b). Bí pháp của Đạo Cao Đài.

“ Đạo Cao Đài có đủ quyền năng hiển hách anh linh của nó, không có một nền tôn giáo nào tại thế nầy khả dĩ đối thủ được cả thảy, tức nhiên Bí pháp của Đạo Cao Đài, giờ phút nầy không có kẻ nào dám cả gan nói Bí pháp ấy do tay phàm hay do một vị Giáo chủ mang xác phàm cầm nó, mà chính trong tay Đức Chí Tôn là Đấng tạo Càn Khôn Vũ Trụ và Chúa vạn vật, cầm Bí pháp trong tay đặng độ rỗi phần hồn nhơn loại. “ (Thuyết đạo của Đức Phạm Hộ Pháp)

Bí pháp thì bí mật, nhưng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nầy, Đức Chí Tôn ban cho ân huệ là Đại Ân Xá, nên Đức Chí Tôn không giấu giếm Bí pháp nữa, mà Đức Chí Tôn bày ra trước mắt nhơn sanh, để nhơn sanh thấy rõ mà thực hành. Và Đức Chí Tôn nhấn mạnh :” Gặp Tam Kỳ Phổ Độ nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi.”

Bí pháp đó là :Đức Chí Tôn biểu chúng ta dâng Tam Bửu (Tinh, Khí, Thần) của chúng ta lên cho Đức Chí Tôn lấy đó làm phương tiện để phụng sự vạn linh.

Tại sao gọi đó là Bí pháp của Đạo Cao Đài ?

Vì chính đó là cơ quan giải thoát chúng ta khỏi luân hồi để trở về hiệp nhứt cùng Đức Chí Tôn, tức là đắc đạo vậy.

Đức Phạm Hộ Pháp giải thích như sau :

“ Ấy vậy, mỗi ngày, từ mơi tới trưa, đến chiều, từ chiều đến khuya, từ khuya đến sáng, mình vô Đền Thánh kêu Đức Chí Tôn, kêu Tam giáo và các Đấng thiêng liêng mà phân chứng trước : Thân tôi không còn là của tôi nữa, tôi đã hiến dâng cho Đức Chí Tôn, để làm tôi tớ cho vạn linh thay thế cho Đức Chí Tôn.

Giờ phút đó, chúng ta không biết tội nào chúng ta đã làm, dầu có tội, mà chúng ta không làm điều gì thêm tội nữa thì quả kiếp ấy tiêu diệt, cơ quan giải thoát chúng ta đoạt, không thể gì định tội được.

Đức Chí Tôn biểu chúng ta không phải là chúng ta, mà chúng ta không phải là chúng ta thì quả kiếp ấy cũng không phải là của chúng ta, tức nhiên ta đã đoạt cơ giải thoát.”

Như vậy, mỗi ngày chúng ta cúng Đức Chí Tôn, chúng ta đều cầu nguyện dâng Tam Bửu Tinh Khí Thần, tượng trưng bằng Bông Rượu Trà, tức là dâng Thể xác, Chơn thần và Linh hồn của chúng ta lên cho Đức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng, tức là chúng ta hoàn toàn tùy thuộc Đức Chí Tôn sai khiến định liệu. Chúng ta không còn gì để lo lắng ngoài sự lo lắng làm thế nào thực hiện cho hoàn tất mệnh lệnh của Đức Chí Tôn giao phó.

Bí pháp nầy, Đức Chí Tôn để hiển hiện trước mắt nhơn sanh, mà ít ai để ý suy nghĩ.

Nhưng việc thực hiện Bí pháp nầy một cách trọn vẹn thì cũng rất khó khăn, nhưng càng khó khăn thì càng có giá trị xứng đáng. Đâu có gì dễ đâu ! Nhưng cũng không phải là quá khó khăn để chúng ta không thể thực hiện được. Nếu chúng ta có một đức tin mạnh mẽ nơi Đức Chí Tôn, và có một tấm lòng hy sinh quên mình, thì mọi việc đều trở nên dễ dàng.

Như thế, cái tấm thân của ta đây, cả chơn thần và linh hồn nữa, ta đều giao hết cho Đức Chí Tôn, giao thật sự với đầy đủ ý nghĩa của nó, thì không còn gì là của ta nữa, đừng nói chi là của cha mẹ ta hay của vợ con ta.

Như vậy cái TA (tức là cái NGÃ) không còn nữa, thì đâu còn gì để CHẤP NGÃ. Đây là cách PHÁ CHẤP vô cùng hiệu quả hơn tất cả các phương pháp khác.

Sự dâng hiến nầy, nếu chúng ta thi hành một cách chí thành thì đủ đem chúng ta trở về cùng Đức Chí Tôn, mà không cần phải làm thêm một điều chi khác nữa.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy rằng : “ Trong các con, có nhiều đứa lầm tưởng, hễ vào Đạo thì phải phế hết nhơn sự, nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng có một điều rất thấp thỏi là vào một chỗ u nhàn mà ẩn thân luyện đạo. Thầy nói cho các con biết , nếu công quả chưa đủ, nhân sự chưa xong, thì không thể nào các con luyện thành đặng đâu mà mong. Vậy muốn đắc quả thì chỉ có một điều là phổ độ chúng sanh mà thôi. Như không làm đặng thế nầy thì tìm cách khác mà làm âm chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao.” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 101)

Nhưng trong kỳ Đại Ân Xá nầy, đối với nhơn sanh trong thời Hạ Nguơn Mạt kiếp, và cũng do sự mơ ước của nhơn sanh nên Đức Chí Tôn cũng mở ra một con đường tu luyện gọi là con đường thứ 3 của Đại Đạo, bằng cách trao Bí pháp Luyện đạo cho Đức Phạm Hộ Pháp để Ngài truyền lại cho những người nào có đủ Tam Lập (Lập Đức, Lập Công, Lập Ngôn) trong việc phụng sự chúng sanh. Bí pháp luyện đạo được thực hành trong Tịnh Thất mà Đức Phạm Hộ Pháp đã cho xây dựng 3 Tịnh Thất là : Trí Huệ Cung, Trí Giác Cung và Vạn Pháp Cung.

Bí pháp nầy dạy luyện Tam Bủu Tinh Khí Thần hiệp nhứt, tức là : Luyện Tinh hóa Khí, Luyện Khí hiệp Thần, Luyện Thần huờn Hư . Lúc đó thì Tam Huê tụ đảnh, Ngũ Khí triều nguơn, tạo thành Thánh Thai, đắc đạo thành Tiên Phật tại thế.

Tóm lại, Bí pháp của Đạo Cao Đài do Đức Chí Tôn nắm giữ. Đức Chí Tôn mở Bí pháp theo 2 con đường tu :

* Con đường chánh yếu là Dâng Tam Bửu cho Đức Chí Tôn để Đức Chí Tôn dùng làm phương tiện phụng sự vạn linh. Con đường nầy là lập công trong Cửu Trùng Đài hay Cơ Quan Phước Thiện.

Chỉ cần làm trọn vẹn bao nhiêu đó trong suốt kiếp sanh gặp Đạo thì đủ để thoát khỏi luân hồi, được Đức Chí Tôn rước về hội hiệp cùng Ngài.

* Con đường tu luyện : Đức Chí Tôn trao Bí pháp luyện đạo cho Đức Phạm Hộ Pháp để truyền lại cho những vị nào đã thực hành đủ Tam Lập, luyện Tam bửu Tinh Khí Thần hiệp nhứt, đắc đạo tại thế.

Những môn đệ muốn đủ Tam Lập thì phải trải qua một thời gian phụng sự vạn linh tức là phải làm công quả phổ độ nhơn sanh.

Đạo Cao Đài, tức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn cấm hẳn lối tu “độc thiện kỳ thân”, một lối tu ích kỷ, chỉ biết có mình và chỉ riêng lo cho mình.