5. Giải thích Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài theo Khoa học Nguyên tử.
ID026524 - Tiết : 5. Giải thích Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài theo Khoa học Nguyên tử. 🖶 Print this Tiết
Chương : Phần hữu hình của Vũ trụ.
Phần : VIII. Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài.
Sách : Đạo Cao Đài (Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ)
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

 

a). Quang tử - Âm điện tử - Dương điện tử.

Quang tử, tên khoa học gọi là Photon, là hạt ánh sáng. Hạt nầy không có khối lượng, truyền đi theo dạng sóng (gọi là sóng ánh sáng) với vận tốc rất nhanh : 300 ngàn cây số trong một giây (300.000 Km/giây)

Thái Cực là một khối năng lượng vĩ đại dưới dạng ánh sáng, gồm vô số Quang tử. Các Quang tử nầy được Thái Cực bắn ra chung quanh thành những tia sáng. Trong một lúc nào đó, các tia sáng kết hợp thành từng bó sóng ánh sáng, để rồi kết hợp và ngưng tụ lại, biến đổi năng lượng ánh sáng thành khối lượng vật chất, dưới dạng các hạt có mang điện tích : Điện tích Âm và điện tích Dương.

Sự ngưng kết để biến đổi năng lượng ánh sáng (biểu thị bằng chữ E : Énergie) thành vật chất có khối lượng là m (Masse), với vận tốc ánh sáng là C = 300.000 Km/giây, theo công thức của nhà Bác học Einstein :

E = m C2

Âm Điện tử : Hạt vật chất nhỏ có mang điện tích âm được gọi là Âm Điện tử, tên khoa học là Électron, viết tắt là e, có khối lượng và điện tích đo được là :

. Khối lượng = 0,9. 10 -27 gram.

. Điện tích = - 1,6. 10 -19 coulomb.

Dương Điện tử : Hạt vật chất có mang điện tích dương gọi là Dương Điện tử, tên khoa học là Proton, viết tắt là p, có khối lượng và điện tích đo được là :

. Khối lượng = 1840 lần khối lượng của e.

. Điện tích = + 1,6 . 10 -19 coulomb.

Như vậy, từ Quang tử Photon, đã tạo ra được 2 loại vật chất có dạng hạt : Électron và Proton mang điện tích Âm và điện tích Dương, có trị số ngang bằng nhau, nhưng khác dấu.

Chúng ta so sánh thì thấy rằng :

-Thái Cực là một khối Quang tử (Photon) vĩ đại.

-Lưỡng Nghi Âm quang và Dương quang là 2 khối Âm Điện tử (Électron) và Dương Điện tử (Proton).

Đấng Thượng Đế phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi chính là sự ngưng kết của các bó sóng ánh sáng, biến năng lượng ánh sáng thành vật chất là Âm Điện tử và Dương Điện tử.

 

b). Trung hòa tử và Nguyên tử Khinh khí.

Âm Điện tử và Dương Điện tử đã thành hình rồi thì chúng kết hợp với nhau do sức hút của điện âm và điện dương theo 2 trường họp : Tĩnh và Động, để tạo ra 2 loại vật chất mới là : Trung hòa tử (Neutron, viết tắt là n) và Nguyên tử Khinh khí (Hydrogène, ký hiệu là H) theo 2 phương trình :

-Kết hợp theo dạng tĩnh :

1 Electron + 1 Proton 1 Neutron
e +p n

Trung hòa tử (Neutron) là hạt không mang điện.

-Kết hợp theo dạng động :

Dương Điện tử nặng và to lớn hơn Âm Điện tử rất nhiều nên nó làm cái Nhân bên trong, còn Âm Điện tử nhẹ mình nên quay tròn chung quanh Nhân, tạo thành một Nguyên tử Khinh Khí Hydrogène H :

Đến giai đoạn nầy, ta có 4 loại hạt vật chất : 2 hạt cơ bản là Âm Điện tử (e) và Dương Điện tử (p), và 2 loại hạt mới là Trung hòa tử (n) và Nguyên tử Khinh khí (H).

Đây chính là Tứ Tượng do Lưỡng Nghi tạo ra :

. Électron (e) là Thái Âm.
. Proton (p) là Thái Dương.
. Neuton (n) là Thiếu Dương.
. Hydrogène (h) là Thiếu Âm.

 

c). 8 Nguyên tử đầu tiên.

Ba loại hạt nhỏ (vi tử) : e, p, n luôn luôn xoay chuyển để tiếp tục kết hợp với nhau, lần lượt từ ít đến nhiều, để tạo thành 8 Nguyên tử đầu tiên đứng đầu Bảng Phân loại Tuần hoàn các Nguyên tố.

Các Proton (p) và Neutron (n) nặng hơn Électron (e) rất nhiều nên làm Nhân nguyên tử, còn Électron (e) thì nhẹ nên quay chung quanh Nhân. Hễ trong Nhân có bao nhiêu Proton p thì bên ngoài cũng phải có bấy nhiêu Électron e để cho điện tích của Nguyên tử luôn luôn được trung hòa. Số Neutron trong Nhân thì có số lượng tăng dần.

8 Nguyên tử đầu tiên được tạo thành, đánh số thứ tự từ 0 đến 7, có tên, ký hiệu và cơ cấu sau đây :

0. Hélium ký hiệu He gồm có : 2e 2p 2n
1. Lithium - Li - 3e 3p 4n
2. Bérylium - Be - 4e 4p 5n
3. Bohr - B - 5e 5p 6n
4. Carbone - C - 6e 6p 6n
5. Nitrogène - N - 7e 7p 7n
6. Oxygène - O - 8e8p 8n
7. Fluor - F - 9e 9p 10n

Xem như thế, 8 Nguyên tử được tạo thành đầu tiên chính là Bát Quái, do Tứ Tượng biến sanh, và được so sánh như sau :

CHẤN CÀN ĐOÀI LY TỐN KHẢM CẤN KHÔN
He Li Be B C N O F

Càn có tính thuần Dương, đối chiếu với nguyên tử Lithium (Li) có tính dương điện mạnh nhứt.

Khôn có tính thuần Âm, nên đối chiếu với nguyên tử Fluor (F) có tính âm điện mạnh nhứt.

 

d).Các Nguyên tử khác trong Bảng Phân loại Tuần hoàn.

Sau khi đã tạo thành 8 Nguyên tử đầu tiên, các vi tử e, p, n tiếp tục kết hợp với nhau với số lượng càng lúc càng nhiều, càng lúc càng phức tạp để tạo thành một loạt các nguyên tử to lớn hơn, có tính chất đại cương gần giống như tính chất của 8 nguyên tử đầu tiên, tạo thành 8 nhóm nguyên tử, đánh số từ 0 đến 7, kể ra sau đây :

Tên nhóm : 0 1 2 3 4 5 6 7
8 nguyên tử đầu: He Li Be B C N O F
Ne Na Mg Al Si P S Cl
Ar K Ca Ga Ge As Se Br
Kr Rb Sr In Sn Sb Te I
Xe Cs Ba Tl Pb Bi Po At
. . . . . . . . . . . . . . . .

Hiện nay, các nhà khoa học đã tìm ra được 105 loại nguyên tử khác nhau nằm trong 8 nhóm kể trên. Ngoài ra, mỗi nhóm còn có một nhóm phụ mà các nguyên tử có cấu tạo phức tạp, không tiện kể ra đây.

Số 105 loại nguyên tử nầy kết hợp lại với nhau, tùy theo chất, để tạo thành các Đơn chất, và các Hợp chất, từ đơn giản đến phức tạp. Các Đơn chất và các Hợp chất tạo thành hệ thống vật chất trong Càn Khôn Vũ Trụ với muôn hình muôn vẻ với muôn màu sắc phong phú khác nhau.

Tám nguyên tử được hình thành đầu tiên ấy tương ứng với Bát Quái, vận chuyển và biến hóa vô cùng để tạo thành Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.

 

e). Sự hình thành Vũ trụ.

Thái Cực là trung tâm của Vũ trụ. Thái Cực phát ra các tia sáng mang theo Quang tử truyền đi rất xa, với vận tốc 300.000 Km/giây. Đến một lúc nào đó, các Quang tử ngưng kết tạo thành các Âm điện tử. Nơi đó là giới hạn của Vũ trụ, và các Âm điện tử được tạo ra càng lúc càng nhiều, làm thành như những đám mây vĩ đại, đó là Khí Âm quang.

Mặt khác, các Quang tử từ Thái Cực phát ra cũng ngưng kết thành các Dương điện tử (Proton), và các Dương điện tử tạo thành những đám mây vĩ đại Dương điện tử. Đó là Khí Dương quang.

Các Dương điện tử có khối lượng rất lớn so với Âm điện tử, nên nó hút các Âm điện tử theo 2 lực : Lực hấp dẫn vạn vật và lực điện trường. Lúc ban đầu lực hút nầy không lớn lắm vì khoảng cách còn xa, nhưng khi khoảng cách càng gần thì lực hút trở nên rất mạnh (vì lực hút tỉ lệ nghịch với bình phương của khoảng cách). Các Âm điện tử bị hút thật mạnh vào tâm vũ trụ, va chạm mãnh liệt với các Dương điện tử trong một trạng thái xoay chuyển cực kỳ mãnh liệt, một mặt kết hợp để tạo ra các phân tử đơn chất và hợp chất, một mặt tạo ra sức nóng dữ dội càng lúc càng tăng, dần dần nhiệt độ lên tới hàng tỷ độ, sanh ra một áp suất cực lớn, gây ra một vụ nổ ghê gớm, xoay tròn bắn phá ra các quả cầu lửa lớn làm thành các Mặt Trời.

Các khối cầu lửa lớn nầy tiếp tục quay tròn, bắn phá ra các quả cầu lửa nhỏ hơn tạo thành các Hành tinh. Các Hành tinh lớn lại tiếp tục bắn phá để tạo thành các Vệ tinh.

Các Vệ tinh và các Hành tinh nguội dần, tạo ra lớp vỏ bao bọc bên ngoài. Khi nguội đến một nhiệt độ thích hợp thì lớp nước bao phủ các Hành tinh tạo thành các đám mưa rơi xuống chảy thành sông và biển.

Khi đã có nước và ánh sáng Mặt Trời, sinh vật bắt đầu xuất hiện, từ đơn giản lần lần đến phức tạp. Loài rong rêu xuất hiện trước nhứt, tiến hóa dần thành Thảo mộc, Thảo mộc tiến hóa thành Thú cầm, và sau cùng bực Thú cầm cao cấp tiến hóa thành Nhơn loại.