12) Mục đích của đời sống con người

Con người sống nơi cõi trần là để học hỏi và tiến hóa.

Nơi cõi trần có đủ các thứ bài học, rất đa dạng và phong phú. Học Ác rồi lại học Thiện, học điều Tà rồi học điều Chánh, học điều xấu rồi lại học điều tốt, học cho biết rõ cái tối tăm rồi học qua cái sáng suốt, học bài học vật chất rồi đến bài học tinh thần. vv . . .

Học bài học Ác, thử nghiệm làm Ác, được chấm điểm âm (-), bị thoái hóa, buồn bực khổ sở. Học Ác hoài cũng chán, nên bắt qua học Thiện, làm Thiện, được điểm dương (+) tiến hóa, cảm thấy vui sướng. Học tất cả các bài học ấy để chứng nghiệm Luật Nhân Quả, và Luật Công Bình thiêng liêng của Tạo Hóa.

Học dần dần, hết bài học nầy thì qua bài học khác, cứ thế mà tiến hóa dần. Đó là sự Tiến hóa theo dòng tự nhiên, nên rất chậm chạp.

Đức Chí Tôn mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là để thúc giục sự Tiến Hóa cho khẩn trương nhanh chóng thêm, bởi vì sắp đến kỳ thi chung kết để chấm dứt một giai đoạn tiến hóa của Càn Khôn Vũ Trụ, tuyển lựa người có đầy đủ phước đức vào Hội Long Hoa, rồi sau đó lại bắt đầu một chu trình tiến hóa mới ở cấp cao hơn.

Chỉ nơi cõi trần, con người mới có đủ các loại bài học để học tập, vừa học hỏi lý thuyết, vừa thực hành chứng nghiệm, nên sự tiến hoá đạt được tốc độ nhanh chóng.

Vậy, mục đích của đời sống con người nơi cõi trần là học tập và tiến hóa. Người nào sáng suốt thì học nhanh và tiến hoá nhanh, người nào bơ thờ thì học chậm, tiến hoá chậm.

Các điều vừa trình bày trên đây chỉ là một số nét lớn của Triết lý Đạo Cao Đài. Học giả muốn tìm hiểu kỹ hơn, chi tiết hơn, sâu hơn, thì phải nghiên cứu Giáo lý của Đạo Cao Đài một cách sâu rộng trong các Thánh ngôn của Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng giáng dạy.

Nói rằng, Triết lý của Đạo Cao Đài là gốc của các nền Triết lý trên thế giới từ trước đến nay, là bởi vì nền Triết lý nầy phát xuất trực tiếp từ Thượng Đế, chính Thượng Đế là nguyên lý đầu tiên của tất cả các nguyên lý trong Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.

Từ xưa đến nay, con người chưa trực tiếp được với Đấng Thượng Đế, nên chỉ hình dung Thượng Đế theo chủ quan của trí não phàm trần eo hẹp của mình, giống như trường hợp những anh mù rờ voi, rồi cãi lý với nhau, ai cũng cho cái nhận biết của mình là đúng và của kẻ khác là sai. Họ có ngờ đâu, tất cả những cái biết đó chỉ là những phần khác nhau của con voi, và tổng hợp tất cả những cái biết đó mới có thể hình dung đúng được con voi.

Trường phái Triết lý Duy Tâm, trường phái Triết lý Duy Vật, công kích nhau, chống đối nhau, cãi nhau đến muôn đời thì cũng không thể có bên thắng bên bại, vì họ chỉ thấy được một phiến diện của Chơn lý hằng hữu bất biến là Thượng Đế. Họ có biết đâu rằng Thượng Đế gồm cả hai mặt : Duy Tâm lẫn Duy Vật.

Ngày nay, Đấng Thượng Đế giáng trần qua việc sử dụng cơ bút để trực tiếp giảng dạy Giáo lý, Triết lý, Lễ nghi, để nhơn loại thấy rõ Thượng Đế hiện hữu, có thật, là Chơn lý hằng hữu bất biến, chớ không phải là giả thuyết tưởng tượng hay truyền thuyết mơ hồ vô căn cứ.

Đấng Thượng Đế mở đạo kỳ nầy là thể hiện lòng Đại từ Đại bi của một Đấng Đại Từ Phụ, nhìn thấy nhơn loại là con cái thương yêu của Ngài còn nhiều vô minh, trì trệ trên đường học hỏi và tiến hóa, mà kỳ thi chung kết lại gần kề. Ngài hiện diện là để khai phá màn vô minh, để nhơn loại biết Ngài, hướng về Ngài, khẩn trương lo học tập tiến hóa, trong hồng ân của Ngài.