IV. Giáo lý của Đạo Cao Đài
ID026444 - Phần : IV. Giáo lý của Đạo Cao Đài 🖶 Print this Phần
Sách : Đạo Cao Đài (Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ)
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Những điểm chánh trong Giáo lý của Đạo Cao Đài lược kể ra sau đây :

 

1. Năm nấc thang tiến hóa

Đạo Cao Đài mở ra một con đường Tiến hóa chia làm 5 chặng tiến hóa hay 5 nấc thang tiến hóa cho chúng sanh đắc đạo tùy theo công đức tu hành được nhiều hay ít. 5 nấc thang tiến hóa ấy là 5 phẩm bực từ thấp lên cao là :

- Nhơn
- Thần
- Thánh
- Tiên
- Phật.

Do 5 nấc thang tiến hóa nầy mà Đạo Cao Đài dung hợp được tất cả các nền tôn giáo đã có từ trước đến nay như : Bà-La-Môn giáo hay Ấn Độ giáo), Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo, Do Thái giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Thần đạo Trung Hoa và Nhựt Bổn.

 

2. Thể Pháp và Bí Pháp

Đạo Cao Đài có đầy đủ Thể Pháp và Bí Pháp.

- Thể Pháp dùng để độ về phần xác với tôn chỉ : Phụng sự chúng sanh tức là Phụng sự Vạn linh.

- Bí Pháp dùng để độ phần hồn với tôn chỉ : Tận độ nhơn sanh.

Thể Pháp là pháp luật hữu hình, là định luật định tướng định hình để dẫn dắt đời sống của nhơn loại vào nẻo thanh cao và hạnh phúc.

Bí Pháp là pháp luật bí ẩn, là định luật vô hình chi phối sự tiến hóa của các chơn linh trong Càn khôn Vũ trụ.

Bất cứ một nền tôn giáo nào cũng đều phải có 2 mặt : Thể pháp và Bí pháp. Trong trường hợp nầy, Thể pháp và Bí pháp được định nghĩa như sau :

Thể pháp là tất cả những giáo lý, luật pháp, dạy dỗ và dẫn dắt nhơn sanh đi theo con đường đạo đức. Đó là những luật hữu hình ràng buộc đời sống của tín đồ vào trọn trong khuôn viên đạo đức để được sống hòa bình, thanh cao và hạnh phúc. Như thế, Thể pháp chính là cơ quan giải khổ cho chúng sanh.

Bí pháp là các phương thức luyện đạo, mà mục đích cuối cùng là đắc đạo, đạt được phẩm vị Thần Thánh Tiên Phật nơi cõi thiêng liêng, thoát vòng luân hồi đau khổ, sống an nhàn tự tại miên viễn nơi cõi Cực Lạc Niết Bàn. Như thế, Bí pháp chính là cơ quan giải thoát chúng sanh khỏi luân hồi.

Những phương pháp luyện đạo trong Bí pháp hoàn toàn không được phổ biến ra ngoài, mà chỉ được bí truyền cho những đệ tử đã được chọn lọc kỹ lưỡng có đầy đủ hạnh đức. Các phương pháp ấy được truyền trực tiếp từ Thầy sang trò bằng lời nói riêng tư, nên gọi là Bí pháp khẩu thọ tâm truyền, hay Tâm pháp bí truyền.

Do đó, Thể pháp và Bí pháp của Đạo Cao Đài cũng rất đặc biệt, vì nó hoàn toàn mới mẻ so với tất cả các nền tôn giáo cổ, nhưng rất phù hạp với trình độ tiến hóa của nhơn sanh hiện nay, lại thể hiện được thời kỳ Đại Ân Xá của Đức Chí Tôn để tận độ nhơn sanh.

 

a). Thể pháp của Đạo Cao Đài.

Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo chỉ rõ rằng : Thể pháp của Đạo Cao Đài nói gọn trong 4 chữ : PHỤNG SỰ VẠN LINH.

Vạn linh là tất cả các chơn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ, gồm đủ Bát Hồn :

. Vật chất hồn,
. Thảo mộc hồn,
. Thú cầm hồn,
. Nhơn hồn,
. Thần hồn,
. Thánh hồn,
. Tiên hồn,
. Phật hồn.

Vạn linh đầu kiếp xuống cõi trần là chúng sanh. Vậy, Phụng Sự Vạn Linh tức là PHỤNG SỰ CHÚNG SANH.

Danh từ tuy không mới mẻ nhưng ý tưởng lại rất tiến bộ tân kỳ, vì từ xưa tới nay, người tu bao giờ cũng lo cho chính mình để mình được thành Tiên Phật, mà chơn lý của Đạo Cao Đài hiện nay là : Lo cho người tức lo cho ta; giúp người tiến hóa tức là giúp ta tiến hóa.

Do đó, đối với các tín đồ Cao Đài, Đức Chí Tôn bảo : Hãy hoàn toàn quên mình để phụng sự vạn linh.

Phụng sự vạn linh là một quan niệm sống rất cao cả, thỏa mãn đầy đủ 3 mục đích sống của 3 hạng người tiêu biểu của nhơn loại :

- Hạng mang quả kiếp nặng nề nên phải đầu kiếp trở lại cõi trần để trả quả.

- Hạng muốn học hỏi thêm để tiến hóa thêm nữa.

- Hạng muốn lập công đức để cho phẩm vị của mình thêm cao trọng nơi cõi thiêng liêng.

Chúng ta không thể tự biết rõ mình thuộc hạng nào trong 3 hạng vừa kể trên, cho nên cứ lấy việc Phụng Sự Vạn linh làm mục đích cuộc sống, thì mình sẽ được :

* Chúng ta không biết mình bị quả kiếp nơi nào, người nào, nhưng nhờ Phụng sự vạn linh, và nhờ hồng ân của Đức Chí Tôn, cho ta gặp được những người đó để chúng ta trả hết các quả kiếp tiền khiên.

* Chúng ta học hỏi để biết được bộ máy huyền vi mầu nhiệm của Tạo Hóa, chúng ta nhờ Phụng sự vạn linh và do việc Phụng sự ấy mà nó chỉ cho ta những điều mà ta muốn học hỏi, cũng như nhờ đó mà ta sẽ khám phá được những điều mà ta muốn biết.

* Chúng ta muốn cho phẩm vị của chúng ta nơi cõi thiêng liêng được thăng lên cao nữa thì chúng ta càng phải Phụng sự vạn linh nơi cõi trần nầy, dẫn dắt chúng sanh vào đường đạo đức, thì cái công quả to lớn đó mới giúp phẩm vị ta thêm cao trọng.

Lại nữa, việc Phụng sự vạn linh là phương thức hiệu quả nhứt để mỗi chúng ta trả 3 món nợ mà bất cứ ai đã mang xác thịt nơi cõi trần nầy đều mắc phải.

Ba món nợ đó là :

- Món nợ đối với cha mẹ phàm trần : Cha mẹ sanh ta ra, nuôi nấng dạy dỗ cho khôn lớn, công khó nhọc biết bao nhiêu mà kể.

- Món nợ đối với 2 Đấng Cha Mẹ thiêng liêng là Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu đã sanh ra Chơn linh và Chơn thần của ta.

- Món nợ đối với xã hội, đã cung cấp cho ta những vật thực và những tiện nghi của cuộc sống, và món nợ quốc gia, đã bảo vệ của chúng ta được an lành.

Muốn trả dứt 3 món nợ nầy thì chỉ có cách là Phụng sự vạn linh, Phụng sự một cách triệt để và chí thành. Nếu được như vậy thì khi chúng ta thoát xác, cõi Thiêng liêng Hằng sống sẽ mở rộng cửa rước chúng ta trở về, vì không ai còn níu lưng đòi nợ chúng ta hết. Chúng ta đã phụng sự vạn linh tức là chúng ta đã trả dứt nợ.

Muốn phụng sự vạn linh đạt được hiệu quả tối đa và hoàn toàn tốt đẹp thì phải có phương pháp và tổ chức khoa học. Do đó, Đức Chí Tôn lập ra cho chúng ta một cơ quan phụng sự vạn linh là nền Đại Đạo Cao Đài với hình thể gồm 3 Đài : Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài và Bát Quái Đài.

- Cửu Trùng Đài : lo việc phổ độ và giáo hóa nhơn sanh, giúp nhơn sanh giác ngộ, cải ác tùng lương, dẫn dắt nhơn sanh vào đường đạo đức.

- Hiệp Thiên Đài : lo gìn giữ luật pháp Chơn truyền Đại Đạo, không cho ai sửa cải.

- Bát Quái Đài : chỉ huy 2 Đài trên để điều động toàn thể cơ quan phụng sự vạn linh cho được hiệu quả.

Bên cạnh Cửu Trùng Đài còn có Cơ Quan Phước Thiện để cứu khổ và giải khổ cho nhơn sanh.

Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Đạo Luật, Đạo Nghị Định, là những cái hàng rào dựng lên dọc theo con đường Phụng sự, và Giáo lý Đại Đạo là người dẫn đường cho mỗi người chúng ta đi trọn vẹn trong con đường đó, đúng theo Thánh ý của Đức Chí Tôn.

Việc phụng sự vạn linh và đánh giá kết quả việc phụng sự đó, Đức Chí Tôn gọi là một Trường Thi Công Quả.

“ Vì vậy mà Thầy hằng nói cùng các con rằng : Một Trường thi Công quả, các con muốn đến đặng nơi Cực Lạc Thế giới thì phải đi tại cửa nầy mà thôi.” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 34)

Tất cả những hình thức tổ chức trên : Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài, Bát Quái Đài và Cơ Quan Phước Thiện đều được gọi chung là Thể pháp của Đạo Cao Đài trong mục tiêu quan trọng nhứt là Phụng sự vạn linh.

 

b). Bí pháp của Đạo Cao Đài.

“ Đạo Cao Đài có đủ quyền năng hiển hách anh linh của nó, không có một nền tôn giáo nào tại thế nầy khả dĩ đối thủ được cả thảy, tức nhiên Bí pháp của Đạo Cao Đài, giờ phút nầy không có kẻ nào dám cả gan nói Bí pháp ấy do tay phàm hay do một vị Giáo chủ mang xác phàm cầm nó, mà chính trong tay Đức Chí Tôn là Đấng tạo Càn Khôn Vũ Trụ và Chúa vạn vật, cầm Bí pháp trong tay đặng độ rỗi phần hồn nhơn loại. “ (Thuyết đạo của Đức Phạm Hộ Pháp)

Bí pháp thì bí mật, nhưng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nầy, Đức Chí Tôn ban cho ân huệ là Đại Ân Xá, nên Đức Chí Tôn không giấu giếm Bí pháp nữa, mà Đức Chí Tôn bày ra trước mắt nhơn sanh, để nhơn sanh thấy rõ mà thực hành. Và Đức Chí Tôn nhấn mạnh :” Gặp Tam Kỳ Phổ Độ nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi.”

Bí pháp đó là :Đức Chí Tôn biểu chúng ta dâng Tam Bửu (Tinh, Khí, Thần) của chúng ta lên cho Đức Chí Tôn lấy đó làm phương tiện để phụng sự vạn linh.

Tại sao gọi đó là Bí pháp của Đạo Cao Đài ?

Vì chính đó là cơ quan giải thoát chúng ta khỏi luân hồi để trở về hiệp nhứt cùng Đức Chí Tôn, tức là đắc đạo vậy.

Đức Phạm Hộ Pháp giải thích như sau :

“ Ấy vậy, mỗi ngày, từ mơi tới trưa, đến chiều, từ chiều đến khuya, từ khuya đến sáng, mình vô Đền Thánh kêu Đức Chí Tôn, kêu Tam giáo và các Đấng thiêng liêng mà phân chứng trước : Thân tôi không còn là của tôi nữa, tôi đã hiến dâng cho Đức Chí Tôn, để làm tôi tớ cho vạn linh thay thế cho Đức Chí Tôn.

Giờ phút đó, chúng ta không biết tội nào chúng ta đã làm, dầu có tội, mà chúng ta không làm điều gì thêm tội nữa thì quả kiếp ấy tiêu diệt, cơ quan giải thoát chúng ta đoạt, không thể gì định tội được.

Đức Chí Tôn biểu chúng ta không phải là chúng ta, mà chúng ta không phải là chúng ta thì quả kiếp ấy cũng không phải là của chúng ta, tức nhiên ta đã đoạt cơ giải thoát.”

Như vậy, mỗi ngày chúng ta cúng Đức Chí Tôn, chúng ta đều cầu nguyện dâng Tam Bửu Tinh Khí Thần, tượng trưng bằng Bông Rượu Trà, tức là dâng Thể xác, Chơn thần và Linh hồn của chúng ta lên cho Đức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng, tức là chúng ta hoàn toàn tùy thuộc Đức Chí Tôn sai khiến định liệu. Chúng ta không còn gì để lo lắng ngoài sự lo lắng làm thế nào thực hiện cho hoàn tất mệnh lệnh của Đức Chí Tôn giao phó.

Bí pháp nầy, Đức Chí Tôn để hiển hiện trước mắt nhơn sanh, mà ít ai để ý suy nghĩ.

Nhưng việc thực hiện Bí pháp nầy một cách trọn vẹn thì cũng rất khó khăn, nhưng càng khó khăn thì càng có giá trị xứng đáng. Đâu có gì dễ đâu ! Nhưng cũng không phải là quá khó khăn để chúng ta không thể thực hiện được. Nếu chúng ta có một đức tin mạnh mẽ nơi Đức Chí Tôn, và có một tấm lòng hy sinh quên mình, thì mọi việc đều trở nên dễ dàng.

Như thế, cái tấm thân của ta đây, cả chơn thần và linh hồn nữa, ta đều giao hết cho Đức Chí Tôn, giao thật sự với đầy đủ ý nghĩa của nó, thì không còn gì là của ta nữa, đừng nói chi là của cha mẹ ta hay của vợ con ta.

Như vậy cái TA (tức là cái NGÃ) không còn nữa, thì đâu còn gì để CHẤP NGÃ. Đây là cách PHÁ CHẤP vô cùng hiệu quả hơn tất cả các phương pháp khác.

Sự dâng hiến nầy, nếu chúng ta thi hành một cách chí thành thì đủ đem chúng ta trở về cùng Đức Chí Tôn, mà không cần phải làm thêm một điều chi khác nữa.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy rằng : “ Trong các con, có nhiều đứa lầm tưởng, hễ vào Đạo thì phải phế hết nhơn sự, nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng có một điều rất thấp thỏi là vào một chỗ u nhàn mà ẩn thân luyện đạo. Thầy nói cho các con biết , nếu công quả chưa đủ, nhân sự chưa xong, thì không thể nào các con luyện thành đặng đâu mà mong. Vậy muốn đắc quả thì chỉ có một điều là phổ độ chúng sanh mà thôi. Như không làm đặng thế nầy thì tìm cách khác mà làm âm chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao.” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 101)

Nhưng trong kỳ Đại Ân Xá nầy, đối với nhơn sanh trong thời Hạ Nguơn Mạt kiếp, và cũng do sự mơ ước của nhơn sanh nên Đức Chí Tôn cũng mở ra một con đường tu luyện gọi là con đường thứ 3 của Đại Đạo, bằng cách trao Bí pháp Luyện đạo cho Đức Phạm Hộ Pháp để Ngài truyền lại cho những người nào có đủ Tam Lập (Lập Đức, Lập Công, Lập Ngôn) trong việc phụng sự chúng sanh. Bí pháp luyện đạo được thực hành trong Tịnh Thất mà Đức Phạm Hộ Pháp đã cho xây dựng 3 Tịnh Thất là : Trí Huệ Cung, Trí Giác Cung và Vạn Pháp Cung.

Bí pháp nầy dạy luyện Tam Bủu Tinh Khí Thần hiệp nhứt, tức là : Luyện Tinh hóa Khí, Luyện Khí hiệp Thần, Luyện Thần huờn Hư . Lúc đó thì Tam Huê tụ đảnh, Ngũ Khí triều nguơn, tạo thành Thánh Thai, đắc đạo thành Tiên Phật tại thế.

Tóm lại, Bí pháp của Đạo Cao Đài do Đức Chí Tôn nắm giữ. Đức Chí Tôn mở Bí pháp theo 2 con đường tu :

* Con đường chánh yếu là Dâng Tam Bửu cho Đức Chí Tôn để Đức Chí Tôn dùng làm phương tiện phụng sự vạn linh. Con đường nầy là lập công trong Cửu Trùng Đài hay Cơ Quan Phước Thiện.

Chỉ cần làm trọn vẹn bao nhiêu đó trong suốt kiếp sanh gặp Đạo thì đủ để thoát khỏi luân hồi, được Đức Chí Tôn rước về hội hiệp cùng Ngài.

* Con đường tu luyện : Đức Chí Tôn trao Bí pháp luyện đạo cho Đức Phạm Hộ Pháp để truyền lại cho những vị nào đã thực hành đủ Tam Lập, luyện Tam bửu Tinh Khí Thần hiệp nhứt, đắc đạo tại thế.

Những môn đệ muốn đủ Tam Lập thì phải trải qua một thời gian phụng sự vạn linh tức là phải làm công quả phổ độ nhơn sanh.

Đạo Cao Đài, tức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn cấm hẳn lối tu “độc thiện kỳ thân”, một lối tu ích kỷ, chỉ biết có mình và chỉ riêng lo cho mình.

 

3). Cách thờ phượng

Đạo Cao Đài thờ 2 Đấng tối cao tạo dựng ra Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật. Đó là Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu, tức là 2 Ngôi : Ngôi Dương và Ngôi Âm.

* Ngôi Dương là Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, ngày nay tá danh là Cao Đài. Ngài là chủ tể Dương Quang. (Xem Vũ trụ quan : Thượng Đế).

* Ngôi Âm là Diêu Trì Kim Mẫu, hay Cửu Thiên Huyền Nữ, thường gọi là Đức Phật Mẫu, chủ tể Âm Quang.

Đền Thờ Đức Chí Tôn ở trung ương là Tòa Thánh Tây Ninh, xây cất theo kiểu vở của Thiên đình, lấy theo hình ảnh của Bạch Ngọc Kinh nơi cõi thiêng liêng, nên Tòa Thánh Tây Ninh được xem là Bạch Ngọc Kinh tại thế. Ở các địa phương, Đền thờ Đức Chí Tôn được gọi là Thánh Thất.

Đền thờ Đức Phật Mẫu thì gọi là Điện Thờ Phật Mẫu, hiện nay ở Trung ương được tạm đặt tại Báo Ân Từ trong Nôi Ô Tòa Thánh. Điện Thờ Phật Mẫu Trung ương sẽ được xây dựng tại khu đất 4 mẫu dành sẵn, cách Tòa Thánh khoảng 1000 thước về hướng bắc, trên đường đi đến núi Bà.

 

4). Đại Ân Xá.

Lần khai đạo kỳ 3 nầy, Đức Chí Tôn mở ra một cuộc Đại Ân Xá cho toàn cả chúng sanh trong Càn Khôn Vũ Trụ, nếu biết ngộ kiếp một đời tu thì đủ đắc đạo, trở về cùng Đức Chí Tôn.

Trong chiều hướng đó, Đức Chí Tôn ra lịnh đóng cửa Địa Ngục, không cho đày đọa hành hạ các tội hồn. Các chơn hồn làm điều tội lỗi trong kiếp sanh, được đưa đến cõi Âm Quang học đạo, sau đó cho tái kiếp trở lại cõi trần để trả xong nghiệp quả, cho kịp dự kỳ thi chung kết Hội Long Hoa.

Đức Chí Tôn cũng ra lịnh mở cửa các Từng Trời để rước người phước đức đắc đạo trở về.

Vô Địa ngục, vô quỉ quan,
Chí Tôn đại xá nhứt trường qui nguyên.
(Phật Mẫu Chơn Kinh)

Đóng Địa ngục, mở tầng Thiên,
Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây phương.
(Kinh Giải Oan)

 

5). Nho Tông Chuyển Thế.

Đối với mặt xã hội, tức là về mặt Đời, Đức Chí Tôn chủ trương Nho Tông Chuyển Thế, nghĩa là dùng tinh hoa của giáo lý Nho giáo để giáo hóa người đời, làm cho cảnh đời bạo ngược, vô luân, chuyển hóa trở nên thuần lương đạo đức.

Tại sao Đức Chí Tôn không dùng Phật giáo, hay Thiên Chúa giáo làm căn bản chuyển thế ? Mà phải dùng Nho giáo?

Bởi vì không có học thuyết nào dạy Nhơn Đạo kỹ bằng Nho giáo. Mà muốn cải tạo xã hội thì phải dạy về Nhơn Đạo, chớ không dạy Thánh đạo, Tiên đạo hay Phật đạo.

Nhưng Đức Chí Tôn chỉ lấy những tinh hoa then chốt của Nho giáo làm căn bản cho việc giáo dục, chớ không lấy toàn bộ Giáo lý Nho giáo, bởi vì toàn cả giáo lý Nho giáo có nhiều điểm không còn thích hợp với thời đại tiến bộ hiện nay.

Những phần tinh hoa của Nho giáo được áp dụng, có thể kể ra sau đây :

- Về phần chung : Thiên Địa Vạn vật đồng nhứt thể.

- Nhơn nghĩa.
- Trung Dung.

- Về phần riêng : Nam thì Tam Cang, Ngũ Thường. Nữ thì Tam Tùng, Tứ Đức.

Phương pháp thực hành chủ trương Nho Tông Chuyển Thế, trước tiên gồm 3 điểm :

- Trọng Nhơn luân : Nêu cao phẩm giá và đạo đức con người.
- Sùng Nhơn Nghĩa : Tôn trọng điều Nhơn và điều Nghĩa.
- Hưng Lễ Nhạc : Phục hưng tinh thần của Lễ và Nhạc là Kính và Hòa.