VIII. Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài.
ID026508 - Phần : VIII. Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài. 🖶 Print this Phần
Sách : Đạo Cao Đài (Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ)
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

 

Quan niệm về Vũ trụ của Đạo Cao Đài

Quan niệm về Vũ trụ của Đạo Cao Đài giải đáp một cách minh bạch các vấn đề về vũ trụ sau đây :

- Sự hình thành của vũ trụ hiện hữu như thế nào ?
- Vũ trụ hiện hữu có giới hạn không ? Gồm có bao nhiêu ngôi sao ?
- Vũ trụ có vô thỉ vô chung không ?
- Những khám phá của khoa học ngày nay có phù hạp với Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài không ?
- Địa vị của Quả Địa cầu của nhơn loại chúng ta trong Càn Khôn Vũ Trụ.

Đó là những vấn đề then chốt về Vũ trụ mà Triết lý Cao Đài sẽ đề cập đến với nhiều mới lạ chưa từng thấy.

Theo Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài thì Vũ trụ hiện hữu của chúng ta có 2 phần :

- Phần Hữu hình thấy được.
- Phần Vô hình không thấy được.

   

1. Sự Hình thành Vũ trụ.

Sự hình hành Vũ trụ theo Triết lý của Đạo Cao Đài, được Đức Chí Tôn giảng dạy, tóm gọn trong 2 đoạn Thánh Ngôn sau đây :

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. II. 62 : “Thầy đã nói với các con rằng : Khi chưa có chi trong Càn khôn Thế giới thì Khí Hư Vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực. Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, Bát Quái biến hóa vô cùng, mới lập ra Càn khôn Thế giới .

Thầy lại phân Tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là : Vật chất, Thảo mộc, Côn trùng, Thú cầm, gọi là chúng sanh.”

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 32 : “ Nếu không có Thầy thì không có chi trong Càn khôn Thế giới nầy, mà nếu không có Hư Vô chi Khí thì không có Thầy.”

Trong sách Đại Thừa Chơn Giáo, phần Vũ trụ, Đức Chí Tôn giảng dạy như sau :

“ Trước khi chưa định Ngôi Thái Cực, thì trong khoảng không gian ấy còn đương mịt mịt mờ mờ với khí Hông Mông, vì đó là thời kỳ Hỗn Nguyên vậy. Không gian ấy là Vô Cực.

Trong Vô Cực ấy lại có một cái Nguyên Lý thiên nhiên tuyệt diệu tuyệt huyền, rồi lại có thêm một cái Nguyên Khí tự nhiên nữa. Lý với Khí ấy, tức là Âm với Dương trong buổi Hồng Mông thời đại.

Lý Khí ấy lần lần ngưng kết với nhau mà đông tụ lâu đời nhiều kiếp, mới thành ra một khối Tinh Quang rất đầy đủ các sự tốt đẹp. Chừng đúng ngày giờ, khối ấy nổ tung ra một tiếng vang lừng dữ dội phi thường, làm rúng động cả không gian, bèn có một khối Đại Linh Quang từ trong tiếng nổ ấy văng ra lăn lộn quây quần giữa chốn không trung, bắn tủa hào quang rất chiếu diệu rạng ngời, trùng trùng điệp điệp, rực rỡ chói lòa khắp cả mọi nơi.

Ấy chính là ngôi Chúa Tể của Càn khôn Vũ trụ đã được biến hóa ra vậy.

Vũ trụ từ đây mới bắt đầu có Ngôi Thái Cực, trọn lành trọn tốt, toàn tri toàn năng, thiên biến vạn hóa, vô tận vô cùng, nắm trọn quyền hành thống chưởng cả Càn Khôn Vũ Trụ và lấy cơ thể Âm Dương mà phân thanh biện trược, làm máy động tịnh để gom tụ Khí Hư Vô, đặng hóa sanh muôn loài vạn vật.

Máy Âm Dương ấy cứ vần vần xoay chuyển, không ngưng nghỉ một giờ khắc nào, để dưỡng dục chúng sanh, bảo tồn Thiên Địa.

Khắp trong Vũ trụ, biết bao là quả Linh cầu, có quả trược, có quả thanh, có bực cao bực thấp, có cái sáng cái tối, thảy thảy đều tuân theo máy Thiên Cơ mà tuần tự chuyển luân xoay chạy : Cái lại cái qua, cái lên cái xuống, không bao giờ ngưng nghỉ đặng.

Linh cầu nào cao thanh khinh phù thì vượt qua mấy cõi khác mà lên ngất trên thượng từng không khí.

Vậy, quả Địa Cầu của các con đây, tuy là một quả Địa Cầu vật chất hữu hình trọng trược, song cũng còn thuộc bực khá, chớ dưới nữa lại có lắm quả Địa Cầu còn trọng trược hơn nữa. Những quả Địa Cầu như thế thì nặng trầm chìm tột dưới đáy sâu của Vũ trụ, nên rất tối tăm mờ mịt, âm khí nặng nề, thảm sầu buồn bã gớm ghê !”

Qua các bài Thánh Ngôn vừa trích bên trên, chúng ta rút được các điểm sau đây :

 

a). Hư Vô chi Khí (Khí Hư Vô).

Thời nguyên thủy, cả không gian có một chất khí Hồng Mông Hỗn Độn, mờ mờ mịt mịt, hiện hữu mà không biết được nguồn gốc có từ hồi nào và do đâu. Khí đó được gọi là Hư Vô chi Khí hay Khí Hư Vô.

Khí Hư Vô còn được gọi bằng nhiều danh từ khác nữa : Khí Hồng Mông, Khí Vô Vi, Khí Tiên Thiên, Khí Hạo nhiên.

Phật giáo gọi Khí Hư Vô là Chơn Như.

Lão giáo gọi khí ấy là Đạo.

Nho giáo gọi khí ấy là Vô Cực.

 

b). Thái Cực.

Khí Hư Vô lần lần ngưng kết, đông tụ lại với nhau lâu đời nhiều kiếp, chừng đúng ngày giờ thì nổ ra một tiếng lớn rúng động cả không gian, sanh ra một khối Đại Linh Quang phát ra hào quang chiếu diệu.

Khối Đại Linh Quang ấy được gọi là Thái Cực, là Đại Hồn của Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, trọn lành trọn tốt, toàn tri toàn năng, tuyệt diệu tuyệt huyền, biến hóa vô cùng, nắm trọn quyền hành tạo hóa.

Vũ trụ từ đây mới bắt đầu có ngôi Thái Cực, tuyệt đối, duy nhất.

 

c). Lưỡng Nghi - Tứ Tượng - Bát Quái :

Ngôi Thái Cực lấy cơ thể của mình mà phân định ra Lưỡng Nghi: Nghi Âm và Nghi Dương, cũng gọi là Khí Dương quang và Khí Âm quang. Đó là 2 khối năng lượng vĩ đại vô cùng tận mang 2 tánh chất đối nghịch nhau, nhưng lại có ái lực với nhau.

Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế chưởng quản Khí Dương quang, còn Khí Âm quang chưa có ai chưởng quản, vì lúc bấy giờ chỉ có một mình Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế được hóa sanh ra mà thôi. Ngài liền hóa thân ra Đức Phật Mẫu và giao cho Đức Phật Mẫu chưởng quản Khí Âm quang.

Vũ trụ từ đây mới có 2 Khí Dương quang và Âm quang do 2 Đấng đầu tiên chưởng quản là Đức Thượng Đế và Đức Phật Mẫu. Đức Phật Mẫu chỉ là một hóa thân của Đức Thượng Đế.

Trong công cuộc sáng tạo ra Càn Khôn Vũ Trụ, Đấng Thượng Đế làm tới đâu và cần người chưởng quản thì Ngài dùng quyền pháp vô biên của Ngài mà hóa thân ra người ấy để làm nhiệm vụ do Ngài sắp đặt.

Hai Khí Dương quang và Âm quang xoay chuyển không ngừng, đun đẩy cho rộng lớn thêm ra mãi để tạo thành Tứ Tượng. Tứ Tượng là 4 tượng: Thái Dương, Thái Âm, Thiếu Dương, Thiếu Âm.

Tứ Tượng tiếp tục xoay chuyển, càng rộng ra thì tốc độ xoay chuyển càng lớn, tạo thành Bát Quái gồm: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.

Bát Quái tiếp tục xoay chuyển, càng rộng thêm ra, tốc độ quay càng lúc càng lớn, để rồi đun đẩy va chạm nhau, phát sanh nhiệt độ rất lớn, hàng tỷ độ, tạo nên một áp suất vô cùng lớn, phát ra tiếng nổ dữ dội, bắn phá ra chung quanh các quả cầu lửa bay khắp không gian, quay cuồng dữ dội, tạo ra các Mặt Trời.

 

d). Mặt Trời - Địa Cầu - Mặt Trăng :

Các quả cầu lửa gọi là các Mặt Trời tiếp tục cháy sáng và quay tròn dữ dội, rồi bắn phá ra các quả cầu lửa nhỏ hơn, quay quanh Mặt Trời, để rồi nguội dần, tạo thành các Địa cầu. Các Địa cầu nầy là những Hành tinh của Mặt Trời.

Có những Địa cầu lớn, lúc chưa nguội, lại quay nhanh, văng ra các quả cầu nhỏ hơn nữa, rất mau nguội lạnh, tạo thành các Vệ tinh hay còn gọi là Mặt Trăng, quay chung quanh Địa cầu.

Tóm lại :

- Các Mặt Trăng quay quanh Địa cầu, tức là Vệ tinh quay quanh Hành tinh.

- Hệ thống Địa cầu và Mặt Trăng (Hành tinh và Vệ tinh) cùng quay chung quanh Mặt Trời.

- Hệ thống gồm Mặt Trời, các Địa cầu, các Mặt trăng được gọi là Thái Dương Hệ. Các Thái Dương Hệ đều quay quanh một Tâm điểm, gọi là Tâm của Vũ trụ.

Theo Khoa Học Thiên Văn, Thái Dương Hệ của chúng ta gồm có 9 Hành tinh quay chung quanh Mặt Trời. (Khi Hành tinh quay thì nó vẫn mang theo các Vệ tinh quay theo.)

Sau đây là thứ tự và khoảng cách của Hành tinh với Mặt Trời từ gần đến xa :

(Khoảng cách từ Mặt Trời đến Địa cầu của chúng ta là 150 triệu Kilômét, được dùng làm đơn vị Thiên văn, viết tắt đvtv, để đo khoảng cách các Hành tinh khác với Mặt Trời : 1 đvtv = 150 triệu Km)

TT Hành tinh . . . Khoảng cách đến Mặt Trời (đvtv) . . . Độ lớn đường kính (Km) . . . Khối lượng riêng . . . Số Vệ tinh
1 Thủy tinh0,3948785,40
2 Kim tinh0,72121045,20
3 Trái đất1,00127565,51
4 Hỏa tinh1,5267874,02
5 Mộc tinh5,201429841,316
6 Thổ tinh9,551205360,722
7 Thiên tinh19,21511181,215
8 Hải tinh30,10495281,68
9 Diêm tinh39,4022842,01

 

2. Vũ trụ của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Trong khoảng không gian bao la vô cùng tận, có rất nhiều vũ trụ được hình thành, mà Vũ trụ của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế chỉ là một phần tử.

Vũ trụ nầy được tượng trưng bằng Trái Càn Khôn thờ nơi Bát Quái Đài của Tòa Thánh Tây Ninh, mà Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế đã dạy Ngài Giáo Sư Thái Bính Thanh làm, trong bài Thánh Ngôn sau đây :

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 45 : “ Bính ! Thầy giao cho con lo một Trái Càn Khôn, con hiểu nghĩa gì không ? Cười . . . Một trái như Trái Đất tròn quay, hiểu không ? Bề kính tâm 3 thước 3 tấc, nghe con, lớn quá, mà phải vậy mới đặng, vì là cơ mầu nhiệm Tạo Hóa trong ấy, mà sơn màu xanh da trời, cung Bắc Đẩu và Tinh tú vẽ lên Càn khôn ấy.

Thầy kể Tam thập lục Thiên, Tứ Đại Bộ Châu, ở không không trên không khí, tức là không phải Tinh tú, còn lại Thất thập nhị Địa và Tam thiên Thế giới đều là Tinh tú. Tính lại 3072 ngôi sao. Con phải biểu vẽ lên đó cho đủ.

Con giở sách Thiên văn tây ra coi mà bắt chước. Tại ngôi Bắc Đẩu, con phải vẽ 2 cái bánh lái cho đủ và sao Bắc Đẩu cho rõ ràng. Trên vì sao Bắc Đẩu, vẽ Con Mắt Thầy, hiểu chăng ?

Đáng lẽ trái ấy phải bằng chai, đút trong một ngọn đèn cho nó thường sáng. Ấy là lời cầu nguyện rất quí báu cho cả nhơn loại Càn Khôn Thế Giới đó, nhưng mà làm chẳng kịp thì con tùy tiện làm thế nào cho kịp Đại Hội, nghe à !”

Theo bài Thánh Ngôn trên đây, Vũ trụ của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế gồm có 2 phần: Phần Vô hình và phần Hữu hình.

 

a). Phần Vô hình.

- Phần Vô hình gồm : Tam thập lục Thiên (36 từng Trời) và Tứ Đại Bộ Châu (4 Bộ Châu lớn) ở không không trên thượng từng không khí. (Xem chi tiết nơi phần sau)

 

b). Phần Hữu hình.

- Phần Hữu hình gồm: Thất thập nhị Địa (72 quả Địa cầu) và Tam thiên Thế giới (3000 Thế giới), tổng cộng là 3072 ngôi sao. (Bởi vì khi chúng ta nhìn lên bầu trời thấy các Hành tinh, Vệ tinh và các thế giới đều là những ngôi sao).

Địa cầu mà nhơn loại chúng ta đang ở là Địa cầu số 68 trong Thất thập nhị Địa.

Mặt khác, các nhà Thiên Văn học trên Thế giới đã dùng các Viễn Vọng kính, Kính Thiên văn quang phổ, . . . đã tìm thấy được hàng tỷ ngôi sao ở trong nhiều dãy Thiên hà.

Vậy, Vũ trụ của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế chỉ có 3072 ngôi sao thì quả là rất bé nhỏ so với những gì mà khoa Thiên Văn khám phá được.

Như thế thì bên ngoài Vũ trụ của chúng ta còn có biết bao Vũ trụ khác, có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn Vũ trụ của chúng ta.

   

Vô thỉ Vô chung.

Vô thỉ hay Vô thủy là không có chỗ bắt đầu, tức là không có nguồn gốc. Vô chung là không có chỗ tận cùng.

Vũ trụ là một thực thể nên cũng phải nằm trong Định luật Sanh Tử, tức là : Thành, Trụ, Hoại, Không, giống y như các thực thể khác. Hễ có Sanh ra ắt phải có lúc Tử, để rồi sau đó được tái tạo tức Sanh ra trở lại, rồi sau một thời gian thì bị hủy diệt, và cứ thế tiếp diễn mãi trên con đường tiến hóa vô cùng tận. Nhưng trong khoảng thời gian từ lúc Sanh ra cho đến lúc bị Hủy diệt, lâu hay mau là tùy theo thực thể.

Đối với một Vũ trụ thì khoảng thời gian ấy rất dài, có thể đến hằng tỷ năm, khó có thể tưởng tượng nổi, nên mới có nhiều người cho rằng Vũ trụ nầy là Vô thỉ Vô chung.

Thật ra, như trong phần trình bày trên, Vũ trụ có khởi đầu, và mức khởi đầu đó là Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, tức là Thái Cực, bởi vì chính Đấng Thượng Đế ấy đã tạo hóa ra Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật hiện hữu.

Lại hỏi : Ai sanh ra Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế ?

Đáp : Khí Hư Vô sanh ra Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Đến đây, sự tìm hiểu của chúng ta phải dừng lại, bởi vì nếu tiếp tục hỏi nữa thì không còn cách nào giải đáp được.

Chúng ta, cả Vũ trụ của chúng ta đang trên đường tiến hóa, tiến hóa mãi cho đến vô tận vô biên, chớ không phải chúng ta đi trên con đường tròn, không có điểm đầu tiên và điểm cuối cùng, vì đi trên vòng tròn thì không phải là tiến hóa, mà chỉ là sự biến hóa theo một chu kỳ nhứt định.

Sự khác nhau là ở chỗ Tiến hóa chớ không phải Biến hóa.

 

Sự hủy diệt vũ trụ.

Trong Vũ trụ, ánh sáng phát ra từ các Mặt Trời do các phản ứng nhiệt hạch của vật chất trong Mặt Trời bức xạ ra ngoài. Ánh sáng nầy sưởi ấm các Hành tinh, được các Hành tinh và Vệ tinh chung quanh hấp thụ, tạo ra các phản ứng sinh hóa duy trì sự sống.

Sự phát ánh sáng liên tục của Mặt Trời làm khối lượng Mặt Trời giảm dần theo thời gian, đến lúc nào đó, hàng tỷ năm sau, Mặt Trời cũng phải tắt. Nhiệt độ trong Thái Dương Hệ sẽ giảm xuống rất nhanh, đến Không độ tuyệt đối (O o K) tức là 273 độ dưới Không độ bách phân. (O o K = - 273 o C)

Các Thái Dương Hệ khác cũng ở trường hợp tương tự, sẽ lần lần tắt hẳn. Cả bầu Vũ trụ chìm trong cảnh vô cùng tối tăm và lạnh lẽo, nhiệt độ hạ xuống rất nhanh, tất cả sinh vật đều chết hết, và vật chất đông lại thành những khối cứng.

Đó là một cuộc Đại Tận Thế của Vũ trụ. Nó nằm trong Định luật tự nhiên, hễ có sanh ra thì ắt phải có lúc bị hủy diệt.

Sau khi nó bị hủy diệt thì nó lại bắt đầu hình thành một Vũ trụ mới, đó là sự tái tạo Vũ trụ.

Đời sống của một Vũ trụ rất lâu dài, kể từ lúc nó được hình thành cho đến khi nó bị hủy diệt, kéo dài đến hàng tỷ năm, trong lúc đó, đời sống của một đời người nơi cõi trần lấy 100 năm làm kỳ hạn thì chẳng đáng kể gì.

 

Sự tái tạo vũ trụ.

Khi các Mặt Trời của Vũ trụ tắt hẳn, nhiệt độ hạ xuống đến Không độ tuyệt đối hay thấp hơn nữa, làm cho trường hấp dẫn vạn vật giữa các hệ thống vật chất tăng lên gấp nhiều lần, làm chúng hút nhau rất mạnh.

Các Vệ tịnh bị hút rơi vào Hành tinh, các Hành tinh bị hút mạnh rơi vào Mặt Trời, các Mặt Trời đã tắt bị hút mạnh rơi vào Tâm Vũ trụ. Càng đến gần, lực hút trở nên rất mạnh, làm cho vận tốc rơi càng lúc càng tăng, lớn đến mức khủng khiếp, bằng vận tốc của ánh sáng (300 ngàn cây số trong 1 giây). Các Hệ thống va chạm vào nhau vô cùng mãnh liệt, tạo ra một sức nóng khủng khiếp, nhiệt độ tại trung tâm vũ trụ lên đến hằng tỷ độ, mọi thứ vật chất đều bốc thành hơi tức là biến thành chất khí, chúng quay cuồng hỗn độn, tạo ra một áp suất vô cùng lớn, đến một lúc nào đó thì gây ra tiếng nổ ghê gớm, làm bắn phá từ trung tâm vũ trụ ra chung quanh những quả cầu lửa to lớn, để tạo thành các Mặt Trời mới. Các Mặt Trời mới lại tiếp tục bắn phá ra chung quanh, tạo ra các Hành tinh mới quay quanh Mặt Trời mới. Các Hành tinh lớn lại bắn phá ra tạo nên các Vệ tinh quay quanh Hành tinh.

Thế là một Vũ trụ mới được thành hình và bắt đầu hoạt động trong một vận hội tiến hóa mới, với một đời sống mới.

Các Vệ tinh có kích thước nhỏ nên nguội trước, kế đó là các Hành tinh nguội dần, vật chất bên ngoài đông tụ lại thành lớp vỏ cứng bao bọc hành tinh. Khi nhiệt độ hạ xuống đến mức thích hợp, hơi nước bao quanh hành tinh tạo ra các trận mưa dữ dội, nước rơi xuống thành sông ngòi và chảy vào những chỗ trũng thấp tạo thành biển.

Trên Hành tinh Địa cầu, khi có nước và ánh sáng Mặt Trời rọi đến thì xuất hiện sự sống, các sinh vật bắt đầu nảy sanh. Đầu tiên là các sinh vật đơn giản chỉ có một tế bào xuất hiện trong nước, lần lần tiến hóa lên cấp cao hơn và phức tạp hơn, theo Định luật Tiến hóa của Vũ trụ : Vật chất Kim thạch tiến hóa lên loài Thảo mộc, Thảo mộc tiến hóa lên Thú cầm, Thú cầm tiến hóa lên nhơn loại. Rồi loài người lo tu hành, giúp người giúp đời, thì lần lần tiến hóa lên các phẩm Thần Thánh Tiên Phật.

Tóm lại, Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài quan niệm rằng Vũ trụ không phải là Vô thỉ, vì nó có khởi đầu. Điểm khởi đầu đó là Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, vì Đấng ấy đã tạo dựng ra Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.

Vũ trụ cũng không phải là Vô chung (không có mức cuối cùng), vì Vũ trụ có lúc tự hủy diệt và mức cuối cùng của nó là cuộc Đại Tận Thế, để rồi sau đó lại khởi đầu hình thành một Vũ trụ mới tiến hóa hơn, và cứ thế tiếp diễn mãi trên con đường Tiến hóa vô cùng tận.

 

4. Các Vũ trụ khác

Vũ trụ của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế mà chúng ta đang ở đây chỉ gồm có 3072 ngôi sao. Bên ngoài Vũ trụ nầy cón có rất nhiều Vũ trụ khác nữa, đang biến chuyển không ngừng trong khoảng không gian bao la vô cùng rộng lớn.

Những Vũ trụ chung quanh, có những Vũ trụ to lớn hơn, có những Vũ trụ nhỏ bé hơn, có những Vũ trụ đang hoạt động như của chúng ta, có những Vũ trụ đang trong thời kỳ hủy diệt, cũng có những Vũ trụ đang trong thời kỳ tái tạo.

Tất cả những Vũ trụ nầy như là những tế bào trong vô lượng tế bào trong một Siêu Đại Vũ trụ vô tận vô biên, không thể hiểu biết được.

Mỗi Vũ trụ đều có một Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế tạo ra và ngự trị, cầm quyền vô vi, vận hành và tiến hóa không bao giờ ngừng nghỉ.

   

a). Quang tử - Âm điện tử - Dương điện tử.

Quang tử, tên khoa học gọi là Photon, là hạt ánh sáng. Hạt nầy không có khối lượng, truyền đi theo dạng sóng (gọi là sóng ánh sáng) với vận tốc rất nhanh : 300 ngàn cây số trong một giây (300.000 Km/giây)

Thái Cực là một khối năng lượng vĩ đại dưới dạng ánh sáng, gồm vô số Quang tử. Các Quang tử nầy được Thái Cực bắn ra chung quanh thành những tia sáng. Trong một lúc nào đó, các tia sáng kết hợp thành từng bó sóng ánh sáng, để rồi kết hợp và ngưng tụ lại, biến đổi năng lượng ánh sáng thành khối lượng vật chất, dưới dạng các hạt có mang điện tích : Điện tích Âm và điện tích Dương.

Sự ngưng kết để biến đổi năng lượng ánh sáng (biểu thị bằng chữ E : Énergie) thành vật chất có khối lượng là m (Masse), với vận tốc ánh sáng là C = 300.000 Km/giây, theo công thức của nhà Bác học Einstein :

E = m C2

Âm Điện tử : Hạt vật chất nhỏ có mang điện tích âm được gọi là Âm Điện tử, tên khoa học là Électron, viết tắt là e, có khối lượng và điện tích đo được là :

. Khối lượng = 0,9. 10 -27 gram.

. Điện tích = - 1,6. 10 -19 coulomb.

Dương Điện tử : Hạt vật chất có mang điện tích dương gọi là Dương Điện tử, tên khoa học là Proton, viết tắt là p, có khối lượng và điện tích đo được là :

. Khối lượng = 1840 lần khối lượng của e.

. Điện tích = + 1,6 . 10 -19 coulomb.

Như vậy, từ Quang tử Photon, đã tạo ra được 2 loại vật chất có dạng hạt : Électron và Proton mang điện tích Âm và điện tích Dương, có trị số ngang bằng nhau, nhưng khác dấu.

Chúng ta so sánh thì thấy rằng :

-Thái Cực là một khối Quang tử (Photon) vĩ đại.

-Lưỡng Nghi Âm quang và Dương quang là 2 khối Âm Điện tử (Électron) và Dương Điện tử (Proton).

Đấng Thượng Đế phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi chính là sự ngưng kết của các bó sóng ánh sáng, biến năng lượng ánh sáng thành vật chất là Âm Điện tử và Dương Điện tử.

 

b). Trung hòa tử và Nguyên tử Khinh khí.

Âm Điện tử và Dương Điện tử đã thành hình rồi thì chúng kết hợp với nhau do sức hút của điện âm và điện dương theo 2 trường họp : Tĩnh và Động, để tạo ra 2 loại vật chất mới là : Trung hòa tử (Neutron, viết tắt là n) và Nguyên tử Khinh khí (Hydrogène, ký hiệu là H) theo 2 phương trình :

-Kết hợp theo dạng tĩnh :

1 Electron + 1 Proton 1 Neutron
e +p n

Trung hòa tử (Neutron) là hạt không mang điện.

-Kết hợp theo dạng động :

Dương Điện tử nặng và to lớn hơn Âm Điện tử rất nhiều nên nó làm cái Nhân bên trong, còn Âm Điện tử nhẹ mình nên quay tròn chung quanh Nhân, tạo thành một Nguyên tử Khinh Khí Hydrogène H :

Đến giai đoạn nầy, ta có 4 loại hạt vật chất : 2 hạt cơ bản là Âm Điện tử (e) và Dương Điện tử (p), và 2 loại hạt mới là Trung hòa tử (n) và Nguyên tử Khinh khí (H).

Đây chính là Tứ Tượng do Lưỡng Nghi tạo ra :

. Électron (e) là Thái Âm.
. Proton (p) là Thái Dương.
. Neuton (n) là Thiếu Dương.
. Hydrogène (h) là Thiếu Âm.

 

c). 8 Nguyên tử đầu tiên.

Ba loại hạt nhỏ (vi tử) : e, p, n luôn luôn xoay chuyển để tiếp tục kết hợp với nhau, lần lượt từ ít đến nhiều, để tạo thành 8 Nguyên tử đầu tiên đứng đầu Bảng Phân loại Tuần hoàn các Nguyên tố.

Các Proton (p) và Neutron (n) nặng hơn Électron (e) rất nhiều nên làm Nhân nguyên tử, còn Électron (e) thì nhẹ nên quay chung quanh Nhân. Hễ trong Nhân có bao nhiêu Proton p thì bên ngoài cũng phải có bấy nhiêu Électron e để cho điện tích của Nguyên tử luôn luôn được trung hòa. Số Neutron trong Nhân thì có số lượng tăng dần.

8 Nguyên tử đầu tiên được tạo thành, đánh số thứ tự từ 0 đến 7, có tên, ký hiệu và cơ cấu sau đây :

0. Hélium ký hiệu He gồm có : 2e 2p 2n
1. Lithium - Li - 3e 3p 4n
2. Bérylium - Be - 4e 4p 5n
3. Bohr - B - 5e 5p 6n
4. Carbone - C - 6e 6p 6n
5. Nitrogène - N - 7e 7p 7n
6. Oxygène - O - 8e8p 8n
7. Fluor - F - 9e 9p 10n

Xem như thế, 8 Nguyên tử được tạo thành đầu tiên chính là Bát Quái, do Tứ Tượng biến sanh, và được so sánh như sau :

CHẤN CÀN ĐOÀI LY TỐN KHẢM CẤN KHÔN
He Li Be B C N O F

Càn có tính thuần Dương, đối chiếu với nguyên tử Lithium (Li) có tính dương điện mạnh nhứt.

Khôn có tính thuần Âm, nên đối chiếu với nguyên tử Fluor (F) có tính âm điện mạnh nhứt.

 

d).Các Nguyên tử khác trong Bảng Phân loại Tuần hoàn.

Sau khi đã tạo thành 8 Nguyên tử đầu tiên, các vi tử e, p, n tiếp tục kết hợp với nhau với số lượng càng lúc càng nhiều, càng lúc càng phức tạp để tạo thành một loạt các nguyên tử to lớn hơn, có tính chất đại cương gần giống như tính chất của 8 nguyên tử đầu tiên, tạo thành 8 nhóm nguyên tử, đánh số từ 0 đến 7, kể ra sau đây :

Tên nhóm : 0 1 2 3 4 5 6 7
8 nguyên tử đầu: He Li Be B C N O F
Ne Na Mg Al Si P S Cl
Ar K Ca Ga Ge As Se Br
Kr Rb Sr In Sn Sb Te I
Xe Cs Ba Tl Pb Bi Po At
. . . . . . . . . . . . . . . .

Hiện nay, các nhà khoa học đã tìm ra được 105 loại nguyên tử khác nhau nằm trong 8 nhóm kể trên. Ngoài ra, mỗi nhóm còn có một nhóm phụ mà các nguyên tử có cấu tạo phức tạp, không tiện kể ra đây.

Số 105 loại nguyên tử nầy kết hợp lại với nhau, tùy theo chất, để tạo thành các Đơn chất, và các Hợp chất, từ đơn giản đến phức tạp. Các Đơn chất và các Hợp chất tạo thành hệ thống vật chất trong Càn Khôn Vũ Trụ với muôn hình muôn vẻ với muôn màu sắc phong phú khác nhau.

Tám nguyên tử được hình thành đầu tiên ấy tương ứng với Bát Quái, vận chuyển và biến hóa vô cùng để tạo thành Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.

 

e). Sự hình thành Vũ trụ.

Thái Cực là trung tâm của Vũ trụ. Thái Cực phát ra các tia sáng mang theo Quang tử truyền đi rất xa, với vận tốc 300.000 Km/giây. Đến một lúc nào đó, các Quang tử ngưng kết tạo thành các Âm điện tử. Nơi đó là giới hạn của Vũ trụ, và các Âm điện tử được tạo ra càng lúc càng nhiều, làm thành như những đám mây vĩ đại, đó là Khí Âm quang.

Mặt khác, các Quang tử từ Thái Cực phát ra cũng ngưng kết thành các Dương điện tử (Proton), và các Dương điện tử tạo thành những đám mây vĩ đại Dương điện tử. Đó là Khí Dương quang.

Các Dương điện tử có khối lượng rất lớn so với Âm điện tử, nên nó hút các Âm điện tử theo 2 lực : Lực hấp dẫn vạn vật và lực điện trường. Lúc ban đầu lực hút nầy không lớn lắm vì khoảng cách còn xa, nhưng khi khoảng cách càng gần thì lực hút trở nên rất mạnh (vì lực hút tỉ lệ nghịch với bình phương của khoảng cách). Các Âm điện tử bị hút thật mạnh vào tâm vũ trụ, va chạm mãnh liệt với các Dương điện tử trong một trạng thái xoay chuyển cực kỳ mãnh liệt, một mặt kết hợp để tạo ra các phân tử đơn chất và hợp chất, một mặt tạo ra sức nóng dữ dội càng lúc càng tăng, dần dần nhiệt độ lên tới hàng tỷ độ, sanh ra một áp suất cực lớn, gây ra một vụ nổ ghê gớm, xoay tròn bắn phá ra các quả cầu lửa lớn làm thành các Mặt Trời.

Các khối cầu lửa lớn nầy tiếp tục quay tròn, bắn phá ra các quả cầu lửa nhỏ hơn tạo thành các Hành tinh. Các Hành tinh lớn lại tiếp tục bắn phá để tạo thành các Vệ tinh.

Các Vệ tinh và các Hành tinh nguội dần, tạo ra lớp vỏ bao bọc bên ngoài. Khi nguội đến một nhiệt độ thích hợp thì lớp nước bao phủ các Hành tinh tạo thành các đám mưa rơi xuống chảy thành sông và biển.

Khi đã có nước và ánh sáng Mặt Trời, sinh vật bắt đầu xuất hiện, từ đơn giản lần lần đến phức tạp. Loài rong rêu xuất hiện trước nhứt, tiến hóa dần thành Thảo mộc, Thảo mộc tiến hóa thành Thú cầm, và sau cùng bực Thú cầm cao cấp tiến hóa thành Nhơn loại.

 

6. Địa vị của Địa cầu chúng ta trong Càn Khôn Vũ Trụ.

Vũ trụ Hữu hình gồm có : Tam thiên Thế giới (3000 Thế giới ) và Thất thập nhị Địa (72 Địa cầu).

Tam thiên Thế giới thanh nhẹ hơn Thất thập nhị Địa, nên chiếm phần trên của Vũ trụ, Thất thập nhị Địa trọng trược hơn nên ở phần dưới của Vũ trụ.

Trong Tam thiên Thế giới cũng như trong Thất thập nhị Địa, các quả tinh cầu thanh nhẹ thì ở bên trên, các quả nặng trược thì ở bên dưới. Càng lên cao thì càng thanh nhẹ trong sáng, và càng xuống thấp thì càng nặng trược tối tăm.

Các Địa cầu trong dãy Thất thập nhị Địa được đánh số từ 1 đến 72, số 1 thì thanh nhẹ nhứt và số 72 thì nặng trược nhứt. Điạ cầu của nhơn loại chúng ta là Địa cầu số 68.

Phía dưới Địa cầu 68 của chúng ta có 4 quả Địa cầu : 69, 70, 71, và 72 rất trọng trược, chìm đắm trong cảnh tối tăm nên được gọi là U Minh Địa. Trình độ tiến hóa của 4 Địa cầu nầy còn rất kém so với Địa cầu 68 của chúng ta.

Nhưng trình dộ tiến hóa của Địa cầu 68 lại kém xa so với Địa cầu 67. Càng đi lên thì càng tiến hóa.

“ Đứng bực Đế Vương nơi trái Địa cầu 68 nầy, chưa đặng vào bực chót của Địa cầu 67. Trong Địa cầu 67, nhơn loại cũng phân ra đẳng cấp dường ấy. Cái quí trọng của mỗi Địa cầu càng tăng thêm hoài, cho tới Đệ nhứt cầu (Địa cầu số 1), Tam thiên thế giới . . . ” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 74)

Sự tiến hóa đi hết dãy Thất thập nhị Địa thì bước lên Tam thiên Thế giới (3000 Thế giới), và cũng tiến hóa dần từ thấp lên cao.

Địa cầu 68 của chúng ta chỉ có 1 phần thanh, mà lại có 2 phần trược, nên Phật giáo gọi Địa cầu 68 là cõi Ta-bà, vì cõi nầy có nhiều ác trược, người tu phải nhẫn nhịn tối đa, nhưng nếu tu hành được thì rất mau đắc quả.

Trong Vô Lượng Thọ Kinh, Đức Phật nói rằng :

“Ở cõi Ta-bà nầy mà làm lành một ngày đêm, hơn làm lành một trăm năm nơi cõi của Phật A-Di-Đà. Tại sao vậy ? Vì cõi A-Di-Đà là vô vi tự nhiên, chứa đủ sự lành, không có một sự dữ nào dù nhỏ xíu như mảy lông sợi tóc.”

 

a). Phần Vô hình của vũ trụ.

Như trong các phần vừa trình bày trên, Phần Hữu hình của Vũ trụ Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế gồm có: Bên trên là Tam thiên thế giới và bên dưới là Thất thập nhị Địa. Tông cộng có tất cả 3072 ngôi sao.

Vũ trụ Hữu hình được tượng trưng bằng Trái Càn khôn thờ nơi Bát Quái Đài của Tòa Thánh Tây Ninh.

Sự xoay chuyển của Tam thiên thế giới và Thất thập nhị Địa luôn luôn được đều hòa, không ngừng nghỉ, cái lên cái xuống, cái qua cái lại, không bao giờ va chạm nhau. Có được như thế là do sự điều khiển của các Đấng thiêng liêng vô hình.

Các tinh cầu và các quả Địa cầu luôn luôn được Đấng Thượng Đế ban cho Thần lực (tức là năng lượng thiêng liêng) vừa đủ để giúp cho sự chuyển động duy trì điều hòa, ổn định và không ngừng nghỉ.

Cũng giống như một cái đồng hồ điện tử, cục pin nhỏ cung cấp năng lượng điện cho nó chạy đều hòa và không ngừng nghỉ. Nếu pin còn điện quá yếu hay hết điện thì năng lượng không đủ cung cấp cho đồng hồ thì đồng hồ phải chạy chậm lại hay ngừng hẳn. Cho nên, nếu Đấng Thượng Đế cung cấp Thần lực cho các tinh cầu và các Địa cầu một cách không đều hòa và liên tục thì các quả cầu ấy sẽ chuyển động rối loạn hay ngừng quay, đó cũng là một cuộc Đại hủy diệt vậy.

Để điều khiển các sự vận chuyển của các tinh cầu và Địa cầu, cũng như điều khiển cuộc tiến hóa của cả Càn khôn, Đức Thượng Đế phải lập ra một guồng máy vô hình, gồm nhiều cơ quan là các từng Trời và các Đấng Thần Thánh Tiên Phật để giúp tay cho Đức Thượng Đế.

Phần Vô hình của Càn Khôn Vũ Trụ không thể thấy được mà chúng ta biết được là do Đức Thượng Đế giảng dạy qua Cơ bút, gồm có :

- Tam thập lục Thiên.
- Thập nhị Thiên và Cửu Trùng Thiên.
- Tứ Đại Bộ Châu.

 

b).Tam thập lục Thiên.

Tam thập lục Thiên là 36 từng Trời.

Ngôi Thái Cực ở tại Bạch Ngọc Kinh, nơi ấy là trung tâm của Càn khôn Vũ trụ. Thái Cực biến hóa ra Lưỡng Nghi : Âm quang và Dương quang. Thái Cực và Lưỡng Nghi hiệp lại thành 3 Ngôi Trời, gọi là Tam Thiên Vị, chiếm 3 từng Trời tại trung tâm của Vũ trụ.

Dưới Tam Thiên Vị là 33 từng Trời (Tam thập tam Thiên). Nhập chung lại thì đủ 36 từng Trời.

Nơi Tam thập lục Thiên là ngôi vị của chư Thần Thánh Tiên Phật.

 

c). Thập nhị Thiên - Cửu Trùng Thiên.

- Thập nhị Thiên là 12 từng Trời.
- Cửu Trùng Thiên là 9 từng Trời.
- Cửu Trùng Thiên nằm trong Thập nhị Thiên.

Dưới Tam thập lục Thiên là Thập nhị Thiên. Trong Thập nhị Thiên, bên trên có 3 từng Trời, kể ra :

- Hỗn Nguơn Thiên, do Đức Phật Di-Lạc chưởng quản.
- Hội Nguơn Thiên, cũng do Đức Phật Di-Lạc chưởng quản.
- Hư Vô Thiên, do Đức Phật Nhiên Đăng chưởng quản.

Trong từng Trời Hư Vô Thiên có Ngọc Hư Cung, là nơi họp triều đình của Đức Chí Tôn, để điều hành toàn cả các hoạt động trong Càn Khôn Vũ Trụ. Các Đấng Thần Thánh Tiên Phật họp Đại Hội để lập Thiên Điều cai quản Càn khôn.

Dưới 3 từng Trời nầy là Cửu Trùng Thiên, kể ra :

- Tạo Hóa Thiên, do Đức Phật Mẫu chưởng quản.
- Phi Tưởng Thiên, do Đức Từ Hàng Bồ Tát chưởng quản.
- Hạo Nhiên Thiên, do Đức Chuẩn Đề Bồ Tát và Đức Phổ Hiền Bồ Tát chưởng quản.
- Từng Trời thứ 6 : Kim Thiên,
- Từng Trời thứ 5 : Xích Thiên,
- Từng Trời thứ 4 : Huỳnh Thiên,
- Từng Trời thứ 3 : Thanh Thiên,
- Từng Trời thứ 2 có Vườn Đào Tiên,
- Từng Trời thứ 1 có Vườn Ngạn Uyển.

Thập nhị Thiên là nơi làm việc của các Đấng Thần Thánh Tiên Phật, điều hành tất cả các hoạt động của Càn Khôn Vũ Trụ và sự tiến hóa của Vạn linh.

 

d).Tứ Đại Bộ Châu.

Có 2 Tứ Đại Bộ Châu : Trên và Dưới.

- Tứ Đại Bộ Châu phía trên cai quản Tam thiên thế giới, gọi là Tứ Đại Bộ Châu Thượng, gồm :

. Bắc Đại Bộ Châu
. Đông Đại Bộ Châu
. Nam Đại Bộ Châu
. Tây Đại Bộ Châu.

- Tứ Đại Bộ Châu bên dưới cai quản Thất thập nhị Địa, gọi là Tứ Đại Bộ Châu Hạ, gồm :

. Bắc Cù Lư Châu
. Đông Thắng Thần Châu
. Nam Thiện Bộ Châu
. Tây Ngưu Hóa Châu.

Địa cầu 68 của nhơn loại chúng ta ở trong Nam Thiện Bộ Châu.

 

7. Tổng Kết về Vũ Trụ Quan.

Vũ trụ của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế gồm có 2 phần : Hữu Hình và Vô Hình.

Phần Vô hình rất quan trọng vì nó điều khiển toàn bộ các hoạt động của Phần Hữu hình.

Phần Vô hình ở tại vùng Trung tâm của Vũ trụ.

Phần Hữu hình nằm bên ngoài Phần Vô hình, và luôn luôn có chuyển động xoay tròn đều hòa và liên tục, không bao giờ ngừng nghỉ.

Phần Vô hình gồm : Tam thập lục Thiên (36 Từng Trời), Thập nhị Thiên (12 Từng Trời), và 2 Tứ Đại Bộ Châu Thượng và Hạ.

Phần Hữu hình gồm 3072 ngôi sao, chia ra : Tam thiên thế giới (3000 Thế giới) ở bên trên và Thất thập nhị Địa (72 Địa cầu) ở bên dưới.

Trong khoảng không gian bao la không cùng tận, Càn khôn Vũ trụ của Đức Chí Tôn là một khối cầu vĩ đại, trong đó có chứa 3072 ngôi sao.

Để có thể hình dung được các thành phần của Vũ trụ nầy, chúng ta tưởng tượng và so sánh với cái hột gà :

- Cái ngòi ở giữa tròng đỏ hột gà là Trung tâm Vũ trụ.
- Phần tròng đỏ hột gà là Phần Vô hình của Vũ trụ.
- Phần tròng trắng hột gà là Phần Hữu hình của Vũ trụ.
- Vỏ của hột gà là biên giới của Vũ trụ.

Sau đây là Bảng Tóm tắt cơ cấu thành phần của Càn khôn Vũ trụ của Đức Chí Tôn, kể từ Trung tâm Vũ trụ ra đến bên ngoài biên của Vũ trụ

1. TAM THẬP LỤC THIÊN
    Tam Thiên Vị
    33 Từng Trời

2. THẬP NHỊ THIÊN
    Hỗn Nguơn Thiên
    Hội Nguơn Thiên
    Hư Vô Thiên

    Cửu Trùng Thiên (9 Từng Trời)

3. TỨ ĐẠI BỘ CHÂU THƯỢNG
    . Bắc Đại Bộ Châu
    . Đông Đại Bộ Châu
    . Nam Đại Bộ Châu
    . Tây Đại Bộ Châu

4. TAM THIÊN THẾ GIỚI

5. TỨ ĐẠI BỘ CHÂU HẠ
    .Bắc Cù Lư Châu
    .Đông Thắng Thần Châu
    .Nam Thiện Bộ Châu
    .Tây Ngưu Hóa Châu

6. THẤT THẬP NHỊ ĐỊA