36. Hiến chương 2007 vì sao bị tín đồ phản đối ?
ID026381 - Chương : 36. Hiến chương 2007 vì sao bị tín đồ phản đối ? 🖶 Print this Chương
Sách : 60 Câu Hỏi Đáp về Thiên phong - Phàm phong - Tự phong
Tác Giả : Tùng Thiên Từ Bạch Hạc

 

36. Hiến chương 2007 vì sao bị tín đồ phản đối ?

Vì nó vượt trên phân quyền, dân chủ đưa đến độc tài, áp chế tín đồ. Đường lối của tôn giáo Cao Đài phải đi đúng theo Tân Luật và Pháp Chánh Truyền, Đạo luật.

Trong luật của đạo Cao Đài, điều gì cũng phải đủ 3 quyền mới được thừa nhận. Nếu thiếu một quyền thì không có tác dụng đối với đạo.

· Quyền thứ nhất là quyền của VẠN LINH, tức của nhơn sanh trong hạ tầng.

· Quyền thứ hai là quyền của HỘI THÁNH, tức là của chức sắc đạo từ hàng phẩm Giáo hữu trở lên đến Chánh Phối Sư.

· Quyền thứ ba, quyết định, là quyền THƯỢNG HỘI, do nơi Giáo Tông, Hộ Pháp quyết định.

Phải có đủ 3 quyền thì mới có Tân Luật, có Hiến chương. Thiếu ba quyền này thì, người tín hữu hiểu rõ luật đạo sẽ không thừa nhận.”

Hiến chương Hội Thánh gồm 12 chương, 27 điều, được lập ra do Hội Thánh dựa vào căn bản Tân Luật và Pháp Chánh Truyền đạo luật, các đạo nghị định. Hiến chương này không mang màu sắc chính trị, chỉ thuần tuý tôn giáo và không vi phạm vào hiến pháp và pháp luật bất cứ chế độ nào. 

Điều 25 của hiến chương 1965 nói rằng “để áp dụng hiến chương này, bản Tân Luật và Pháp Chánh Truyền, Đạo luật, Kinh lễ có tính cách nội qui, nội luật”. Có nghĩa là đường lối của tôn giáo Cao Đài phải đi theo Tân Luật và Pháp Chánh Truyền, Đạo luật.  

Cơ cấu quyền lực và sự phân quyền của Đạo là một trong các tính chất đặc trưng phản ánh tính dân chủ của Đạo nhằm tránh trường hợp độc quyền đưa Chánh giáo trở thành Phàm giáo. Sự phân quyền này thể hiện rõ qua cơ cấu “Lưỡng Đài” gồm Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài, tồn tại song song và có chức năng riêng biệt.

Chiếu theo Pháp Chánh Truyền: Hội Thánh là hình thể của Đức Chí Tôn. Hội Thánh ấy có hai Đài hữu hình là Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài. Mỗi Đài có quyền hạn và nhiệm vụ đặc biệt: 

. Cửu Trùng Đài dưới quyền Đức Giáo Tông chưởng quản: có nhiệm vụ phổ thông Chơn Đạo, giáo hoá phổ độ chúng sanh trên đường Đạo và đường đời, tức là chỉ có quyền về mặt chánh trị đạo mà thôi. 

. Hiệp Thiên Đài dưới quyền Đức Hộ Pháp chưởng quản: có nhiệm vụ bảo thủ luật pháp, Chơn Truyền Đại Đạo, tức là có quyền về mặt luật pháp đạo. 

Khi nào quyền của GIÁO TÔNG + HỘ PHÁP hiệp nhứt được xem là quyền CHÍ TÔN.

Trái lại, Điều 11 và 16 của Hiến Chương 2007 thống nhất hai đài hữu hình Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài dưới quyền vị Đầu Sư phàm phong chưởng quản là phạm Pháp Chánh Truyền một cách nặng nề, trắng trợn.

Pháp Chánh Truyền có đoạn: 

Nay Thầy đến chẳng phải lấy nó lại, mà Thầy chỉ để làm cho tiêu diệt cái hại của nó ; nếu muốn trừ cái hại ấy thì chẵng chi hay hơn là chia đôi nó ra, không cho một người nhất thống.  Kẻ nào đã nắm trọn phần hữu hình và phần Thiêng Liêng thì là độc chiếm quyền Chánh trị và luật lệ vào tay, thì nhơn sanh chẵng phương nào thoát khỏi vòng áp chế”. 

Ngoài ra, khi Đức Chí Tôn khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Ngài dùng huyền diệu cơ bút ban Pháp Chánh Truyền, Tân Luật để định vị, lập quyền Hội Thánh, Thiên Phong Chức Sắc thay hình thể cho Ngài hầu phổ độ chúng sanh trên mặt địa cầu nầy.

Hội Thánh ĐĐTKPĐ phải là Chức Sắc Thiên Phong do Ngài chọn lựa qua luật công cử đã qui định tại Pháp Chánh Truyền từ thử:

Cả Chức Sắc Cửu Trùng Đài nam, nữ điều phải thọ phong nơi Hiệp Thiên Đài hoặc bởi cơ bút, hoặc bởi công cử. Nên khi công cử phải có mặt Chức Sắc Hiệp Thiên Đài giữ lẽ công bình cho khỏi điều tư vị, lại còn có phương thế hỏi Đức Giáo Tông cùng Thầy coi người đắc cử có phải chánh vị hay chăng? Nên trước khi thọ sắc, phải do nơi Giáo Tông cùng Thầy mới đặng.” 

Nhưng thực tế hiện nay thì sao? Chiếu theo pháp luật Đạo, Chức Sắc Hội Đồng Chưởng Quản chưa phải là chức sắc Thiên Phong Chánh Vị thì không đủ tư cách pháp lý để cầm quyền Hội Thánh. Hội Trưởng Hội Đồng Chưởng Quản do phàm phong lại nắm độc quyền cả chính trị lẫn luật lệ đưa đến nhơn sanh không chấp thuận.”

Cây có cội, nước có nguồn. TÒA THÁNH, HỘI THÁNH ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ LÀ GỐC, LÀ TRUNG ƯƠNG. Các chi phái sau này muốn qui về sẽ có qui chế đặc biệt. Đạo Nghị Định thứ 8 ngày 25-08-1934 định rõ:

Ðiều thứ nhứt:  Những Chi Phái nào do bởi Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ làm gốc lập thành mà không do nơi mạng lịnh Hội Thánh, thì cả chúng sanh chẳng đặng nhìn nhận là của Chí Tôn và phải định quyết là Bàng Môn Tả Ðạo.

Báo Xa Lộ Pháp Luật số 36 ra ngày 17/8/2013 trang 16 cột bốn dòng 26 viết:

"...Hiện nay, Cao Đài Tây Ninh được nhà nước công nhận là một trong chín chi phái Cao Đài hoạt động hợp pháp ở Việt Nam".

Vậy, chư tín đồ, Chức việc, Chức sắc phải suy nghĩ sao đây? Ma Ma, Phật Phật chính ở ngã ba đường này.

Tóm lại, kể từ năm 1997 chánh phủ Việt Nam lấy cơ ngơi và danh hiệu Cao Đài (lập năm 1926) cho chi phái Cao Đài Tây Ninh (lập năm 1997) sử dụng. Ban Tôn giáo chánh phủ đã thay tên đổi họ cả một nền tôn giáo: “Hồn một nơi, xác một ngã”. Việc trồng tráo tên tuổi nầy là một thủ đoạn rất tinh vi. Họ chơi canh bài tráo nầy đã làm rất nhiều người, trong và ngoài nước nhầm lẫn!!!

Nhà nước là thẩm quyền thi hành luật, nhưng luật và thẩm quyền chỉ là điều kiện cần. Trong khi đó, sự tôn trọng tinh thần Pháp quyền mới là điều kiện đủ để tôn giáo được trả về vị trí nguyên thuỷ của một tín ngưỡng.

Thánh thể của Đức Chí Tôn không thể bị lem luốc như vậy mãi. Đạo diệt thì tận thế. Vì thế, chúng ta, cá nhân và tập thể, hãy cầu nguyện đến ĐỨC DI LẠC VƯƠNG PHẬT nhiều thời, nhiều buổi một cách thường xuyên. Ráng chờ xem đến bao giờ Hội Thánh mới được phục quyền, Tân Luật và Pháp Chánh Truyền được tôn trọng?

“Từ điểm thương yêu trong tâm Thượng Đế,
Xin thương yêu tràn ngập trong tâm con người
Cầu xin Đức Di Lặc (Đức Chúa) sớm xuất hiện ở trần gian .. .
Từ trung tâm mà ta gọi là loài người.
Xin thiên cơ của THƯƠNG YÊU và ÁNH SÁNG thực hiện.
Và mong sao thiên cơ sẽ đóng kín nẻo Tà.
Cầu xin ÁNH SÁNG, TÌNH THƯƠNG và SỨC MẠNH sẽ vãn hồi thiên cơ trên trần thế.”
(trích Lời Đại Thỉnh nguyện)