A. Định nghĩa - Trai kỳ - Trường trai.
ID026550 - Tiết : A. Định nghĩa - Trai kỳ - Trường trai. 🖶 Print this Tiết
Chương : 3. Ăn chay
Sách : Bước Đầu Học Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

A. Định nghĩa - Trai kỳ - Trường trai.

1. Định nghĩa :

Ăn chay là ăn các loại thực phẩm phát xuất từ thảo mộc hay được chế biến từ thảo mộc.

Thí dụ : Ăn các loại rau cải, hoa quả, củ đậu, tàu hủ, tương chao, các loại nấm, vv . . .

Trái với Ăn chay là Ăn mặn.

Ăn mặn là ăn các loại thực phẩm phát xuất từ động vật hay được chế biến từ động vật. Động vật là nói chung các loài vật cử động : bò, bay, máy, cựa.

Thí dụ : Ăn thịt heo, gà vịt, bò, cá, tôm, cua, ba tê, lạp xưởng, hột vịt lộn, cá mòi hộp, vv . . . . .

2. Trai kỳ :

Chữ “chay” do chữ Hán là “trai” nói trại ra. Trai có nghĩa là trong sạch, thanh tịnh.

Trai kỳ là ăn chay kỳ, tức là ăn chay một số ngày nhứt định trong mỗi tháng âm lịch, những ngày còn lại thì được ăn mặn.

Có hai loại trai kỳ : Lục trai và Thập trai.

- Lục trai là ăn chay mỗi tháng 6 ngày, đạo Tiên gọi là Nguơn Thủy Lục trai, do Đức Nguơn Thủy lập ra.

Sáu ngày chay qui định trong tháng âm lịch là : 1, 8, 14, 15, 23, 30.

Nếu tháng âm lịch thiếu, không có ngày 30 thì ăn chay ngày 29 thế vào cho đủ 6 ngày chay.

- Thập trai là ăn chay mỗi tháng 10 ngày, đạo Phật gọi là Chuẩn Đề Thập trai, do Đức Phật Chuẩn Đề lập ra.

Mười ngày chay qui định trong tháng âm lịch là : 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30.

Nếu tháng âm lịch thiếu, không có ngày 30 thì ăn chay ngày 27 thế vào cho đủ số 10 ngày chay.

3. Trường trai :

Trường trai là ăn chay trường, tức là ăn chay hoài từ ngày nầy qua ngày khác (không có ngày nào ăn mặn).

Theo Tân Luật, các tín đồ còn trong cấp Hạ thừa thì ăn chay kỳ tức là ăn 6 ngày hoặc 10 ngày trong tháng; còn các tín đồ trong bực Thượng thừa thì ăn chay trường.

Trong bực Hạ thừa, ăn chay 6 ngày trong một tháng là giai đoạn tập sự để cho quen dần với việc ăn chay, không nên giữ hoài như vậy, mà sau đó phải ráng tiến lên ăn chay 10 ngày trong một tháng thì mới được nhìn nhận là tín đồ thiệt thọ chánh thức của Đạo Cao Đài, mới thọ hưởng được các bửu pháp khi qui liễu, tức là các phép bí tích độ hồn trong cơ tận độ của Đức Chí Tôn; nếu còn ăn chay 6 ngày trong một tháng thì không hưởng được những điều nầy và tang lễ chỉ làm bạt tiến mà thôi.

(Làm bạt tiến là làm lễ đề cử dâng lên các Đấng thiêng liêng xin cứu giúp vong hồn cho được siêu thăng). (Xem Chương chót : Tang lễ)

Hai bực tín đồ : 10 ngày chay và 6 ngày chay trong một tháng, chỉ khác nhau có 4 ngày chay, mà quyền lợi trong Đạo rất khác biệt nhau. Chúng ta rất nên lưu ý.

Ăn chay nửa năm : Đối với người ăn chay 10 ngày trong một tháng, nếu ăn chay thêm 3 tháng có rằm lớn trong 1 năm (tức là tháng giêng, tháng 7 và tháng 10) thì tổng cộng ăn chay được nửa năm trong một năm.

(Ăn chay luôn 3 tháng thì được 90 ngày, còn lại 9 tháng, ăn chay mỗi tháng 10 ngày thì được 90 ngày. Tổng cộng ăn chay được : 90 ngày + 90 ngày = 180 ngày, tức là nửa năm).

4. Ngũ vị tân còn gọi là Ngũ huân :

Ngũ vị tân là 5 thứ có vị cay nồng và mùi hôi. (Tân là cay). Ngũ vị tân gồm : hành, hẹ, tỏi, kiệu, nén.

Bên Phật giáo, khi ăn chay thì cữ Ngũ vị tân.

Tu theo Tiên giáo, khi ăn chay, không kiêng cữ các thứ nầy, hễ là thảo mộc thì được ăn.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Quyển 1, đàn cơ ngày 16-1-1926, ông Quí Cao giáng cơ gọi Ngũ vị tân là Ngũ kỵ, tức là 5 thứ cấm kỵ không cho ăn đối với Phật giáo.

Ông Quí Cao viết rằng :

“ Ngũ kỵ là : hành, tỏi, sả, ớt, tiêu.

Theo Phật giáo thì kỵ, Tiên giáo thì không.

Phật vì tích Mục Liên Thanh Đề gọi là uế vật, là phi.

Tiên đạo cho dùng các thảo mộc, chẳng kỵ vật chi.”

Trong quyển sách Thiên Đạo của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu có viết về việc nầy như sau :

“ Trong Trời Đất không có chi là tuyệt đối, thì sự ăn chay tất nhiên cũng không nên tuyệt đối.

Cái nguyên tắc của sự ăn chay là ăn toàn những chất thuộc thảo mộc, thì năm thứ : hành, hẹ, tỏi, nén, kiệu, gọi là Ngũ huân, vẫn là thảo mộc.

Có cữ chăng là những bậc công cao quả dày, tham thiền nhập định, vì nó có tính cách kích thích và thương tổn tinh thần.

Người mới học đạo cần phải lao động trong trường công quả thì chưa buộc phải kiêng cữ, nhưng ai kiêng cữ được cũng nên.

Vậy, việc ăn chay cũng như việc tu hành, không nên thái quá mà cũng không nên bất cập.”

5. Người ăn chay trường có phải cữ trầu thuốc không ?

Để giải đáp vấn đề nầy, chúng ta phân bực tu Thượng thừa ra hai nhóm :

1.- Các Chức sắc còn nhiệm vụ phổ độ nhơn sanh.

Nhóm nầy hoạt động gần gũi với nhơn sanh, đi đứng nhiều, giao tiếp nhiều, nên Tân Luật không bắt buộc phải cữ Ngũ vị tân và không cấm ăn trầu hút thuốc. Tuy nhiên, nên cữ Ngũ vị tân vì cái hại của nó là làm cho tánh của mình thêm nóng nảy, cũng như cần phải cữ ăn trầu và hút thuốc vì nó gây thêm phiền toái và làm hại sức khỏe. Đã là Chức sắc của Hội Thánh thì nên kiêng cữ các thứ kể trên để làm gương tốt cho nhơn sanh.

2.- Nhóm tu thượng thừa luyện đạo trong Tịnh Thất.

Trong Tân Luật, phần Tịnh Thất, điều thứ 6 có ghi:

“ Nhập Tịnh Thất rồi phải tuyệt trầu thuốc và không được ăn vật chi ngoài mấy bữa cơm.”

Ngũ vị tân làm cho linh hồn yếu ớt; ăn trầu, hút thuốc thì hại kim đơn. Hành giả tu thiền định, luyện đạo cần phải kiêng cữ tuyệt đối các thứ kể trên.