VI. Triết lý của Đạo Cao Đài.
ID026461 - Phần : VI. Triết lý của Đạo Cao Đài. 🖶 Print this Phần
Sách : Đạo Cao Đài (Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ)
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

 

Triết lý của Đạo Cao Đài là một hệ thống thuần nhất.

Đấng Giáo chủ của Đạo Cao Đài là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, là nguyên căn của tất cả các vị Giáo chủ của các tôn giáo đã có từ trước tới nay.

Cũng như về Giáo lý, Triết lý của Đạo Cao Đài là một hệ thống thuần nhất, giải quyết được đầy đủ và thỏa đáng tất cả các vấn đề triết học của các tôn giáo hay của các trường phái triết học mà lâu nay còn vướng mắc.

Đó là một hệ thống triết học vừa có tính cách sáng tạo, vừa có tính cách dung hợp tất cả triết lý của 2 trường phái triết học lớn là Duy Tâm và Duy Vật, để cuối cùng làm sáng tỏ được Chơn lý hằng hữu bất biến của Càn Khôn Vũ Trụ, với đầy đủ các tính chất thanh trược, xấu tốt, thiện ác.

Đối với Chơn lý hằng hữu bất biến ấy, nếu đứng về phương diện vật chất nhìn vào thì đưa ra Triết lý Duy Vật; nếu đứng về phương diện tinh thần nhìn vào thì khai triển ra thành Triết lý Duy Tâm.

Cái Chơn lý hằng hữu bất biến ấy là Thượng Đế, mà bản chất của Thượng Đế là bao gồm đủ mọi trạng thái từ thanh đến trược, từ vật chất đến tinh thần, từ Tiên Phật đến Quỉ Ma. Ở đây, chưa thể đi sâu vào chi tiết, chỉ nêu lên một số điểm chánh của Triết lý Đạo Cao Đài :

 

1) Thượng Đế

Nhờ hiện tượng Cơ Bút (Thần Linh học), Đạo Cao Đài xác định sự hiện hữu của Thượng Đế, một Đấng duy nhất, tuyệt đối, toàn tri toàn năng, toàn thiện toàn mỹ, vô thủy vô chung, vô hình vô ảnh, biến hóa vô cùng, đã tạo hóa ra Càn Khôn Vũ Trụ, nhơn loại và vạn vật.

 

2) Vũ trụ

Càn khôn Vũ trụ của Đấng Thượng Đế gồm có 3072 ngôi sao, trong đó có quả Địa cầu của chúng ta đang ở. Vũ trụ nầy chỉ là một trong nhiều vũ trụ khác nhau trong khoảng không gian bao la vô cùng tận. (Xem chi tiết : Vũ trụ quan)

 

3) Vạn vật

Đấng Thượng Đế hóa sanh ra vạn vật và cho vạn vật tiến hóa để sản sinh ra muôn loài muôn vẻ khác nhau.

Đầu tiên, Đấng Thượng Đế tạo ra loài Vật chất, Kim thạch. Loài nầy tiến hóa lên thành Thảo mộc, Thảo mộc tiến hóa lên Thú cầm, Thú cầm lần lần tiến hóa thành nhơn loại.

Vạn vật luôn luôn biến đổi và tiến hóa không ngừng, tiến hóa từ loài thấp lần lần lên loài cao hơn, từ loài đơn giản lần lần tiến hóa lên loài phức tạp hơn.

 

4) Luật Tiến hóa

Càn khôn Vũ trụ và vạn vật luôn luôn biến đổi và tiến hoá. Đấng Thượng Đế lập ra Luật Tiến hóa, điều khiển và thúc đẩy sự tiến hóa của khắp Càn Khôn Vũ Trụ, và chính Đấng Thượng Đế cũng ở trong vòng chi phối của Luật Tiến hóa nầy.

Luật Tiến hóa đặt ra 8 nấc tiến hóa tương ứng với 8 phẩm Chơn hồn, từ thấp lên cao là :

- Vật chất Kim thạch hồn
- Thảo mộc hồn
- Thú cầm hồn
- Nhơn hồn
- Thần hồn
- Thánh hồn
- Tiên hồn
- Phật hồn.

Đến Phật hồn rồi còn phải tiến hóa lên Đại hồn, tức là Thiên hồn hay Thái cực, để Phật hồn hiệp nhất với Đại hồn, là đi giáp một chu trình Tiến hóa.

Mỗi chu trình Tiến hóa như vậy có đến hằng triệu năm.

Nhưng sự tiến hóa không dừng lại vĩnh viễn nơi Đại hồn vì như vậy là đứng ngoài Luật Tiến hóa, điều nầy không thể có được, mà lại bắt đầu từ Đại hồn một chu trình tiến hóa mới ở trình độ cao cấp hơn, để cho vũ trụ càng ngày càng tiến hóa, nhân vật càng ngày càng tiến hóa khôn ngoan hơn, đẹp đẽ hơn, tinh vi hơn. (Xem chi tiết : Nhơn sanh quan)

 

5) Nhơn loại

Nhơn loại được phân ra làm 3 hạng người căn cứ theo nguồn gốc sanh ra :

- Hóa nhân.
- Nguyên nhân.
- Quỉ nhân.

Nguyên nhân : là những người không do sự tiến hóa của loài cầm thú đi lên, mà là những linh hồn do Thượng Đế sanh ra từ lúc khai Thiên, nay cho đầu kiếp xuống trần, có nhiệm vụ khai hóa các Hóa nhân về trí thức và về tinh thần. Các Nguyên nhân còn giữ được Thiên tính, nên được khôn ngoan, sáng suốt và đạo đức.

Hóa nhân : là những người do loài cầm thú cao cấp tiến hóa lên phẩm người. Loài cầm thú cao cấp đó là loài giả nhơn khỉ vượn. Số Hóa nhân nầy chiếm đại đa số trong nhơn loại. Hóa nhân còn mang ít nhiều thú tính, nên trí não còn khờ ngây, chưa biết mùi đạo đức.

Quỉ nhân : là những linh hồn Quỉ vị đầu kiếp nơi cõi trần để tạo thành lực lượng đối kháng với các Nguyên nhân, nhưng mặt khác lại kết hợp với lực lượng các Nguyên nhân, tạo thành một ngẫu lực thúc đẩy vòng quay của bánh xe tiến hoá. Những Nguyên nhân hoặc Hóa nhân làm những tội lỗi nặng nề phạm Thiên điều thì bị đọa vào Quỉ vị, trở thành những linh hồn Quỉ vị.

 

6) Tam Thể của con người

Các nền tôn giáo từ trước tới nay đều cho rằng, con người chỉ có 2 phần : Thứ nhứt là phần Thể xác hữu hình, Thứ nhì là phần Linh hồn vô hình, còn gọi là tinh thần, và Phật giáo gọi nó là Thần thức.

Nhưng Triết lý của Đạo Cao Đài lại phân tích rõ ra thêm nữa, cho rằng, ngoài 2 phần kể trên, con người còn có một thể nữa có tính cách bán hữu hình, nghĩa là khi thì có hình thể thấy được, khi thì không thấy được. Thể bán hữu hình nầy gọi là Chơn thần, làm trung gian cho phần hữu hình và phần vô hình. Chơn thần nầy còn được gọi là Nhị Xác thân, Xác thân thiêng liêng.

Một con người nơi cõi thiêng liêng chỉ có 2 thể :

Linh hồn, chỉ là một Điểm Linh quang.
Chơn Thần, tức là Xác thân thiêng liêng bao bọc Linh hồn.

Khi con người ở cõi thiêng liêng ấy đầu kiếp xuống cõi trần thì mang thêm một xác thân phàm nơi cõi trần do cha mẹ phàm trần tạo ra và được nuôi dưỡng bằng vật chất nơi cõi trần. Chơn thần và Linh hồn lúc bấy giờ ẩn trong thể xác phàm nầy.

Cho nên một con người nơi cõi trần có 3 thể :

- Linh hồn(vô hình)
- Chơn thần (bán hữu hình)
- Xác phàm (hữu hình) bao bọc Chơn thần và Linh hồn.

Khi thể xác phàm chết đi, nó sẽ tan rã trở về đất, còn Chơn thần và Linh hồn thì xuất ra khỏi thể xác, bay trở về cõi thiêng liêng.

 

7) Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu

Khi Đấng Thượng Đế phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi : Dương Quang và Âm Quang, thì Thượng Đế làm chủ Dương Quang, còn Âm Quang chưa có ai làm chủ, nên Thượng Đế hoá thân ra Đức Phật Mẫu để làm chủ Âm Quang.

Linh hồn của mỗi người chỉ là một điểm Linh quang do Thượng Đế chiết ra từ khối Đại Linh quang Thái Cực của Ngài để ban cho mỗi người, do đó Đấng Thượng Đế là CHA của Linh hồn, nên được gọi là Đại Từ Phụ.

Chơn thần của mỗi người do Đức Phật Mẫu tạo nên, do đó Đức Phật Mẫu là MẸ của Chơn thần, nên loài người gọi Đức Phật Mẫu là Đại Từ Mẫu.

Con người nơi cõi thiêng liêng đầu kiếp xuống cõi phàm trần, mang thêm xác thân phàm do cha mẹ phàm trần tạo nên.

Cho nên,mỗi một người nơi cõi trần đều có :

- Cha mẹ phàm trần riêng của mỗi người.
- Hai Đấng CHA MẸ chung thiêng liêng cho tất cả mọi người là Đấng Thượng Đế và Đức Phật Mẫu, gọi là Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu.

Theo Luật Tiến hóa, các Đấng Thần Thánh Tiên Phật đều do nhơn loại tu hành tiến hóa mà thành. Bát hồn nơi cõi thiêng liêng đầu kiếp xuống cõi trần làm chúng sanh (vật chất kim thạch, thảo mộc, thú cầm, nhơn loại). Cho nên, nơi cõi trần là chúng sanh, nhưng nơi cõi thiêng liêng là Bát hồn, đều do Thượng Đế và Đức Phật Mẫu đào tạo.

Do đó, Đấng Thượng Đế và Đức Phật Mẫu cũng là Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu của các Đấng Thần Thánh Tiên Phật, tức là của Bát phẩm Linh hồn nơi cõi thiêng liêng và của chúng sanh nơi cõi trần .

Đức Chí Tôn Thượng Đế giáng cơ có nói rằng : “ Các con là Thầy, Thầy là các con” (Thầy là tiếng tự xưng của Đức Chí Tôn). Câu nói trên của Đức Chí Tôn mở ra một Triết lý rất mới mẻ và sâu sắc.

 

8) Tôn giáo và nhơn loại

Loài động vật cao cấp là khỉ vượn tiến hóa lên thành những Hóa nhân, tạo thành nhơn loại. Những Hóa nhân nầy vừa mới thoát kiếp thú nên còn mang chút ít thú tánh, nên kém khôn ngoan và chưa biết đạo đức.

Đức Chí Tôn Thượng Đế cho 100 ức (10 triệu) Nguyên nhân giáng trần để khai hóa các Hóa nhân, làm cho các Hóa nhân được khôn ngoan và tiến bộ. Nhưng các Nguyên nhân nầy lại tiêm nhiễm vật chất trược trần, nên làm nhiều điều thiếu đạo đức, gây ra nhiều mối oan nghiệt, khiến cho sự tiến hóa bị trì trệ, đôi khi còn bị thoái hóa nữa.

Đức Chí Tôn thấy vậy mới cho các Đấng Thần Thánh Tiên Phật giáng trần mở ra các mối Đạo để giáo hóa nhơn sanh về đường đạo đức, và cũng để thức tỉnh các Nguyên nhân lo trở về con đường đạo đức tu hành. Nếu loài người giữ được đạo đức, giữ được bản tánh chơn thật hiền lương thì đâu nhọc lòng Đức Chí Tôn và các Đấng Giáo chủ.

Xem như thế thì tôn giáo được mở ra khi loài người đi vào đường hung bạo gian ác, mục đích là để cứu vớt nhơn loại, chớ không phải để kềm kẹp hay để cai trị nhơn loại. Tôn giáo mở ra là để giáo hóa chớ không phải để trừng trị. Việc trừng trị là việc làm của các thế lực Đời.

Từ trước tới nay, Đức Chí Tôn mở ra 3 thời kỳ phổ độ giáo hóa nhơn sanh :

- Thời kỳ Phổ Độ thứ 1 gọi là Nhứt Kỳ Phổ Độ, thuộc thời Thái cổ, Đức Chí Tôn cho các Đấng Phật Tiên giáng trần mở ra các mối Đạo như : Do Thái giáo ở nước Do Thái, đạo Bà-La-Môn ở Ấn Độ, Phật giáo, Tiên giáo, vv. . . Nhứt Kỳ Phổ Độ chỉ độ được 6 ức Nguyên nhân và một số nhơn loại.

Các nền tôn giáo nầy, sau một thời gian dài cũng lần lần suy tàn và thất Chơn truyền.

- Đức Chí Tôn lại mở lòng Đại từ bi, mở kỳ Phổ Độ thứ 2 gọi là Nhị Kỳ Phổ Độ, thuộc thời Thượng cổ, gồm các nền tôn giáo : Thiên Chúa giáo ở nước Do Thái và Âu Châu, Phật giáo ở Ấn Độ, Lão giáo và Khổng giáo ở Trung Hoa, Thần đạo ở Nhựt Bổn và Trung Hoa.

Nhị Kỳ Phổ Độ chỉ độ được 2 ức Nguyên nhân và một số lớn nhơn loại.

Các nền tôn giáo nầy trải qua hơn 2500 năm thì cũng bị thất Chơn truyền, suy tàn và bế lại.

- Đức Chí Tôn Thượng Đế lại mở lòng Đại từ Đại bi, mở đạo lần thứ 3 để cứu vớt nhơn sanh, gọi là Tam Kỳ Phổ Độ, và cho biết đây là thời kỳ Phổ Độ chót, trước khi nhơn loại bước vào cuộc Phán Xét cuối cùng, để chọn người tài đức vào Hội Long Hoa.

Trong thời kỳ Phổ Độ thứ 3 nầy, Đức Chí Tôn không sai chư Tiên Phật giáng trần mở đạo nữa, mà chính mình Đức Chí Tôn dùng huyền diệu Cơ bút, trực tiếp mở một nền đạo lớn, gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, để cứu vớt nhơn sanh. Lần nầy, chính mình Đức Chí Tôn sẽ thống nhứt các nền đạo của 2 thời kỳ phổ độ trước, tạo thành một nền Đại Đạo duy nhứt, với một Giáo lý duy nhứt bao hàm tất cả các Giáo lý, dưới sự chưởng quản của Ngài, để nhơn loại không còn phân biệt nhau về tín ngưỡng mà chia rẽ đánh giết nhau.

 

9) Ngũ Chi Phục Nhứt

Các nền tôn giáo thời Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ, tuy số lượng có nhiều, nhưng tựu chung đều nằm trong 5 con đường lớn (Đại Đạo) với 5 cấp tiến hoá đến Thượng Đế. Năm con đường lớn đó gọi là Ngũ Chi Đại Đạo, gồm :

- Phật đạo : có đạo Bà-La-Môn, Phật giáo của Đức Phật Nhiên Đăng, Thích giáo của Đức Phật Thích Ca, Pythagore giáo.

- Tiên đạo : có Lão giáo, Dương Châu, Mặc Địch. . .

- Thánh đạo : có Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo với 2 Chi phái lớn là đạo Tin Lành, và Chính Thống giáo.

- Thần đạo : có Hy Lạp Phong Thần, Ai Cập Phong Thần, Trung Hoa Phong Thần, Thần đạo Nhựt Bổn.

- Nhơn đạo : có Nho giáo, Socrate, Platon, . . .

Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ là 2 thời kỳ mà Đức Chí Tôn cho nhiều Đấng Giáo chủ xuống trần mở đạo cứu đời. Đó là thời kỳ “Nhứt bổn tán vạn thù”.

Đến thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn qui các mối đạo về một mối gọi là Ngũ Chi phục nhứt, ấy là thời kỳ “Vạn thù qui nhứt bổn”, và chính mình Đức Chí Tôn làm CHA chưởng quản tất cả. Như vậy, chúng ta thấy, Tam giáo qui nguyên nằm trong Ngũ Chi phục nhứt.

 

10) Thiên Nhãn, một biểu tượng đại đồng

Trong Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn dạy vẽ hình Thiên Nhãn để thờ, tức là dạy thờ biểu tượng Con Mắt, tượng trưng Thượng Đế.

Việc thờ biểu tượng nầy có 2 lý do :

- Đức Chí Tôn là Thái Cực, do Hư Vô chi Khí biến sanh, nên Đức Chí Tôn không có hình ảnh chi hết, chỉ vẽ hình Con Mắt tượng trưng để chỉ rằng : Trời cao có mắt, Thượng Đế luôn luôn dòm ngó săn sóc con cái của Ngài là toàn thể nhơn loại.

- Biểu tượng Con Mắt có ý nghĩa đại đồng. Bất cứ sắc dân nào, dân tộc nào cũng biết vẽ Con Mắt để thờ, và vẽ hình Con Mắt không có tính cách phân biệt chủng tộc, quốc gia, nên có tính cách đại đồng.

Như Phật giáo vẽ hình Đức Phật Thích Ca để thờ, mà Phật Thích Ca là người Ấn Độ; Thiên Chúa giáo tạo hình Đức Chúa Jésus để thờ, mà Chúa Jésus là người Do Thái, Nho giáo thờ Đức Khổng Tử, mà Khổng Tử là người Tàu. Do đó mà còn tính cách phân biệt về dân tộc và quốc gia, là thờ người ngoại quốc.

Vẽ hình Con Mắt để thờ thì tránh được các sự phân biệt kể trên.

Mở Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn dạy thờ Con Mắt là có ý muốn cho nhơn loại không còn phân biệt nhau về quốc gia hay về chủng tộc, nhìn nhận Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu là 2 Đấng CHA MẸ chung thiêng liêng, nên toàn cả nhơn loại đều là anh em một nhà, cần phải thương yêu giúp đỡ nhau, tạo nên một xã hội đại đồng huynh đệ.

Dân tộc Việt Nam chỉ là một dân tộc lãnh sứ mạng của Đức Chí Tôn để thực hiện đại đồng trên toàn thế giới .

 

11) Tiểu Thượng Đế

Thượng Đế tạo ra con người và ban cho con người tất cả những gì mà Thượng Đế có. Thượng Đế rút ra từ cái vĩ đại huyền diệu của Ngài, mỗi thứ một điểm nhỏ, ban cho con người, rồi che phủ lên đó một bức màn vô minh, đặt con người ở giữa sự Thiện và sự Ác, giữa Chánh và Tà, giữa sự Yêu và sự Ghét, để con người học hỏi, chứng nghiệm hiểu biết tất cả các thứ bài học từ trược đến thanh mà tiến hóa.

Do đó, con người chính là một Tiểu Thượng Đế.

Tiểu Thượng Đế học hỏi, tiến hóa mãi, qua rất nhiều kiếp, để cuối cùng đi hết các nấc thang tiến hóa, trở về hiệp nhứt cùng Thượng Đế, Tiểu hồn hiệp nhứt Đại hồn.

 

12) Mục đích của đời sống con người

Con người sống nơi cõi trần là để học hỏi và tiến hóa.

Nơi cõi trần có đủ các thứ bài học, rất đa dạng và phong phú. Học Ác rồi lại học Thiện, học điều Tà rồi học điều Chánh, học điều xấu rồi lại học điều tốt, học cho biết rõ cái tối tăm rồi học qua cái sáng suốt, học bài học vật chất rồi đến bài học tinh thần. vv . . .

Học bài học Ác, thử nghiệm làm Ác, được chấm điểm âm (-), bị thoái hóa, buồn bực khổ sở. Học Ác hoài cũng chán, nên bắt qua học Thiện, làm Thiện, được điểm dương (+) tiến hóa, cảm thấy vui sướng. Học tất cả các bài học ấy để chứng nghiệm Luật Nhân Quả, và Luật Công Bình thiêng liêng của Tạo Hóa.

Học dần dần, hết bài học nầy thì qua bài học khác, cứ thế mà tiến hóa dần. Đó là sự Tiến hóa theo dòng tự nhiên, nên rất chậm chạp.

Đức Chí Tôn mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là để thúc giục sự Tiến Hóa cho khẩn trương nhanh chóng thêm, bởi vì sắp đến kỳ thi chung kết để chấm dứt một giai đoạn tiến hóa của Càn Khôn Vũ Trụ, tuyển lựa người có đầy đủ phước đức vào Hội Long Hoa, rồi sau đó lại bắt đầu một chu trình tiến hóa mới ở cấp cao hơn.

Chỉ nơi cõi trần, con người mới có đủ các loại bài học để học tập, vừa học hỏi lý thuyết, vừa thực hành chứng nghiệm, nên sự tiến hoá đạt được tốc độ nhanh chóng.

Vậy, mục đích của đời sống con người nơi cõi trần là học tập và tiến hóa. Người nào sáng suốt thì học nhanh và tiến hoá nhanh, người nào bơ thờ thì học chậm, tiến hoá chậm.

Các điều vừa trình bày trên đây chỉ là một số nét lớn của Triết lý Đạo Cao Đài. Học giả muốn tìm hiểu kỹ hơn, chi tiết hơn, sâu hơn, thì phải nghiên cứu Giáo lý của Đạo Cao Đài một cách sâu rộng trong các Thánh ngôn của Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng giáng dạy.

Nói rằng, Triết lý của Đạo Cao Đài là gốc của các nền Triết lý trên thế giới từ trước đến nay, là bởi vì nền Triết lý nầy phát xuất trực tiếp từ Thượng Đế, chính Thượng Đế là nguyên lý đầu tiên của tất cả các nguyên lý trong Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.

Từ xưa đến nay, con người chưa trực tiếp được với Đấng Thượng Đế, nên chỉ hình dung Thượng Đế theo chủ quan của trí não phàm trần eo hẹp của mình, giống như trường hợp những anh mù rờ voi, rồi cãi lý với nhau, ai cũng cho cái nhận biết của mình là đúng và của kẻ khác là sai. Họ có ngờ đâu, tất cả những cái biết đó chỉ là những phần khác nhau của con voi, và tổng hợp tất cả những cái biết đó mới có thể hình dung đúng được con voi.

Trường phái Triết lý Duy Tâm, trường phái Triết lý Duy Vật, công kích nhau, chống đối nhau, cãi nhau đến muôn đời thì cũng không thể có bên thắng bên bại, vì họ chỉ thấy được một phiến diện của Chơn lý hằng hữu bất biến là Thượng Đế. Họ có biết đâu rằng Thượng Đế gồm cả hai mặt : Duy Tâm lẫn Duy Vật.

Ngày nay, Đấng Thượng Đế giáng trần qua việc sử dụng cơ bút để trực tiếp giảng dạy Giáo lý, Triết lý, Lễ nghi, để nhơn loại thấy rõ Thượng Đế hiện hữu, có thật, là Chơn lý hằng hữu bất biến, chớ không phải là giả thuyết tưởng tượng hay truyền thuyết mơ hồ vô căn cứ.

Đấng Thượng Đế mở đạo kỳ nầy là thể hiện lòng Đại từ Đại bi của một Đấng Đại Từ Phụ, nhìn thấy nhơn loại là con cái thương yêu của Ngài còn nhiều vô minh, trì trệ trên đường học hỏi và tiến hóa, mà kỳ thi chung kết lại gần kề. Ngài hiện diện là để khai phá màn vô minh, để nhơn loại biết Ngài, hướng về Ngài, khẩn trương lo học tập tiến hóa, trong hồng ân của Ngài.