiêu Điện, Bần đạo đặng Thánh lịnh của Đức Chí Tôn sai qua mở cửa Cực-Lạc Thế-Giới. Buổi ban sơ ấy, tinh thần của Bần đạo còn hoang mang, không biết sao lại còn có bổn phận đi mở Cực-Lạc Thế-Giới nữa. Cực-Lạc Thế-Giới là gì? Sao lại phải đi mở? Bần đạo tự hỏi. Tới chừng đi rồi mới biết tình trạng của các đẳng Chơn linh đã đoạt vị trong Càn Khôn Vũ Trụ chịu nạn khảo thí do nơi Kim Quang Sứ. Kim Quang Sứ đã đặng Đức Chí Tôn cho làm Giám khảo kỳ thi Hạ nguơn Tam chuyển, qua Thượng nguơn Tứ chuyển nầy.

Kim Quang Sứ là ai? Bên Thánh giáo Gia Tô gọi là Quỉ vương đó vậy.

Kim Quang Sứ là một vị Đại Tiên có quyền hành đem ánh sáng thiêng liêng Đức Chí Tôn chiếu diệu trong Càn Khôn Vũ Trụ. Vị Đại Tiên ấy đã gấm ghé bước vào Phật vị. Cái quyền năng của ông ta đã đoạt đặng tưởng không thua kém Đức Chí Tôn là bao nhiêu, do cái tự kiêu, còn một bước đường nữa mà đoạt không đặng. Nếu người nhường là nhường Đức Chí Tôn mà thôi.

Vì người hám vọng, tự tôn tự đại, muốn cầm một quyền lực để điều khiển Càn Khôn Vũ Trụ, chưa đoạt đặng, mà Ngọc Hư Cung đã biết tinh thần Kim Quang Sứ muốn phản phúc, phản phúc dám đối diện cùng Đức Chí Tôn, mà Ngọc Hư Cung đã biết, cho làm Thống Đốc một thế giới của chúng ta đương thời bây giờ. Thế giới địa hoàn nầy, nếu như người không có tự kiêu tự đại, cái chức tước làm Thống Đốc một thế giới cũng không phải là hèn gì, nhưng người không vừa lòng, phản lại, mới bị đọa vào Quỉ vị.

Ngày giờ nầy, Đại Tiên Kim Quang Sứ đã đặng ân xá, cũng như các đẳng Chơn linh được ân xá; trong Quỉ vị cũng được hưởng hồng ân của Đức Chí Tôn ân xá cũng như toàn thể các chơn hồn trong Càn Khôn Vũ Trụ. Vì cớ cho nên người Quỉ Chúa ấy lãnh một phận sự tối trọng tối yếu là làm giám khảo, duợt chư Tiên đoạt phẩm vị Phật.

Vì cớ cho nên, người có giáng cơ buổi Đạo đương bình tịnh, cả Thánh Thể Đức Chí Tôn đương hòa ái với nhau, không có tâm tánh gì phản động, chưa có một mảy may gì gọi là loạn, họ còn giữ theo nề nếp chơn truyền của Đức Chí Tôn, mà thinh không Kim Quang Sứ giáng cơ cho một bài thi, chẳng khác nào như tìm đến Thánh Thể của Chí Tôn mà liệng một tối hậu thơ.

Bài thơ ấy như vầy:

Cửu phẩm Thần Tiên nể mặt Ta,
Thích Ca dầu trọng khó giao hòa.
Cửa Kinh Bạch Ngọc năng lui tới,
Đường Đạo Tây phương thử chánh tà.
Chỉ đá hóa vàng đon miệng thế,
Treo gươm trí huệ giục phồn hoa.
Lấy chơn thay giả tô Thiên vị,
Thắng bại phàm tâm liệu thế à!

*(Đức Phạm Hộ Pháp chỉ nhắc có 4 câu đầu của bài thi, chúng tôi sưu tầm chép thêm 4 câu sau cho trọn bài thi).

Ngó thấy quyền của người ta như thế đó. Hại thay, đường đi từ Ngọc Hư Cung qua Cực-Lạc Thế-Giới buổi nọ bị Kim Quang Sứ ngăn đường không cho đi qua....Đấng mà dám đưa tay cho kẻ thù định phận, quyền năng dường ấy, để khảo duợt toàn con cái của Người, tức nhiên khảo duợt Người, mà Người không có nao không có sợ, thì chúng ta đủ biết quyền phép của Đức Chí Tôn hơn quyền phép của Kim Quang Sứ nhiều lắm. Đối với tinh thần nhơn loại đương nhiên bây giờ, đáng lẽ Đức Chí Tôn gìn giữ kỹ càng lắm, nhưng Người không cần để tâm gìn giữ cho kỹ lưỡng điều đó mà chớ.

Bởi cớ cho nên khi mở Đạo tại Từ Lâm Tự, Ngài đến, cầm cơ viết tên của Ngài, rồi Ngài liền thăng, Ngài cho Quỉ đến đặng phá, phá cho tiêu nền chơn giáo của Ngài. Ngài đã cho phép nó làm, nó vẫn thi hành chớ không sợ sệt e lệ gì cả.

Kim Quang Sứ đã thi hành trong hai mươi mấy năm, cả Thánh Thể Đức Chí Tôn và toàn con cái của Ngài nam nữ đang bị tay Kim Quang Sứ tàn hại, đủ mưu chước, đặng hại cho thất đạo, không có một điều gì, một mưu chước gì mà nó không dùng, đặng tàn phá Thánh Thể Đức Chí Tôn; nhưng không phải dễ; dầu quyền lực của Kim Quang Sứ bao nhiêu đi nữa cũng chưa qua khỏi cái mức mà Đức Chí Tôn đã gạch sẵn cho con cái của Ngài đi, thì chúng ta ngó thấy đủ bằng cớ đoạt đặng.

Ngộ nghỉnh thay, tuy biết hay là không biết, Đức Chí Tôn cho Kim Quang Sứ thử con cái của Ngài đặng bỏ cái phàm lấy cái Thánh.

Đức Chí Tôn có thể định được cho mình, mà chính mình phải lập quyền do tài đức của mình; Đức Chí Tôn có thể định vị cho mình, mà mình phải lấy đạo đức của mình mà lập phẩm vị, tức nhiên mình phải chịu khảo duợt, phải thi thố cho đậu mới đoạt phẩm vị cao siêu của mình, rớt phải chịu đọa lạc, không thể chối cải được. Giám khảo ấy rất khó. Huống chi Kim Quang Sứ tự tôn tự đại, không có một chơn hồn nào tới lo lót Kim Quang Sứ đặng cho tôi đoạt được đâu!...”

Trên đây là lời thuyết đạo của Đức Phạm Hộ Pháp cho biết lai lịch của Kim Quang Sứ, và vì sao Kim Quang Sứ bị đọa vào Quỉ vị để làm Chúa Quỉ.

 

C. Nguồn gốc quỷ Satan

Theo tài liệu trong Kinh thánh thì: Vào thuở khai thiên lập địa, Thượng Đế tạo ra ba vị Tổng thiên thần là Michael, Gabriel và Lucifer để quản lý Thiên giới (Angelic Realm). Mỗi người đều có điểm mạnh riêng của mình. Lucifer được tạo ra với một ánh sáng vĩnh cửu, đẹp đẽ. Các thiên thần trở thành công cụ truyền đạo và chăm sóc công việc cho Thượng Đế.

- Thế rồi, Thượng Đế quyết định tạo ra một thế giới khác là Trần gian (Physical Realm), nơi mà sự vĩnh cửu cùng với các sinh vật sẽ sống trường tồn giống như Thiên giới. Sau đó, Thượng Đế giao nhiệm vụ cho Lucifer và các Thiên thần đi tìm cho mình viên ngọc đẹp nhất để làm nên thế giới mà Thượng Đế mong muốn. Và Lucifer đã tìm thấy viên ngọc từ bên trong của thế giới Vĩnh cửu, nó là một viên ngọc óng ả và hoàn hảo, thuần nhất 2 màu xanh lá và xanh dương. Trước mặt Thượng Đế, nó vỡ ra và rơi xuống, màu xanh dương tạo thành biển, nơi sự sống bắt nguồn, và màu xanh lá cung cấp điều kiện sống cho các sinh vật mới xuất hiện. Sau đó, Thượng Đế giao cho các Thiên thần nhiệm vụ theo dõi và chăm sóc sự sống trong thế giới Ngài vừa mới tạo ra. Và trong niềm hân hoan đó, Thượng Đế muốn chia sẻ cho các Thiên thần ánh sáng từ viên ngọc đẹp đẽ nhất của ngài (Divine Jewel). Tất cả đều mong muốn nó nhưng không ai tham muốn nó bằng Lucifer.

- Thượng Đế nhận ra sự thèm muốn của Lucifer và Ngài đã quyết định sẽ thỏa mãn ý muốn của Lucifer. Thượng Đế ra lệnh cho Lucifer xuống sống và quản lý thế giới Ngài vừa tạo ra, hướng dẫn sự sống phát triển. Thế rồi, Thượng Đế giao cho Lucifer viên ngọc của Ngài. Lucifer quản lý Trái Đất trong nhiều triệu năm. Sau khi thời đại của những loài Thằn lằn lớn trôi qua, một thời đại mới bắt đầu, máu nóng, có tóc và thông minh hơn. Đó là Con người. Khi Trái Đất bắt đầu xuất hiện loài người đầu tiên, Thượng Đế đề ra kế hoạch và ra lệnh cho Lucifer trở thành Người cha của giống loài này và giúp họ trở thành những người con của Thượng Đế.

- Lucifer tức giận và trở nên căm ghét loài người. Lucifer tổ chức một cuộc họp với những Thiên thần đi theo ông và họ quyết định sẽ chống lại ý định của Thượng Đế. Điều này dẫn đến Cuộc nổi loạn của Lucifer. Lucifer nổi dậy chống lại Thượng Đế và ngay sau đó, Thượng Đế ra lệnh cho Micheal đánh trả lại Lucifer. Lucifer bị đánh bại và đày xuống Trái Đất cùng với các Thiên thần theo ông. Lucifer tức giận và từ một người quản lý Trái Đất tốt hơn theo lệnh của Thượng Đế, ông căm ghét nó và muốn phá hủy mọi sự sống trên nó. Lucifer bắt đầu thực hiện kế hoạch phả hủy hệ sinh thái của Trái Đất, không cho phép sự sống phát triển.

Sau đó, Lucifer đổi tên thành Satan có nghĩa là “Sự hủy diệt”, từ đó, Lucifer trở thành Satan và những Thiên thần theo ông được gọi là “Fallen Angel” hay Quỷ, cái tên Lucifer có nghĩa là “Ngôi sao mai”, theo tiếng Latinh thì “Luci” có nghĩa là “Ánh sáng” và “Feris” có nghĩa là “Người mang đến”, từ “Satan” cũng có nghĩa là “Kẻ thù”, Lucifer cũng được biết đến với cái tên “Người kết tội”, cũng bởi hắn luôn thúc giục con người làm những việc tội lỗi và luôn đắm chìm trong tội ác của mình dù cho Thượng Đế đã tha thứ cho ta.

Phương Đông cũng có quỷ, Phật Giáo có Mira, hiện thân của cái ác, tội lỗi.

 

D. Satan thử thách Đức Jesus

Nếu như mọi tồn tại trên thế giới – cả trên trời, mặt đất và biển cả - đều là sản phẩm của Chúa thì Satan cũng vậy. Ban đầu, đó là một trong ba tổng lãnh thiên thần do Chúa trời tạo ra, có tên là Lucifer, có nghĩa là ngôi sao mai ngời sáng. Lucifer cùng với hai tổng thiên thần khác là Michael và Gabriel giúp Chúa trời cai quản thiên giới.

Vị thiên thần này không những có quyền lực lớn mà còn có hình dung tuyệt đẹp, được Chúa vô cùng yêu thương, giao nhiều trọng trách. Điều đó khiến Lucifer dần dần trở nên kiêu ngạo và ngông cuồng, cảm thấy mình không thua kém gì Chúa trời. Ông ta đố kỵ với Chúa, thèm khát địa vị của ngài, thèm khát quyền lực tối thượng.

Ấp ủ tham vọng thoán vị, Lucifer rủ rê các thiên thần tạo phản lật đổ Chúa trời và lạ thay, có đến 1/3 số thiên thần đi theo ông ta, một cuộc chiến khủng khiếp diễn ra trên thiên đường và kết cục là vị tổng thiên thần sa ngã tự coi mình cao hơn Chúa đã thất bại, bị ném xuống 18 tầng địa ngục và trở thành chúa quỷ, từ đó, ông ta được gọi là Satan, có nghĩa là sự hủy diệt.

Quỷ vương Satan cũng từng cám dỗ cả Chúa Jesus khi ngài ở trong hoang mạc, trước thời điểm ngài xuất hiện công khai truyền đạo. Sứ mệnh của Jesus là hiến mình trên thập giá để cứu chuộc loài người, nhưng Satan hứa sẽ đem cho ngài toàn bộ quyền lực và vinh quang của cõi thế gian, và dĩ nhiên là quỷ đã thất bại, sau này, quỷ vương còn nhiều lần tiếp tục trổ tài lung lạc các môn đồ của Chúa trên hành trình truyền đạo.

Theo nghĩa biểu trưng, Satan không phải là con quỷ tìm cách ăn thịt người, mà là hiện thân cho sự sa ngã của linh hồn, là sự buông mình theo cám dỗ của dục vọng đen tối.

Khi con người vướng vào tội lỗi, chứng tỏ họ đã bị quỷ dữ - tức cái ác, cái xấu – lung lạc và chiếm hữu. Đối với một nhóm nhỏ, việc thờ Satan không mang nghĩa tôn thờ cái ác và bạo lực, mà là tôn thờ một triết lý sống: cởi bỏ những kỷ luật, quy tắc trói buộc của xã hội để sống thật với bản ngã, dục vọng của bản thân. Họ quan niệm, sự tham lam, xấu xa cũng là một phần của bản chất người và không cần phải xiềng xích nó, nhất là những thôi thúc của thể xác.

Cái ác cũng cổ xưa như chính loài người, và dường như luôn tồn tại song hành cùng nhân loại, vì thế nên Quỷ vương từ trong truyền thuyết mấy nghìn năm vẫn tiếp tục “sống” trong thế giới hiện đại với sự xuất hiện của bao nhiêu tội ác mới.

Thật may, Satan chưa bao giờ là chủ nhân của thế gian, vì thế cái ác vẫn chỉ có thể hoành hành trong bóng tối, Satan là một bí ẩn đối với tất cả chúng ta. Có gì ngạc nhiên chăng, khi hắn là kẻ cầm quyền của bóng tối, kẻ lừa dối, kẻ cướp, kẻ giết người, và là cha của những lời nói dối? Mặc dù là một bí ẩn, tuy nhiên Satan rất gần gũi với con người, trong gang tấc, mà hầu như người ta không bao giờ có thể ngờ tới. Ngài Phaolo đã cảnh báo:

"Tôi biết rằng sau khi tôi ra đi, sẽ có muông sói dữ tợn đột nhập vào trong anh em, chẳng tiếc bầy chiên đâu. Ngay từ giữa anh em cũng sẽ dấy lên những người giảng những điều sai lạc để lôi cuốn các môn đồ theo họ. Vậy, hãy tỉnh thức, nhớ lại rằng trong suốt ba năm, hằng đêm và ngày, tôi không ngừng đổ nước mắt mà khuyên dạy mọi người" (Công vụ 20:29-31 RVV11)

 

E. Satan, một chức sắc đối nghịch

Cơ đốc giáo đã không sai khi dạy rằng Satan là kẻ thù của Chúa Jesus Christ và các thánh đồ, như được thể hiện trong Kinh Thánh. Quý vị không thấy điều này thú vị sao? Kinh Thánh tiết lộ rằng Satan là một chức sắc ở dưới trướng của Đức Chúa Trời, Satan hiện diện ở cả hai nơi, Thiên Đàng và trái đất.

Chúng ta sẽ thấy Đức Chúa Trời sử dụng Satan ra sao để hoàn thành mục đích của Ngài đối với con người. Bằng việc cầm tù những người mà Chúa lựa chọn (về thể chất, hay về tâm linh), Satan thực ra đang phục vụ cho mục đích của Chúa: "Con đừng sợ những gian khổ mình sắp trải qua. Nầy, ma quỷ sắp ném một số người trong các con vào ngục tù để thử thách các con; và các con sẽ bị hoạn nạn trong mười ngày. Hãy trung tín cho đến chết, rồi Ta sẽ ban cho con mão triều thiên của sự sống." (Khải huyền 02:10 RVV11)

Vì vậy, chúng ta thấy rằng những việc Satan làm là tốt cho các thánh đồ, theo ý muốn của Chúa. Đức Chúa Trời sử dụng bản chất thù địch của Satan để tinh luyện con người về tâm linh và động cơ hành xử của mình, hòng đem họ đến sự toàn thiện, chỉ bằng cách ấy, thì tất cả muôn vật mới chịu khuất phục cho nhân loại trong thời viên mãn, bởi vì lúc đó con người đã được trở về vị trí xứng đáng của họ với thẩm quyền đồng cai trị với Chúa. Dưới đây là một ví dụ khác cho thấy Satan thực hiện ý muốn của Chúa:

"Sau đó, Thánh Linh đem Đức Chúa Jêsus vào hoang mạc để chịu ma quỷ cám dỗ" (Ma-thi-ơ 04:01 RVV11)

Làm thế nào mà Satan có thể đối chất với Chúa Jesus nếu việc đó nằm ngoài ý muốn và dự định của Chúa Cha? Satan đã được bổ nhiệm bởi Ngài để thi hành nhiệm vụ của nó. Cách diễn đạt trong Kinh Thánh cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời đã sắp xếp cuộc gặp gỡ này với mục đích rõ ràng là để thử thách Con Ngài, nhằm chuẩn bị Chúa Jesus cho sứ mệnh sắp đến ở phía trước. Chúa Jesus đã bước đi trên đất trong sự đắc thắng và vâng lời, Ngài quở trách Satan hiện diện bên trong Peter.

Đức Jesus bày tỏ cho các môn đồ biết rằng Ngài phải đi đến thành Jerusalem, phải chịu nhiều đau khổ bởi các trưởng lão, các thầy tế lễ cả cùng các thầy thông giáo, và phải bị giết.

Peter đem Ngài riêng ra và trách rằng: “Lạy Chúa, Đức Chúa Trời nào nỡ vậy! Việc nầy sẽ không xảy đến cho Chúa đâu!”.

Ngài quay lại và phán với Peter: “Hỡi Satan, hãy lui ra đằng sau Ta! Ngươi là một chướng ngại cho Ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc của Đức Chúa Trời, mà chỉ nghĩ đến việc của loài người.

Trong lúc dạy dỗ, Ngài nói: ‘Hãy đề phòng các thầy thông giáo, là những người ưa mặc áo dài đi dạo, thích được người ta chào mình nơi phố chợ, muốn ngồi ghế quan trọng nhất trong các nhà hội và chỗ danh dự trong các buổi tiệc. Họ nuốt nhà của các bà góa mà giả bộ cầu nguyện dài dòng, họ sẽ bị phán xét nặng hơn’" (Mác 12:38-40 RVV11)

"Hãy cảnh giác, đừng để ai lừa dối các con, vì có nhiều kẻ sẽ mạo danh Ta mà đến và nói rằng: ‘Chính Ta là Đấng ấy!’ và chúng sẽ lừa dối nhiều người" (Mác 13:5-6 RVV11)

Làm thế nào Satan có thể xuất hiện như một thiên sứ thuộc ánh sáng? Nó làm điều này thông qua những người đến trong Danh của Đấng Christ, Đấng là Ánh Sáng của tất cả loài người! Con người là phương tiện mà qua họ Satan có thể lừa dối nhân loại, để giữ chặc loài người trong bóng tối. Quả thật, chẳng phải Judas, kẻ phản bội Đấng Christ, là đại diện cho tất cả những người tham lam và bội phản sao?

Đức Chúa Jesus bảo: ‘Chẳng phải Ta đã chọn các con là mười hai môn đồ sao? Thế mà một người trong các con là quỷ?’" (John 6:70 RVV11)

 

F. Qui Vưởng là tay diệt hóa

Tay chân, bộ hạ của Quỉ vương hiện diện ở mọi thời kỳ.Thay vì chỉ thử thách khảo đảo con người, bọn bộ hạ tay chân của Quỉ vương đã trở nên những tên đồ tể của nhân loại.

Những tên độc tài, diệt chủng giết người hàng loạt thường rất khôn khéo để lừa gạt người. Khi chưa nắm được trọn vẹn quyền hành,chúng dùng những khẩu hiệu tốt đẹp để kêu gọi mọi người đi theo chúng, nào là vì tương lai của nhân loại, nào là vì lòng yêu nước, nào là vì tranh đấu cho giai cấp bị bóc lột, nào là để giải phóng dân tộc khỏi bọn xâm lược.

Nhưng sau một thời gian, bản chất thực sự của chúng hiện nguyên hình, thật ngỡ ngàng cho quần chúng, những tên độc tài máu lạnh giết hàng triệu, mấy chục triệu người không còn quan tâm tới những khẩu hiệu chúng đã đưa ra.

Động cơ chính của chúng là được thống trị, là quyền lực, quyền lợi và hưởng thụ, khi con người cuồng quyền lực thì cũng chính là lúc ác tính được đẩy lên tới cùng cực nhất, lúc này thì không có gì là không thể thực hiện, nhân tính không còn, còn tệ hơn thú tính nên chúng được xếp vào hàng Quỉ vị, nếu không biết ăn năn hối cải thì đời đời bị đọa, chờ ngày hồn của chúng bị tiêu diệt mà thôi.

 

G. Vì sao Kim Quang Sứ còn gọi là Kim Quang Đại Tiên ?

Thật ra, Kim Quang Sứ, Satan hay Quỉ vương cũng từ nguơn linh của Đức Chí Tôn mà xuất hiện ra, nhưng vì phản phúc, tự tôn tự đại và ác hành mà bị đọa sa vào Quỉ vị.

Tài phép của Kim Quang Sứ cao cường lắm, chỉ kém hơn chút ít quyền năng của các Đấng Tiên, Phật mà thôi, Đức Chí Tôn có Tam thập lục Thiên thì Quỉ vương cũng lập thành Tam thập lục Động, rồi nó biến Tam thập lục Động giả làm Tam thập lục Thiên để dối gạt người tu, các danh hiệu Thần, Thánh, Tiên, Phật, cả đến danh hiệu của Đức Chí Tôn, Quỉ vương đều mạo nhận hết, duy chỉ có cái ngai của Đức Chí Tôn là nó không dám lên ngồi mà thôi.

Sở dĩ Quỉ vương được như thế là vì Đức Chí Tôn ban cho cái quyền to tát ấy để họ làm Giám khảo, khảo duợt và thử thách tất cả Chơn linh đang đi trên con đường tu hành tiến hóa, để chấm thi đậu rớt, như vậy người thi đậu mới vẻ vang, xứng đáng được ban thưởng cho các phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, còn nếu rớt thì phải tái kiếp luân hồi, học lại các bài học ấy, tới chừng nào thi đậu mới thôi.

Quỉ vương thuộc khối ác trược, còn Tiên Phật thuộc khối thiện thanh, cả hai khối đối nghịch nhau, cũng như Âm với Dương, một bên có khuynh hướng trì xuống, một bên có khuynh hướng kéo lên, cả hai bên tạo thành hai lực đối kháng rất cần thiết để thúc đẩy sự tiến hóa của Càn Khôn Vũ Trụ.

Hai khối đó sẽ hiện hữu mãi mãi với Định luật Tiến hóa của Càn Khôn, vì nếu một trong hai khối mất đi, sự cân bằng lực không còn nữa thì Luật Tiến hóa không thể hoạt động được, cuộc thi để đoạt phẩm vị phải có lực ở hai đầu cân thì mới đúng Luật công bình của Trời Đất.

Đức Chí Tôn đã giảng rõ: phải tự mình thắp đuốc lên mà đi, phải vượt qua thử thách chứ Ngài không bồng ẩm ai lên tòa sen được.

 

7. Đức Lý Ngưng Dương (Lý Minh Vương)

Thiết Quải Lý (拐李铁) Wade-Giles: T'ieh-kuai Li, Li Tieguai, Tieguai Li (lit. "Iron Crutch Li"), thường được gọi Lý Thiết Quài, là một trong số 8 vị Tiên (Bát Tiên) của Đạo giáo. Ngài họ Lý, tên Huyền, hiệu Ngưng Dương, nên thường gọi là Lý Ngưng Dương, diện mạo khôi ngô, tánh nghiêm trang, trong sạch, học rộng biết nhiều, không mộ công danh, muốn đi tu Tiên. Biết được Lý Lão Tử đang dạy Ðạo trên núi Hoa Sơn, Lý Ngưng Dương liền tìm đến đó để xin học Ðạo. Ði dọc đường, ông ngâm thơ rằng:

Tâm tánh con người có thấp cao,
Khen lò Tạo Hóa đúc anh hào.
Làm trai biết thấu vòng vinh nhục,
Ðặng chữ thanh nhàn khỏi chữ lao.

Khi đến núi Họa sơn thì Trời đã tối. Lý Ngưng Dương tự nhủ: Mình là đệ tử đi cầu thầy học Ðạo, lẽ nào ban đêm dám gõ cửa. Chi bằng ngủ đỡ trên bàn thạch trước cửa động, chờ Trời sáng sẽ xin vào ra mắt.

Ở trong động, Ðức Lão Tử đang đàm đạo với Huyễn Khưu Chơn Nhơn, xảy có cơn gió thanh, Ðức Lão Tử hỏi:

– Ông có biết gió ấy là điềm chi chăng?

– Chắc có người gần thành Tiên đi tới.

– Ta đã rõ Lý Ngưng Dương gần thành Tiên và là Tiên đứng đầu sổ hết thảy.

Nói rồi, Ðức Lão Tử truyền Tiên đồng ra mở cửa động mà đón. Xảy thấy một Ðạo sĩ đang đứng trước động, liền hỏi:

– Có phải Lý Ngưng Dương đó không?

– Sao Tiên đồng lại biết tên tôi?

– Tôi vâng lịnh Lão Quân ra cửa đón anh.

Lý Ngưng Dương vô cùng mừng rỡ, chắc là mình có phước lớn nên mới được Lão Quân biết đến, liền đi theo Tiên đồng vào ra mắt, thấy Lão Quân có hào quang sáng lòa, dung nhan tươi nhuận, râu tóc bạc phơ và Huyễn Khưu Chơn Nhơn cũng vậy, Lý liền quì lạy ra mắt Lão Quân và Huyễn Khưu, hai vị đáp lễ rồi mời ngồi.

Lý Ngưng Dương quì thưa rằng: - Ðệ tử tầm sư học Ðạo, lẽ nào dám ngồi, xin Thầy dạy bảo.

Lão Tử bảo: - Ngươi ngồi xuống rồi ta nói cho nghe:

Học Ðạo cho minh,
Lẳng lặng làm thinh,
Ðừng lo đừng ráng,
Cho tịnh cho thanh,
Chẳng nên nhọc sức,
Chớ khá tổn Tinh,
Giữ đặng tánh tình,
Là thuốc trường sanh.

Lý Ngưng Dương mừng rỡ lạy tạ Lão Quân.

Huyễn Khưu nói: - Ngươi có tên trong Sổ Tiên, đứng đầu hết thảy, về tu như vậy thì thành.

Nói rồi truyền Tiên đồng đưa Lý Ngưng Dương ra khỏi động, xuống núi. Lý Ngưng Dương lạy tạ rồi theo Tiên đồng rời khỏi động, trở về quê, lên núi cất nhà bên động đá, tu theo lời Ðức Lão Tử dạy, cứ tu luyện hoài như vậy, chẳng bao lâu cảm thấy nhẹ mình, bước đi như gió.

Một người dân quê tên là Dương Tử lên núi thấy vậy cũng phát tâm mộ đạo, xin Lý Ngưng Dương thâu làm đệ tử, ở lại tu hành.

Ngày kia, Lý Ngưng Dương thấy hào quang chiếu vào cửa sổ, thì biết có Thần Tiên giáng hạ, rồi mau sửa soạn lên núi đón tiếp, xảy nghe tiếng hạc, ngó lên thấy Ðức Lão Tử và Huyễn Khưu Chơn Nhơn cỡi hạc đáp xuống, Lý Ngưng Dương lạy chào mừng rỡ.

Ðức Lão Tử nói: – Bữa nay tinh thần hơn trước, ta nhắm ngươi xuất hồn đặng, vậy 10 ngày nữa, ngươi xuất hồn đi dạo các nước với ta.

Nói rồi liền từ giã, và hai vị cỡi hạc bay trở về núi.

Cách 9 ngày sau, Lý Ngưng Dương kêu học trò là Dương Tử đến dặn rằng:

- Thầy sẽ xuất hồn đi thiếp bảy ngày ngươi phải gìn giữ xác ta cẩn thận, nếu sau bảy ngày mà ta không trở về thì hãy thiêu xác.

Dặn dò xong, Lý Ngưng Dương nằm thiếp xuất hồn đi.

Khi Dương Tử giữ xác thầy được 6 ngày thì người nhà đến báo tin rằng:

- Mẹ anh bịnh nặng, đang hấp hối, trông anh mau về cho mẹ thấy mặt mà tắt hơi.

Dương Tử khóc lớn than rằng: - Thầy đi thiếp chưa về, nếu ta đi, lấy ai giữ xác thầy, bằng không đi thì làm sao thấy mặt mẹ, ôi khổ biết chừng nào!

Người nhà liền hỏi rõ Dương Tử về sự đi thiếp của thầy, rồi nói: “Xác người chết đã 6 ngày, ngũ tạng thảy đều hư hết, lẽ nào sống lại bao giờ. Vả lại, thầy có dặn 7 ngày thì thiêu xác, chắc thầy đã thành Tiên, nay 6 ngày mà thiêu xác thầy cũng không lỗi, mau thiêu xác thầy rồi về gặp mặt mẹ.”

Dương Tử bần dùng không nỡ, nhưng túng thế cũng phải nghe lời, liền đặt nhang đèn, hoa quả tế thầy, rồi thiêu xác, vừa khóc vừa đọc bài kệ sau đây:

Mẹ bịnh ngặt hầu kề,
Thầy đi thiếp chưa về,
Mẫu thân tình một thuở,
Sư phụ nghĩa nhiều bề,
Vẹn thảo nên quyền biến,
Lỗi nghì luống ủ ê,
Hồn linh xin chứng chiếu,
Khoái lạc chốn non huê.

Thiêu xác thầy xong, Dương Tử liền gấp rút chạy về nhà, vừa đến cửa nhà thì mẹ vừa tắt thở. Rủi ơi là rủi! Lỗi hết hai đàng, đã bất nghĩa với thầy, lại không tròn hiếu sự.

Nhắc lại, Lý Ngưng Dương, hồn xuất về chầu Ðức Lão Tử, được thầy dẫn đi khắp các nước trên cõi thiêng liêng, đến núi Bồng Lai, gặp các Thánh Tiên, ra mắt đủ mặt, đến bảy ngày thì xin về.

Ðức Lão Tử cười nói rằng: - Hãy nghe bài kệ nầy thì rõ:

Tịch cốc ăn lúa mì,
Ðường quen xe phơi phới,
Muốn tìm cốt cách xưa,
Lại gặp mặt mày mới.

Lý Ngưng Dương nghe bài kệ của thầy thì ghi nhớ chớ không hiểu ngụ ý gì, nhưng cũng lạy thầy từ tạ ra về.

Khi hồn về tới nhà thì không thấy xác, không thấy học trò, coi lại thì xác đã ra tro bụi, Lý Ngưng Dương rất giận đứa học trò bất nghĩa nầy, hồn bay phưởng phất xuống chơn núi, gặp một thây ăn mày nằm dựa bên đường, kế bên cây gậy, có một chân cùi.

Lý Ngưng Dương nghĩ lại bài kệ của thầy cho, chợt hiểu, biết phận mình phải vậy chớ không nên oán trách học trò, liền nhập hồn vào xác ăn mày, rồi ngậm nước phun vào gậy tre hóa ra gậy sắt. Bởi cớ đó, người đời không biết họ tên ông ăn mày nầy, thấy cầm cây gậy sắt, nên gọi là Ông Thiết Quày, sau gọi trại ra là Thiết Quả.

Lý Thiết Quả

Sở dĩ Ðức Lão Tử không cho hồn Lý Ngưng Dương về kịp trước khi học trò thiêu xác là vì Ðức Lão Tử muốn Lý Ngưng Dương bỏ xác phàm cho tuyệt sự hồng trần mà về luôn nơi Tiên cảnh, còn xác ăn mày là mượn tạm để tu, chớ muốn biến hóa thế nào cũng được.

Thiết Quả đánh tay biết rõ các việc đã xảy ra với đứa học trò mình là Dương Tử, Thiết Quả liền đem linh dược đến cứu tử mẹ nó, kẻo đứa học trò tức tối ân hận cả đời tội nghiệp. Ðến nơi thấy Dương Tử đang ôm quan tài mẹ khóc, rồi rút gươm ra định tự vận. Thiết Quả kịp đến ngăn cản và nói:

– Ngươi có lòng thành nên Trời khiến ta đến đây đem linh dược cứu tử mẹ ngươi. Vậy ngươi mau giở nắp quan tài ra, cạy miệng mẹ ngươi ra mà đổ thuốc.

Nói rồi lấy ra một hoàn thuốc đưa cho Dương Tử. Dương Tử làm y lời, giây lát, bà mẹ hắt hơi lấy lại hơi thở, rồi ngồi dậy bước ra khỏi quan tài, xem có vẻ mạnh khỏe hơn trước, cả nhà vô cùng mừng rỡ, Dương Tử quì lạy Thiết Quả, thưa rằng:

– Cảm tạ Tiên ông, xin Tiên ông cho biết danh hiệu.

– Ta đây là Lý Ngưng Dương, Thầy của ngươi, bởi ngươi thiêu xác ta nên hồn ta phải nhập vào xác ăn mày nầy, biết rõ việc làm của ngươi, nên ta không chấp, lại đến cứu tử mẹ ngươi để ngươi nuôi mẹ phỉ tình, Ta tặng thêm cho ngươi một hoàn thuốc nữa để ngươi uống vào sống lâu nuôi mẹ, Thầy trò sẽ gặp lại sau nầy.

Dương Tử cúi đầu lạy tạ thầy, chưa kịp hỏi thăm thì Thiết Quả đã biến mất. Thiết Quả biến hóa về núi Họa sơn, hầu thầy. Ðức Lão Tử cười nói:

– Vậy mới chắc thành Tiên, không lo trở lại trần thế....

Vị tiên Lý Ngưng Dương đôi khi được miêu tả như là người dễ nóng giận và hay gắt gỏng, nhưng lại là người nhân từ đối với những người nghèo khó, ốm đau, bệnh tật, những người được ông giúp giảm nhẹ nỗi phiền muộn của mình bằng một loại thuốc đặc biệt lấy từ quả bầu của ông.

Ông đi lại với sự hỗ trợ của một chiếc nạng sắt, (thiết = sắt, quải = trượng, nạng) và thường đeo một quả bầu trên vai hay cầm trong tay. Ông thường sử dụng quyền năng của mình để giúp đỡ những người nghèo khó và bị áp bức.

Trong số tám vị Tiên, Ngài là một trong số những người nổi tiếng hơn cả, với chiếc nạng sắt và quả bầu. Người ta nói rằng "quả bầu có khói bốc ra từ đó, biểu thị cho khả năng tách rời linh hồn ra khỏi thể xác của vị Tiên này".

Vì từng học Đạo với Lão Tử nên ông là người thời Xuân Thu-Chiến Quốc (thế kỷ thứ 6 BC). Lý Thiết Quải, trong thời kỳ đầu rèn luyện theo đạo của mình đã sống trong hang, Lão Tử thử thách ông bằng một người phụ nữ đẹp mà Lão Tử tạo ra từ gỗ, nhưng ông đã cự tuyệt mọi cám dỗ trước người phụ nữ này và làm thất bại ý định thử thách của Lão Tử, sau đó Lão Tử đã nói với ông về ý định thử thách này và ban cho ông một viên thuốc nhỏ màu trắng. Sau khi nuốt viên thuốc này thì Lý Thiết Quải không còn cảm thấy đói hay ốm đau.

Lão Tử lại thử thách tiếp bằng tiền bạc. Một bọn cướp chôn giấu tiền trong vườn của Lý Thiết Quải mà không biết rằng ông đã nhìn thấy, Lão Tử cải trang và đến nói với ông rằng ông có thể lấy bất kỳ tiền bạc nào rơi vào tay mình. Sau khi Lý Thiết Quải từ chối, nói rằng ông không quan tâm tới tiền bạc cho dù ông nghèo khó cả đời, Lão Tử lại ban cho ông một viên thuốc khác, viên thuốc này cho ông khả năng đi lại như bay.

Ông thường đi ăn xin khắp nơi với hình dáng bần tiện, một ngày kia, tự nhiên ông ném chiếc thiết trượng lên trời, nó hóa thành một con rồng và ông cưỡi rồng thăng thiên.

 

8. Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung

ĐỨC Lý Ngưng Dương, đứng đầu Bát Tiên là nguyên căn của Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung. Ngài Lê Văn Trung là một trong 12 môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn, đã có đại công khai mở, xây dựng và truyền bá Đạo Cao Đài.

Khi còn ở ngoài đời, Ngài là một nhân vật chánh trị nổi tiếng binh vực quyền lợi của dân chúng, làm đến chức Nghị Viên Hội Đồng Thượng Nghị Viện Đông Dương.

Năm 1911, Ngài Lê Văn Trung đề xuất một việc làm rất mới mẻ tại Sài Gòn, nơi đang chịu sự thống trị nặng nề của Pháp, là việc xây dựng một Nữ Học Đường để giáo dục con gái, thực hiện Nam Nữ bình quyền.

Chánh phủ Pháp ngoài mặt không dám phản đối, nhưng không ủng hộ việc mở mang dân trí nầy, ngài Lê Văn Trung đi vận động với bà Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương và một số trí thức ủng hộ, quyên góp tiền bạc, xây dựng được một ngôi trường Nữ đầu tiên tại Sài Gòn, gọi là Collège des Jeunes filles, về sau đặt tên là Trường Nữ Trung Học Gia Long, nay đổi tên là trường NGUYỄN THỊ MINH KHAI, Quận ba, TPHCM. Trường có tấm bia kỷ niệm ghi tên hai vị sáng lập là bà Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương và Hội Đồng Quản Hạt Lê Văn Trung.

Ngày 18-5-1912, Ngài Lê Văn Trung được Chánh phủ Pháp thưởng cho Bắc Đẩu Bội Tinh Đệ Ngũ Đẳng (Chevalier de la Légion d'Honneur).

Theo tài liệu của Ban Đạo Sử:

- Ngày 23-11-Ất Sửu (dl 7-1-1926), Đức Cao Đài Thượng Đế dạy quí ông Cao Quỳnh CưPhạm Công Tắc đem Đại Ngọc cơ đến nhà ông Lê Văn Trung ở Chợ Lớn cho Đức Chí Tôn dạy việc, quí ông ngần ngại nhưng không dám cải lịnh.

Khi đến nhà ông Trung, quí ông trình bày tự sự, ông Trung vui vẻ chấp thuận và cùng nhau thiết lập đàn cơ, trong lúc chuẩn bị cầu cơ, nhiều phép lạ hiện ra. Trong đàn cơ nầy, Đức Thượng Đế dạy ông Trung phải hiệp với hai ông Cư và Tắc lo việc mở Đạo.

Đức Chí Tôn Thượng Đế dạy: "Trung! Nhứt tâm nghe con. Sống cũng nơi Thầy, thành cũng nơi Thầy mà đọa cũng nơi Thầy. Con lấy sự sáng (mắt) của con mà suy lấy."

Một Trời một Đất một nhà riêng,
Dạy dỗ nhơn sanh đặng dạ hiền.
Cầm mối Thiên thơ lo cứu chúng,
Đạo người vẹn vẻ mới thành TIÊN."

Từ đây, ông Trung được Đức Chí Tôn thâu làm môn đệ. Ông vâng Thánh ý, thu xếp việc nhà, một dạ xả thân hành đạo.

- Đêm 12-3-Bính Dần (dl 23-4-1926), Đức Chí Tôn sắp đặt cuộc Thiên phong tại nhà Ngài Lê Văn Trung ở Chợ Lớn, ân phong cho Ngài là Thượng Đầu Sư, thánh danh Thượng Trung Nhựt, cùng một lượt với Ngài Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt.

- Ngày 23-8-Bính Dần (dl 29-9-1926), Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, vâng theo Thánh ý của Đức Chí Tôn, hiệp cùng chư Chức sắc Thiên phong và chư Đạo hữu, tổng cộng 247 người, họp tại nhà ông Nguyễn Văn Tường ở đường Galiéni, nay là đường Trần Hưng Đạo, quận 1 Sài Gòn, để thảo ra TỜ KHAI ĐẠO, gởi lên Chánh phủ Pháp, TỜ KHAI ĐẠO nầy được dâng lên Đức Chí Tôn xem xét trước.

- Ngày 1-9-Bính Dần (dl 7-10-1926), Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt đích thân đem TỜ KHAI ĐẠO đến gởi cho quan Thống Đốc Nam Kỳ Le Fol, được ông vui vẻ tiếp nhận.

- Ngày 15-10-Bính Dần (dl 19-11-1926), ngày rằm Hạ nguơn năm Bính Dần, Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt hiệp cùng Đức Hộ Pháp và chư Chức sắc Đại Thiên phong, vâng lịnh Đức Chí Tôn mượn chùa Từ Lâm Tự ở Gò Kén Tây Ninh làm Thánh Thất tạm để tổ chức Đại lễ Khai Đạo Cao Đài, có đủ các quan chức các cấp của Chánh quyền thời đó và đại diện các tôn giáo khác đến dự.

Ngày 11-3-Bính Dần (dl 22-4-1926), Đức Chí Tôn phong Ngài Lê Văn Trung vào phẩm Đầu Sư phái Thượng, Thánh danh là Thượng Trung Nhựt.

Ngày 3-10-Canh Ngọ (dl 22-11-1930), Đức Lý Giáo Tông giáng cơ hiệp với Đức Phạm Hộ Pháp ra Đạo Nghị Định thứ hai, ban quyền Giáo Tông hữu hình tại thế cho Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, còn quyền Giáo Tông thiêng liêng vẫn do Đức Lý nắm giữ. Kể từ ngày đó, Hội Thánh gọi Ngài là Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung.

Như vậy, chúng ta thấy trong Đạo Cao Đài, quyền hành của Đức Giáo TôngĐức Hộ Pháp có hai phần: phần hữu hình và phần vô hình. Khi Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung qui Thiên, Đức Lý đem nửa quyền hành Giáo Tông hữu hình ấy giao cho Đức Hộ Pháp, nên Đức Phạm Hộ Pháp lúc đó là Chưởng quản Nhị Hữu Hình Đài: Hiệp Thiên và Cửu Trùng.

Để ghi nhớ công nghiệp lớn lao của Ngài, ngôi trường Trung Học do Hội Thánh lập ra ở gần Cửa số 7 ngoại ô được đặt tên là Trường Trung Học Lê Văn Trung và con đường cặp hông Giáo Tông Đường trong Nội Ô Tòa Thánh được Hội Thánh đặt tên là đường Thượng Trung Nhựt.

Ngày 13-10-Giáp Tuất (dl 19-11-1934), Đức Quyền Giáo Tông lâm bịnh và nhẹ nhàng thoát xác qui Thiên tại Giáo Tông Đường, lúc 3 giờ chiều, hưởng thọ 59 tuổi.

Nếu kể từ ngày Khai Đạo tại Thánh Thất Từ Lâm Tự Gò Kén 15-10-Bính Dần (dl 19-11-1926) cho đến ngày Đức Quyền Giáo Tông qui Thiên 13-10-Giáp Tuất (dl 19-11-1934) thì đúng 8 năm tròn. Nếu tính từ ngày Đức Chí Tôn thâu nhận Ngài làm môn đệ 23-11-Ất Sửu (dl 7-1-1926), thì Đức Ngài hành đạo được 9 năm.

Đức Phạm Hộ Pháp lấy bài thi sau đây của Đức Quyền Giáo Tông làm bài thài hiến lễ Đức Ngài:

Càn khôn quen thú phước Linh Tiêu,
Thấy khổ trần gian nghịch Thánh điều.
Mượn xác phàm riêu cây Phất Chủ,
Nương cơ tạo xủ phướn Tiêu Diêu.
Bầu linh khổ hải đưa thiêu cạn,
Gậy sắt nhơn sanh chống dắt dìu.
Muôn dặm cửa Tiên chờ bước tục,
Cỡi lau trở gót ruột trăm chiều.

Ngày 27-1-1926, Đức Lý Thái Bạch giáng cơ cho Đức Quyền Giáo Tông bốn câu thi:

Có công phải biết gắng nên công,
Tu tánh đã xong tới luyện lòng.
Kinh sách đầy đầu chưa thoát tục,
Đơn tâm khó định lấy chi mong.

Đêm mùng 10 tháng 10 Canh Dần
(dl 19-11-1950).

QUYỀN GIÁO TÔNG

Mừng các em,

Mỗi năm đến kỳ Lễ Hạ Nguơn, kỷ niệm Khai Đạo, thì các em không quên ngày Thánh đán của anh, và mỗi em đều để tâm lo lắng, nhứt là Hộ Pháp cư xử trọn nghĩa đệ huynh, đến như thi hài của anh đối về phần Đạo thì cũng chẳng trọng hệ chi, nhưng đó là một phần trong Thánh Thể của Chí Tôn, các em lo cho anh được châu toàn, anh có lời cảm ơn trước là Hộ Pháp, sau là tất cả các em.

Một điều anh ước mong sao hành trình của mỗi em làm thế nào cho đoàn hậu tấn để tâm kính mến lo cho các em, cũng như các em lo cho anh từ thử. Còn cơ Đạo của Chí Tôn, bước qua năm 26 sẽ phát triển lên cao thượng một cách phi thường, làm cho dân tộc VN đều ngạc nhiên và chủ tâm hưởng ứng. Nền Đạo cao lên bao nhiêu thì danh thể của các em tăng tiến lên trọng yếu, và trách nhậm phải thế nào? Các em cần lo trau giồi cho đáng giá, để làm gương mẫu hướng dẫn quần chúng noi bước theo con đường đạo đức và lập quốc buổi tương lai đã đến đây.

Trong phương diện hành đạo, có 3 điều nên chú ý như sau nầy, các em khá nhớ:

- Một là Quyền.
- Hai là Luật,
- Ba là Pháp, đều của Đức Chí Tôn vậy.

· QUYỀN là giáo hóa, dìu dẫn chúng sanh vào khuôn linh của Đạo.
· LUẬT là thương yêu, rộng dung, tha thứ cho kẻ lỗi biết ăn năn.
· PHÁP là giữ công bình chánh trực.

Nếu có kẻ không nghe lời giáo hóa, cố tâm phạm luật, thì người cầm quyền cai trị lấy Thánh đức mà định hình phạt là cốt yếu cạo gọt cho nên hình người, chớ không phải kẻ cầm quyền mà để phạm vào tội ác bất nhơn, bởi Đạo quyền là Thánh trị, chớ không phải Phàm trị, các em nên nhớ. Còn Cơ đời sẽ biến chuyển cho đến ngày liễu kết cuộc chiến tranh hầu có lập lại đời Thánh đức; Đạo và Đời, Quốc và Cộng như sau nầy:

Lưỡi liềm chi dễ sánh Kim câu,
Gây sự bởi ai tạo buổi đầu?
Đông hải mênh mông còn phải cạn,
Tây hồ chật hẹp độ bao sâu?
Tài ba Động Bích bao nhiêu sức,
Quyền phép Côn Lôn sẵn mấy bầu.
Quyết đoán cuộc cờ, ai thắng bại,
Chỉn xem Tiên Phật hướng về đâu?

 

9. Vì sao hào quang đen như lọ nồi?

Hào quang của người thiện, biết tu hành nên màu sắc tươi tắn

Hào quang (aureola, aura) là ánh sáng phát ra từ Chơn Thần của những bậc tu hành đắc đạo, hào quang của các Đấng Tiên, Phật thì rực rỡ, chói lọi, hào quang nầy có thể truyền đi rất xa trong không gian và có thể thâu phát tùy theo ý muốn.

Mỗi người phàm chúng ta cũng đều có Hào quang phát ra từ Chơn Thần của chúng ta, nhưng hào quang nầy yếu ớt không rực rỡ mà lại có màu sắc tùy theo sự thanh trược của Chơn Thần. Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ dạy trong Luật Tam Thể như sau:

"Nói về đệ Nhị xác thân (Chơn Thần), Chơn khí là sự tiết khí của Chơn tinh, hoặc trong sạch, hoặc ô trược, mà đổi nên hình sắc, như Chơn khí toàn trong trắng, chí Thánh thì nó là một Hào quang sáng chói, còn chưa được Thánh chất thì nó có màu hồng, còn như ô trược thì nó lại có màu tím, những hào quang ấy bao phủ lấy thể xác đặng tiếp điển cùng Chơn linhChơn Thần, chơn khí ấy có một ánh sáng riêng của nó gọi là Hào quang."

Nhờ Hào quang biến đổi hình sắc mà nơi cõi Hư linh thấu triệt hành tàng tâm ý của mỗi người, những màu sắc của hào quang là một chỉ số tốt về sức khỏe và tâm linh của một người. Aura có nhiều màu và thay đổi màu sắc tùy theo tâm trạng, cảm xúc và trình độ tâm linh. Hào quang phản ánh sức khỏe, hoạt động tinh thần và tình cảm của chúng ta.

Vì thế, hào quang mà đen như lọ nồi cho biết Chơn Thần của vị đó đứng đầu khối ác trược. Hào quang của người thiện, biết tu hành nên màu sắc tươi tắn.

 

10. Ngủ đi rồi thức dậy thấy cũng còn đánh, ngồi lâu lắm gục xuống ngủ nữa, làm ba lần như vậy, tới chừng lần thứ ba tỉnh lại thấy mặt trận đầy Càn-Khôn Vũ-Trụ.

Sở dĩ lâu như vậy vì cuộc chiến đã bắt đầu từ khi loài thú tiến lên thành người. Chính thú tánh còn lưu giữ như hung ác, giành giựt, tham lam, giết người không gớm tay .. . đã đưa các linh hồn đó vào hàng Quỉ vị mà lãnh đạo là Quỉ vương. Xin nhắc lại, Nhơn loại được chia ra làm ba hạng người theo nguồn gốc của linh hồn: Nguyên nhơn, Hóa nhơn và Quỉ nhơn.

1. Nguyên nhơn: Nguyên nhơn là người mà Chơn linh được Đức Chí Tôn sanh ra từ lúc Khai Thiên, tức là lúc mới tạo dựng Trời Đất, những linh hồn nầy rất trong sạch vì chưa nhiễm bụi trần.

2. Hoá nhơn: Hóa nhơn là những người do sự tiến hóa của vật loại lên đến phẩm nhơn loại mà thành. Họ bắt đầu đi từ Kim Thạch, tiến hóa dần lên Thảo mộc, rồi lên Thú cầm, rồi sau rốt tiến hóa lên phẩm Người để thành Hóa nhân, khi đó hưởng được hồng ân của Đức Chí Tôn ban cho một điểm linh hồn để dự vào Trường thi công quả.

Phần lớn nhơn loại đều là Hóa nhân. Hóa nhân là do Thú cầm tiến hóa đi lên phẩm Người, nên còn rất khờ, và còn nhiều thú tánh. Nhờ Đức Chí Tôn ban cho một điểm linh hồn nên mới dần dần được khôn ngoan, từ từ tiến hóa, sau rất nhiều kiếp thì trở thành người hiền lành, đạo đức, khôn ngoan; và nếu giác ngộ tu hành thì đắc đạo, đạt được ngôi vị cao trọng nơi cõi thiêng liêng, khi đó, Hóa nhân cũng giống như Nguyên nhân, đều có phẩm vị, tòa sen.

Theo lời dạy của Bát Nương trong Luật Tam Thể thì các Nguyên nhân phạm Thiên điều sẽ bị đọa Tam Đồ bất năng thoát tục, còn Hóa nhơn phạm tội nặng thì bị đọa vào Quỉ vị.

3. Quỉ nhơn: Quỉ hồn là các linh hồn của Hóa nhơn phạm tội nặng bị đọa vào Quỉ vị. Các Quỉ hồn đều chịu dưới quyền của Quỉ vương sai khiến. Quỉ vương cho các Quỉ hồn đầu kiếp làm người đặng tạo thành các bài vở cho các Nguyên nhơn và Hóa nhơn học hỏi, đồng thời khảo đảo dữ dội để phân Thánh lọc Phàm.

Chú giải PHÁP CHÁNH TRUYỀN:

"Nhơn loại có: Hóa nhân, Quỉ nhânNguyên nhân, ấy là có phân đẳng cấp, nếu Thầy dùng huyền diệu thiêng liêng mà làm cho nhơn loại cả thảy đều thấy đặng cơ mầu nhiệm của Đạo, đồng đặng đắc kiếp thì phẩm vị thiêng liêng cũng không còn trật tự."

Trong chúng sanh có: Nguyên sanh, Hóa sanh, và Quỉ sanh. Nguyên sanh là gốc từ khai Thiên đã có. Hóa sanh là khai Thiên rồi mới biến hóa ra. Quỉ sanh là hai phẩm kia phạm Thiên điều bị sa đọa). Tỷ như Nguyên nhân, là khai Thiên rồi thì đã có Chơn linh ấy, còn Hóa nhân là Chơn linh vật loại đoạt đến phẩm vị nhơn loại, còn Quỉ nhân là hai Chơn linh kia xu hướng ác hành mà bị đọa đày vào Quỉ vị."

Vì sao “Ngủ đi rồi thức dậy thấy cũng còn đánh, ngồi lâu lắm gục xuống ngủ nữa, làm ba lần như vậy, tới chừng lần thứ ba tỉnh lại thấy mặt trận đầy Càn-Khôn Vũ-Trụ?".

Đây có phải Đức Ngài diễn tả ba kỳ phổ độ của Đức Thượng Đế dành cho loài người? Nhân loại hiện nay tuy rất tiến bộ về khoa học kỹ thuật nhưng sa sút đạo tâm. Phần lớn con người sống trong dục vọng, chỉ biết vật chất mà quên cả tâm hồn và tình thương ... nên khối ác trược dường như thắng thế, mặt trận đầy Càn-Khôn Vũ-Trụ.

Đức Lý Giáo Tông đã cảnh báo như sau:

*Ngày 13-10- Đinh Mùi (dl 14-11-1967)

LÝ THÁI BẠCH

Cơ Đạo ngày nay sắp đến ngày quyết liệt, cả thảy nam nữ phải để tâm cho lắm!

Cầu nguyện Thầy và các Đấng ban ơn cho mới giữ vững đức tin trong kỳ đại khảo nầy.

Chư Đạo hữu phải giữ trai giới cho được từ 10 ngày đổ lên, y theo Tân Luật thì mới sống sót. Trận đại họa nầy không riêng cho Thánh Địa Đại Nam Việt Quốc mà chung cho cả địa cầu. Thảm, Thảm, Thảm!

Hạ nguơn là nguơn mạt kiếp, nguơn điêu tàn, phải hiểu lý Đạo ẩn tàng trong hai chữ: HẠ NGƯƠN. Hạ là dưới thấp, sau cùng, chữ Hạ gồm ý nghĩa: tệ, suy, tàn, hoại, là diệt đó. Hạ Nguơn là nguơn tiêu diệt. Vậy chư Đạo hữu cố tâm tìm hiểu những lời dạy dỗ tiên tri của Thầy và Lão cùng các Đấng đã giáng dạy từ ngày khai Đạo đến giờ, những lời tiên tri đó ngày giờ tới sẽ ứng hiện từ từ, nạn tiêu diệt đã tới ...Họa ...Thảm!

Cả thế giới ngày nay còn trong vòng mê mệt, bả vinh hoa phù phiếm, trong Đạo trở lại chuộng hư danh, lấy thế sự làm cứu cánh nên mới bày ra trò mị sanh chúng, ôi!

Tu thành không là nhờ tâm Đạo. Chơn tâm, chơn tánh do Thầy ban cho không lo trau luyện, lại ham lợi chác quyền, mến phẩm tước đến đỗi làm nhẹ thể Thánh danh Thầy. Nạn cân đai áo mão! Đời cũng như Đạo đang là trường mộng ảo gạt người xa lần cội phước. Thầy hằng thương con dại nên mới mở Đạo Kỳ Ba nầy mà cứu vớt chúng sanh. Hại Thay! Thảm thay! Đám sanh linh vẫn ngơ ngơ ngạnh ngạnh, dám đem tên tuổi Đạo Thầy mà đổi chác lợi quyền. Họa...Họa...Thảm...Thảm...

Ôi! Lão vì lòng từ bi giáng dạy khuyên răn đủ lẽ, mà chúng sanh vẫn còn mê muội, theo Đạo chẳng tầm lý Đạo, lại chuộng hư danh, nền Đạo Thầy mới ra nông nỗi.

Ngày giờ nhặt thúc, buổi Hạ Nguơn cận kề cái chết, tâm thần mê mệt thì làm sao khai khiếu linh quang được mà mong sống sót. Ôi! Đời Đạo phải chịu nạn tai! Khổ! Khổ!

Nhơn sanh nào hay biết, cả một đám lố nhố lao nhao, ham vui thích lạ, nào đâu hay họa sầu đeo đẳng bên lưng, bước Đạo đã ngập ngừng, cánh hồng toan trở bước. Đại khảo! Đại khảo!...

 

11. Người ngồi dưới và người ngồi trên biết hiểu như một người vậy

Đệ Nhị xác thân (Chơn Thần) giống như đệ nhứt xác thân (xác vật lý) nhưng ở thể thanh nhẹ, vô hình dưới mắt người chưa mở được Huệ nhãn. Chính ở thể thanh này mới có thể về cõi Thiêng liêng hằng sống trình diện với các Đấng.

Một cách tổng quát, con người thật sự có ba thể: xác phàm, Chơn Thần, Chơn linh.

Chơn linh là linh hồn, là điểm linh quang do Ðức Chí Tôn chiết ra từ khối Ðại Linh quang của Ngài, ban cho mỗi người làm linh hồn để tạo nên sự sống và làm chủ xác thân.

Chơn Thần là xác thân thiêng liêng của mỗi người, do Ðức Phật Mẫu dùng nguyên khí nơi Diêu Trì Cung để tạo thành: "Nơi Ao Diêu Trì có một đài phát hiện Âm quang. Ðài ấy thâu lằn Sanh quang của ngôi Thái Cực, rồi đem Dương quang hiệp với Âm quang mà tạo nên Chơn Thần cho Vạn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ."

Lằn Sanh quang của ngôi Thái Cực là điểm Linh quang của Ðức Chí Tôn ban cho. Ðức Phật Mẫu thâu điểm Linh quang nầy làm linh hồn, rồi dùng Âm quang phối hợp Dương quang để tạo Chơn Thần (tức là xác thân thiêng liêng) bao bọc điểm Linh quang ấy, tạo thành một con người nơi cõi thiêng liêng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Ðức Chí Tôn giảng dạy về Chơn linhChơn Thần như sau đây:

1. Chơn linh:

“Thầy đã nói, nơi thân phàm của các con, mỗi đứa Thầy đều có cho một Chơn linh theo gìn giữ chơn mạng sanh tồn. Thầy tưởng không cần nói các con cũng hiểu rằng: Chơn linh ấy vốn vô tư, mà lại đặng phép giao thông cùng cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật và các Ðấng Trọn lành nơi Ngọc Hư Cung, nhứt nhứt việc lành việc dữ đều ghi chép không sai, đặng dâng vào Tòa Phán Xét. Bởi vậy, một mảy không sai, dữ lành đều có trả. Lại nữa, Chơn linh ấy có tánh Thánh nơi mình, chẳng phải gìn giữ các con mà còn dạy dỗ nữa, thường nghe đời gọi lộn "Lương tâm" là đó. (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển)

2. Chơn Thần:

Đệ Nhị xác thân (Chơn Thần)

Chơn Thần là gì? là Nhị xác thân, là xác thân thiêng liêng. Khi còn ở nơi xác phàm thì khó xuất riêng ra đặng, bị xác phàm kéo níu. Cái Chơn Thần ấy của các Thánh, Tiên, Phật là huyền diệu vô cùng, bất tiêu bất diệt. Bậc chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc đạo có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du Thiên ngoại, cái Chơn Thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy. (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển)

Thầy cắt nghĩa: Mỗi kẻ phàm dưới thế nầy đều có hai xác thân: Một phàm gọi là corporel, còn một thiêng liêng gọi là spirituel. Mà cái thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng, mà cũng có thể không thấy đặng.

Cái xác vô hình huyền diệu thiêng liêng ấy do nơi Tinh, Khí, Thần mà luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí. Khi nơi xác phàm xuất ra thì lấy hình ảnh của xác phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc đạo mà có Tinh, Khí, không có Thần thì không thế nhập mà hằng sống đặng. Còn có Thần mà không có Tinh, Khí thì khó huờn đặng Nhị xác thân, vậy ba món báu ấy phải hiệp mới đặng. Nó vẫn là chất tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong khí Tiên Thiên thì hằng có điển quang. Cái Chơn Thần ấy buộc phải tinh tấn, trong sạch mới nhẹ nhàng hơn không khí, ra khỏi ngoài Càn khôn đặng.

Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng. Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn Thần tinh khiết. (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển)

Cửa xuất nhập của Chơn Thần đối với thể xác là NÊ HOÀN CUNG, tức là nơi mỏ ác. Chơn Thần ẩn trong xác phàm, và có hình ảnh giống hệt xác thân phàm.

Chơn linh điều khiển Chơn Thần, Chơn Thần điều khiển xác phàm. Chơn linh không trực tiếp điều khiển xác phàm mà điều khiển xác phàm qua trung gian Chơn Thần.

Khi Chơn Thần xuất ra khỏi xác thì lấy theo hình ảnh của thể xác. Chơn linh ngự tại trái tim của xác phàm, gìn giữ nhịp đập của trái tim. Cho nên khi Chơn linh xuất khỏi thể xác thì trái tim ngưng đập: ta gọi là người chết.

Chơn linhChơn Thần nương theo xác thân phàm để tu hành, lập công quả và dự trường thi công quả do Ðức Chí Tôn lập ra trong ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ. Nếu không có xác phàm thì Chơn linhChơn Thần rất khó lập công quả.

Trung tâm của Chơn Thần ở tại não bộ (óc) để từ đó điều khiển toàn thể xác thân phàm.

 

12. Đại phục của Hộ Pháp - Giáng-Ma-Xử - Cây Kim-Tiên

Pháp Chánh Truyền Chú Giải: ÐẠO PHỤC CỦA HỘ PHÁP

Chú Giải: Đạo Phục của Hộ Pháp có hai bộ, một bộ Đại Phục và một bộ Tiểu Phục.

Bộ Đại Phục, người phải mặc giáp, đầu đội Kim Khôi toàn bằng Vàng, trên Kim Khôi có thể Tam Sơn, giống như cái chỉa ba ngạnh, chủ nghĩa là Chưởng Quản Tam Thiên bên Tây Phương Cực Lạc.

Chơn đi hia, trên chót mủi hia có chữ "PHÁP", ngoài giáp thì choàng mãng bào, thế nào bên tả phải giáp, bên hữu thì mãng.

Tay hữu (bên Đạo, nghĩa là bên Thượng Phẩm) cầm Giáng Ma Xử (thể, lấy Đời chế Đạo) còn tay tả (bên Thế, nghĩa là bên Thượng Sanh) nắm xâu chuỗi "Từ Bi" (thể, lấy Đạo chế Đời) thành ra nửa Đời nửa Đạo.

Ngang lưng cột dây lịnh sắc có ba màu Đạo (thể Chưởng Quản Tam Giáo nơi mình, nắm trọn Thể Pháp và Bí Pháp đặng qui nhứt), cái mối dây lịnh sắc phải ngay chính giữa bụng.

Quyền-hành của Hộ-Pháp đối với Tam châu Bát bộ ra sao?

“Trong Tứ đại Bộ châu ở cõi vô hình, ba châu: Đông thắng thần châu, Tây Ngưu hạ châu, Nam-thiệm bộ châu, đều thuộc về quyền-hạn của Hộ-Pháp; còn Bắc cù Lư châu để cho các phần chơn-hồn Quỉ vị họ định phận tại nơi đó. Họ có một quyền-năng vô định chẳng cần chỉ giáo, để đặc biệt một châu cho Quỉ vị ăn năn tu học đặng đoạt vị.

Ba bộ châu kia do quyền-hạn của Hộ-Pháp giáo-hóa, duy có Bắc cù lư châu Ngài không thường ngó tới lắm, để cho họ tự do làm gì thì làm: khôn nhờ dại chịu.

Đức Phạm Hộ Pháp có hai bửu bối: Giáng Ma XửKim Tiên.

Đức Phạm Hộ Pháp có hai bửu bối: Giáng Ma XửKim Tiên.

Giáng Ma Xử là bửu bối vô hình, Đức Phạm Hộ Pháp dùng để trấn Cực Lạc Thế Giới nơi cõi thiêng liêng. Giáng Ma Xử 降魔杵 cũng gọi là hàng ma xử (bởi vì chữ 降 đọc là giáng, còn đọc là hàng). Giáng ma, hàng ma: Khuất phục, chế ngự tà ma, yêu quái (to overcome devils).

Giáng Ma Xử là một bửu bối của Đức Hộ Pháp, dùng để trị tà ma yêu Quỉ, không cho chúng lộng hành phá khuấy, để bảo tồn nền Đại Đạo của Đức Chí Tôn.

Thời mới khai đạo, Đức Chí Tôn dạy Ngài Lê Văn Lịch viết ba chữ Nho Giáng Ma Xử 降魔杵 làm lá bùa trao cho ngài Phạm Công Tắc cầm trong tay, thay cho món bửu bối.

Do ân điển, quyền phép thiêng liêng ban bố, lá bùa hôm đó có đủ oai lực nhiệm mầu thay thế cho cây Giáng Ma Xử để chế ngự tà ma.

Kim Tiên là cây roi vàng. Theo truyền thuyết, Thái Sư Văn Trọng thời Phong Thần được đắc Thần vị, làm chức Cửu Thiên Cảm Ứng Lôi Thinh Phổ Hóa Thiên Tôn, cầm đầu Bộ Lôi Công.

Ngài có một cặp roi Kim Tiên, Ngài trao cho Đức Phạm Hộ Pháp một cây, Ngài còn giữ lại một cây. (Kim là vàng, Tiên là roi). Đức Phạm Hộ Pháp đem cây Kim Tiên nầy và cây Long Tu Phiến của Đức Cao Thượng Phẩm trấn pháp tại Trí Huệ Cung Thiên Hỷ Động. Đức Phạm Hộ Pháp giải thích:

Kim Tiên của Bần đạo hiệp với ba Vòng vô vi tức là Diệu quang Tam giáo hay là hình trạng của Càn Khôn Vũ Trụ, mà đó cũng là tượng ảnh Huệ Quang Khiếu của chúng ta đó vậy.

Kim Tiên là gì? là tượng hình ảnh của điển lực điều khiển Càn Khôn Vũ Trụ, mà chính nơi đó là điển lực, tức nhiên là sanh lực của vạn vật đó vậy, với nó mới có thể mở đệ bát khiếu, trong thân người có thất khiếu và còn một khiếu vô hình là Huệ Quang Khiếu, vì nó là điển lực nên nó mở khiếu ấy mới được.

Nói rõ, con người có ngũ quan hữu tướng và lục quan vô tướng, mà phải nhờ cây Kim Tiên ấy mới đủ quyền năng mở lục quan của mình đặng. Ấy là bí pháp trấn tại Thiên Hỷ Động, Trí Huệ Cung. Toàn thể ngó thấy không có gì hết mà trong đó huyền pháp vô biên vô giới, giải thoát đặng cùng chăng là do bao nhiêu đó mà thôi.”

chữ VẠN

Đức Phạm Hộ Pháp có thuật lại lúc Đức Ngài vâng lịnh Đức Chí Tôn qua mở cửa Cực-Lạc Thế-Giới bằng Giáng Ma Xử như sau:

"Khi tới cửa Cực Lạc Thế Giới môn ngoại (cửa phía ngoài), khi gần tới thấy có hai cái chong chóng. Hai cái chong chóng ấy quay tròn luôn. Nếu chúng ta lấy trí tưởng tượng, chong chóng quay thì mặt dưới lên tới mặt trên ít nữa cũng năm, mười ngàn thước (5000-10.000m), đặng ngăn Cực-Lạc Thế-Giới môn ngoại, như Vạn lý Trường thành, không một người nào qua lọt.

Hai cửa ấy, một cửa hóa hào quang trắng, một cửa hóa hào quang đỏ hồng hồng. Mới ngó thấy hai cửa ấy, Bần đạo không biết gì hết, tới chừng Bần đạo dùng cây Giáng Ma Xử trong thân, định thần chỉ ngay vào bảo ngừng thì nó liền ngừng lại, coi kỹ vòng tròn trắng ấy là chữ VẠN.

Bần đạo biểu ngừng thì mấy người ở Cực Lạc môn ngoại chạy ùa vào, chừng vô được một mớ, Bần đạo chỉ bên kia biểu ngừng, cũng chạy vô được một mớ nữa. Vô rồi, thấy một vị Phật đứng ở trên, hai tay bắt ấn liệng xuống chữ VẠN thì chữ VẠN quay nữa, thành thử họ vô được một mớ."...

chữ VẠN

***Chú thích hai chữ VẠN:

Chữ VẠN có rất nhiều ý nghĩa:

1. Chữ VẠN nói lên cội nguồn của Càn-Khôn Vũ-trụ, sự cấu thành Âm Dương, tứ tượng và Bát Quái, một nền minh triết diễn đạt qua Kinh Dịch.

2. Chữ VẠN là pháp môn luyện khí, là Thủy Hỏa Ký tế, theo lý âm dương thuận nghịch, thăng giáng.

3. Chữ VẠN chỉ rõ vạn vật đều chung sống trong luật mâu thuẫn mà hòa hợp, sai biệt mà bình đẳng, ức chế mà thôi thúc nhau trên đường tấn hóa. Nó là nguồn cội của vạn vật “Nhất bản tán vạn thù, vạn thù quy nhất bản”, nghĩa là từ bản thể phân tán ra muôn vàn hiện tượng, và từ muôn vàn hiện tượng đều trở về hiệp nhất với bản thể.

 

13. Cửu Thiên Cảm Ứng Lôi Âm Phổ Hóa Thiên Tôn tức Đức Thái sư Văn Trọng

Vương quốc Nhà Thương 1766–1122 TCN

Theo truyền thống lịch sử, nhà Thương tiếp nối sau triều đại có tính huyền thoại là nhà Hạ và trước nhà Chu. Triều đại này bắt đầu từ vua Thành Thang và kết thúc ở vua Trụ (1766 TCN-1122 TCN)

Văn minh đời Thương đã đạt mức cao của thời đại đồ đồng, nhưng nhà Thương thành lập trong hoàn cảnh nào, dân Trung Hoa từ văn minh nhà Hạ chuyển qua văn minh nhà Thương ra sao thì vẫn còn thiếu nhiều tài liệu.

Các bộ sử đời sau chỉ biết đại khái rằng: vua Thành Thang khi diệt vua Kiệt nhà Hạ, khai sáng nhà Thương, quy tụ được nhiều bộ lạc và đất đai nhà Thương gồm các tỉnh Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Bắc, Hà Nam ngày nay. Kinh đô của nhà Thương lúc đầu đóng ở đất Bạc nay thuộc huyện Thương Khâu, tỉnh Hà Nam của Trung Quốc.

Do việc trị thuỷ thời đó còn hạn chế, lũ lụt, thiên tai thường xuyên xảy ra, vì vậy phải thiên đô nhiều lần. Tới đời vua Bàn Canh (1401 - 1374 TCN), khoảng năm 1384 TCN nhà Thương đã chuyển kinh đô về đất Ân và từ đó ổn định ở nơi này. Vì vậy, nhà Thương còn được gọi là nhà Ân. Vua thứ 30 nhà Thương là Trụ Vương bạo ngược tàn ác, mất lòng nhân dân và các chư hầu.

Bộ tộc Chu ở sông Vị muốn nhân cơ hội nhà Thương suy yếu để tiêu diệt và thay thế từ nhiều năm. Trưởng tộc Chu là Tây Bá Cơ Xương chiêu tập lực lượng chống Thương, nhưng chưa kịp khởi sự thì qua đời. Con Cơ Xương là Cơ Phát lên ngôi đã tập hợp chư hầu đi đánh Trụ Vương.

Khoảng năm 1122 TCN, hai bên quyết chiến ở trận Mục Dã. Quân Trụ Vương tuy đông nhưng binh lính không có tinh thần chiến đấu cho bạo chúa nên nhanh chóng tan rã. Trụ Vương chạy lên Lộc Đài tự thiêu mà chết, nhà Thương diệt vong.

Thái Sư Văn Trọng

VĂN TRỌNG – Thái sư nhà Thương, người trung nghĩa, tài giỏi, học trò Kim Linh thánh Mẫu, bị Vân Trung Tử giết, được phong Cửu Nguyên Thiên Lôi, làm đầu Lôi bộ, cai trị 24 vị thiên quân xem gió, mưa, mây, chớp. Bửu bối: cặp roi trống, mái.

Ông là một nhân vật chủ chốt trong triều Trụ Vương, là Tể tướng kiêm giám sát triều chính, đây cũng là Văn Thái sư thường được nhắc đến trong các truyền thuyết dân gian. Ông không chỉ là nguyên lão của hai triều vua, mà còn có tài văn thao vũ lược, là người công minh chính trực, một lòng trung thành với nước.

Khi Trụ Vương tại vị được hai năm, chư hầu lớn nhỏ vùng Bắc Hải dấy binh nổi loạn, Văn Thái sư tuy tuổi tác đã cao, nhưng vẫn dẫn quân chinh phạt, coi tiêu diệt quân phản loạn là trách nhiệm của mình. Cũng vì Văn Thái sư triền miên chinh chiến bên ngoài, nên không thể đôn đốc được việc triều chính.

Trong thời gian Văn Thái sư vắng mặt, Trụ Vương đã đưa Đát Kỷ nhập cung, kế đến lần lượt hãm hại các trung thần, dựng cột đồng, đào hầm thả rắn, xây dựng Lộc Đài mời thần tiên dự tiệc...

Trước những hành vi bạo ngược, xa hoa của Trụ Vương, quần thần chỉ biết giương mắt nhìn, không còn ai dám can ngăn nửa lời. Bởi vậy, khi Văn Thái sư chiến thắng trở về, ông lập tức cực lực can gián, khống chế Trụ Vương, định ra rất nhiều quy củ, chuẩn tắc buộc Trụ Vương phải tuân thủ, nên đã tạo cho Trụ Vương khá nhiều áp lực, nhưng vì Văn Thái sư công lao to lớn, lại là thầy của vua, nên dưới sức ép của triều cương và đạo đức, Trụ Vương chỉ biết tuân theo hoặc tìm cách thương lượng.

Văn Thái sư oai phong lẫm liệt, trung thành, chính trực, một lòng chăm lo đôn đốc việc triều đình, không nản chí. Cũng vì sự uy phong và trung trực của ông, Đát Kỷ cũng không dám xâm phạm đến. Phí Trọng tuy trăm phương nghìn kê hãm hại trung thần, nhưng cũng không dám động đến ông. Tuy vậy, trong lòng Văn Thái sư vẫn có phần mềm yếu, dẫu Trụ Vương tàn bạo, bại hoại kỷ cương, nhưng ông vẫn nuôi hy vọng mà một lòng phò tá.

Khi Chu Vũ Vương Cơ Phát phong Khương Tử Nha làm Thừa tướng, tích thảo dồn lương, chuẩn bị kế hoạch diệt Trụ, chư hầu lớn nhỏ đều theo về với Vũ Vương, các tướng lĩnh có thể cầm quân ra trận trong triều cũng theo nhau tử trận. Đến khi Trụ Vương nhận thức được mức độ nghiêm trọng của vấn đề, thì tình thế đã không còn có thể cứu vãn.

Nhưng Thái Sư Văn Trọng vẫn một lòng vì nước mà quên cả chuyện sống chết của bản thân, hiên ngang cầm quân ra trận, liều mình quyết đấu với Khương Tử Nha. Chứng kiến tấm lòng trung liệt của Thái Sư Văn Trọng, Trụ Vương lúc này mới hối hận về những hành vi tàn sát trung lương của mình, nhưng bấy giờ đã quá muộn.

Sau khi giao chiên, Văn Thái sư không địch lại được sức tấn công mãnh liệt của quân Khương Tử Nha, thất bại liên tiếp. Lại thêm năm cửa ải đều lần lượt thất thủ, quân Vũ Vương tiến sát chân thành Triều Ca, Văn Thái sư biết rõ cục thế không thể vãn hồi, nhưng vẫn liều mình đối địch.

Trong trận chiến cuối cùng, ông bị hãm tại núi Tuyệt Long, không còn đường tiến thoái. Ông vẫn kiên cường không chịu đầu hàng, tự sát mà chết.

Từ đó về sau, quân Tây Kỳ và các lộ chư hầu tiến quân như chẻ tre, phá thành Triều Ca, lật đổ vương triều Ân Thương. Hồn phách của Văn Thái sư bay đến trước đài Phong Thần, do tấm lòng trung trinh, chính trực, kiên cường của ông xứng đáng đế làm gương cho người đời, nên được phong làm chủ quản sao Thiên Tướng, đại diện cho vị thần chưởng ân và quan lộc.

Dưới đây là trích đoạn trong truyện Phong Thần nói về tấm lòng trung nghĩa và cái chết của Thái Sư Văn Trọng:

“Nói về Thái Sư Văn Trọng thấy kỳ lân đứt làm hai đoạn, Tân Hoàn bể đầu chết, lòng buồn vô hạn than: Ta đem hai mươi vạn quân chinh Tây không ngờ thất cơ chỉ còn mấy chục nhơn mã, tướng sĩ đều chết hết, kỳ lân cũng không còn, chỉ còn một mình trơ trọi biết tính sao đây? Bởi Thiên tử lỗi đạo nên trời dứt vận Thành Thang, dân oán binh sầu, chư hầu chẳng phục. Ta tuy lấy lòng son đền nợ nước nhưng cũng không xong.

Sáng ngày, Văn Thái sư tìm những binh sĩ bị lạc, kết thành đoàn, đi nữa, ngặt vì lương đã hết, binh sĩ đều mỏi mệt đau ốm đói khát, nhiều người phải ngất xỉu ngoài đường. Văn Thái sư lần vào xóm đông nhà, sai lính đi xin nhờ một bữa. Khi đoàn quân thất thểu vào xóm thì gặp một ông già đứng chờ trước cửa, hỏi:

- Các cậu đến xóm tôi có việc gì cần gấp?

Quân nhơn đáp:

- Văn Thái sư đi chinh Tây, bị bại trận nên kéo vào đây lương thực hết phải vào làng xin ăn nhờ.

Ông già nghe nói động lòng, ra thỉnh Văn Thái sư vào nhà thết đãi và nói:

- Tiện dân không hay Thái Sư đến đây mà nghinh tiếp, xin Thái Sư miễn chấp.

Văn Thái sư tạ ơn, dùng một bữa cơm rau cùng quân sĩ rồi kiếm chỗ nghỉ ngơi.

Ðêm ấy Văn Thái sư không sao ngủ được nghĩ đến hoàn cảnh của mình. Biết Trụ vương là một hôn quân, thờ một hôn quân là bất hiếu, nhưng lúc thái bình hưởng lộc nước, đến lúc bất loạn bỏ vua là một điều Văn Trọng không thể làm, hơn nữa, Văn Trọng được Tiên vương phó thác cơ nghiệp mà không sửa chữa được hôn quân, thà chịu chết chớ không thể bỏ nước.

Sáng hôm sau Văn Thái sư từ giã ông lão và hỏi:- Ông tên họ chi xin cho biết để ngày sau đền đáp?

Ông lão nói:- Tôi họ Lý, tên Kiệt, vốn là kẻ quê mùa sống nơi đây đã lâu.

Văn Thái sư truyền quân lính ghi tên họ ông lão, rồi cùng nhau thẳng đến ải Thanh Long. Chẳng ngờ đường lạ không có người hướng dẫn nên lạc vào rừng, đang lúc bối rối, bỗng nghe có tiếng đốn củi của một tiều phu gần đó. Văn Trọng truyền quân đến hỏi thăm đường. Ông tiều thấy có quan quân đến chắp tay lạy nói:

- Chẳng hay các ông đến dậy tôi việc chi?

Quân nhơn nói:

- Không có việc gì cả, ông đừng sợ, chúng tôi là qua triều đình đi lạc đường, xin hỏi thăm lối về ải Thanh Long.

Ông tiều vừa chỉ tay vừa nói:

- Ði thẳng hướng Tây Nam độ mười lăm dặm, qua khối gò Bạch Hạc thì đến đường lớn, đường ấy là đường vào ải Thanh Long.

Quân về thưa lại, Văn Thái sư cứ theo lối chỉ của ông Tiều mà tiến bước. Ði được hai mươi dậm thì đến núi Tuyệt Long, đường sá gập ghềnh, non cao lổm chổm, nhìn lên sườn núi thấy Vân Trung Tử đang đứng nơi đó.

Văn Thái sư lấy làm lạ hỏi lớn: - Ðạo huynh đi đâu đó.

Vân Trung Tử nói: - Tôi vâng lệnh Nhiên Ðăng đợi anh đã lâu, nơi Tuyệt Long nầy là chổ tử địa, sao anh chưa chịu hàng đầu?

Văn Thái sư cười lớn nói: - Vân Trung Tử tưởng ta là con nít, nên khi dễ như vậy, ngươi có phép gì trị ta nổi sao?

Vân Trung Tử hỏi: - Ngươi dám lại gần ta chăng?

Văn Thái sư liền bước tới, Vân Trung Tử vỗ tay một cái, sấm sét nổi lên, dưới đất mọc lên tám cây trụ cao hơn ba trượng, bề trên một trượng chia làm: Càn, Khảm, Cán, Chẩn, Tốn, Ly, Khôn, Ðoài.

Văn Thái sư đứng chính giữa nói lớn: - Phép độn ngũ hành ai ai cũng biết, có lạ lùng gì đâu mà dọa ta.

Nói rồi bắt ấn trị hỏa đứng một hồi lâu rồi kêu Vân Trung Tử nói: - Phép ngươi dở như vậy, không lẽ ta đứng đợi hoài. Thôi ta giã biệt nhé!

Nói rồi nhảy lên một cái, định thoát ra khỏi các cây trụ đó, chẳng ngờ Vân Trung Tử đã chực sẳn, lấy cái bình bát của Nhiên Ðăng chụp xuống tám cây trụ như đậy nút chai.

Văn Thái sư nhảy lên, đụng đầu té xuống, Vân Trung Tử ở ngoài làm phép thêm lửa.

Khá thương Văn Thừa Tướng vì nước liều mình!

Văn Trọng là một tôi trung nghĩa nên lúc chết hồn bay về Lộc đài chầu vua Trụ. Khi ấy vua Trụ đang uống rượu với Ðắt Kỷ, soàng soàng trong người, dựa ghế ngủ quên, bỗng thấy Văn Thái sư đứng trước mặt nói:

- Tôi vâng lịnh chinh Tây ba năm trời cực khổ, nay đã bỏ mình tại núi Tuyệt Long. Xin bệ hạ tu nhơn tích đức, cầu hiền trị nước chớ mê tửu sắc mà bỏ triều đình. Nếu người can không nghe, trời giận không sợ, thì xã tắc không còn. Hãy sửa lỗi mình, họa may điềm lành trở lại. Tôi muốn tâu cho cặn kẽ, song sợ trễ giờ phạm luật khó vô đài Phong Thần. Tôi xin bái biệt.

 

14. Đạo bị bế

Đạo là cái gì mà có thể bế và khai được. Chữ Đạo là một danh từ chẳng thể giải thích nổi, nó mô tả một cách không vẹn toàn cái thực thể thâm diệu mà Lão Giáo cầu nơi chúng ta sự cảm ứng hơn là thích nghĩa. Thực thể ấy bất tiêu bất diệt, không có khởi thủy, không có hồi chung cuộc, chẳng biến hình biến dạng. Thế tại sao có ngày Khai Đạo ?

Chúng ta biết rằng Đạo Cao Đài là một tôn giáo có triết lý đặc sắc của nó. Triết lý ấy không phải là một sự vá víu, vay mượn của các giáo thuyết khác đem về chấp nối một cách vụng về và được thần thánh hóa bằng cơ bút. Không phải cứ chép một đoạn trong Tứ Thư, Ngũ Kinh, một đoạn trong Kinh Thánh Tân Ước trộn lẫn với vài lối giải thích siêu hình của các nhà thần học Tây Phương mà vẽ nên hình Chí Tôn, Phật Mẫu được bao giờ.

Bởi vậy chữ Đạo mà chúng ta thường dùng chẳng phải cứ suy luận từ tư tưởng Lão Giáo mà thấu triệt được, nó đòi hỏi chúng ta phải có cái nhìn bao quát tất cả các triết lý cổ kim mới hiểu được điều hiện thực ở đàng sau danh hiệu ấy. Đó là cái gốc khởi sự phát sanh sự sống của muôn loài, tuôn tràn từ gốc ấy đến các cảnh giới siêu phàm và hiện hữu len vào trong từng diễn biến của các hiện tượng trong đời sống của cá thể cũng như tập thể.

Chữ Đạo vì vậy có muôn ngàn nghĩa lý khác nhau, người chỉ nên tìm hiểu chớ đừng định nghĩa. Ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu một khía cạnh nhỏ trong vấn đề Khai Đạo hay Khai Tâm.

Cái lẽ thâm diệu trong trời đất gọi là Đạo, chẳng bao giờ có bế cả nên cũng chẳng có khai, nhưng cách hướng dẫn người đời nên Thần, nên Thánh, nên Tiên, nên Phật cũng gọi là Đạo thì có hồi hiệu nghiệm, có hồi không, nên cách hướng dẫn ấy có thời thịnh buổi suy, nên người đời mới gọi là bế Đạo và khai Đạo. Vậy cái hình tướng thì thay đổi mà nội dung vẫn như nhiên, sự thất kỳ truyền chẳng phải do nơi đạo pháp mà chính tại lòng người, chính Đức Chí Tôn đã minh giải điều ấy.

"Nguyên từ buổi bế Đạo, tuy chánh pháp ra cũ mặc dầu, chớ kỳ trung thọ đắc kỳ truyền, luật lệ tuy cũ chớ Đạo vẫn như nhiên, do công đức mà đắc Đạo cùng chăng ..." (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Q I, trang 38)

Có bao giờ chúng ta dám đối diện với chính tòa thiên lương của mình, cả gan thách thức tìm cho được Đạo bị bế chỗ nào mà nay khai, hầu minh giải lời Chí Tôn cho thêm phần thiết thực. Giáo lý nhiệm mầu của Đức Phật còn đó, diệu pháp bí truyền chơn Tiên còn đó, sao đã gọi thất truyền?

Phải chăng con người đã bế lại lòng mình bằng một vòng u tối, cô lập sự sống của mình trong vòng bản ngã, nên chẳng có cơ hội thấy được ánh sáng nhiệm mầu của Đạo, cảm thông được với sự sống dạt dào tuôn chảy ở khắp mọi nơi trong trời đất.

Phải chăng chính tâm linh ấy mới có thể bế và khai, chớ Đạo mà Lão Tử thường gọi có ai đóng được bao giờ mà gọi là khai.

Cho nên kỷ niệm ngày khai Đạo không phải là một đề tài suy gẫm về cái vẽ ồn ào náo nhiệt của một ngày đại hội, cũng không phải là một sự hồi tưởng lại về quang cảnh ngày này, năm xưa mà là sự suy gẫm về cái lý diệu huyền của nó.

Kinh điển chứa đầy mà vẫn chưa thoát tục, đó là lời cảnh cáo nghiêm trang của Thiêng Liêng với chúng ta khi còn lặn hụp trong vòng thể pháp của Tam Kỳ Phổ Độ, chính tâm linh của chúng ta đối với ta đang bị đóng kín lại và dĩ nhiên không ngộ được Đạo. Lập Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn trao cho chúng ta cái chìa khóa để tự mình mở nó ra với sự giúp đỡ của Ngài...(Trích “KHAI ĐẠO & KHAI TÂM” của tác giả NGUYỄN LONG THÀNH)