E. Nghi tiết lễ Thượng tượng.
ID026559 - Tiết : E. Nghi tiết lễ Thượng tượng. 🖶 Print this Tiết
Chương : 4. Thờ phượng
Sách : Bước Đầu Học Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

E. Nghi tiết lễ Thượng tượng.

Thượng tượng là đem bức Thánh tượng Thiên Nhãn đặt lên bàn thờ để thờ phượng Đức Chí Tôn.

Chủ nhà liên lạc với vị Chánh Trị Sự hương đạo của mình để nhờ ông sắp đặt Lễ Thượng tượng nơi nhà mình, ấn định ngày giờ cuộc lễ và mời các Chức việc Bàn Trị Sự. Sau đó chủ nhà đến Thánh Thất thỉnh vị Lễ Sanh do Hội Thánh bổ nhiệm cầm quyền đạo tại địa phương đến khai đàn chứng lễ Thượng tượng.

Tùy theo sự sắp đặt của Bàn Trị Sự, lễ Thượng tượng có thể tổ chức vào giờ Ngọ (12 giờ trưa) hay giờ Dậu (6 giờ chiều).

Chuẩn bị : Sớ văn để trên cái dĩa, đặt kế lư hương và một bó 5 cây nhang lấy chỉ cột lại.

Kiểm tra : bông, rượu, trà, nước trắng, cho đầy đủ.

Tất cả chia ra đứng hai bên Thiên bàn, nam tả, nữ hữu (từ Thiên bàn ngó ra). Chức sắc đứng trước, kế là Chức việc BTS, Đạo hữu, chủ nhà và gia quyến đứng chót.

Lễ Thượng tượng diễn ra như sau :

1. Gõ 3 tiếng chuông : khởi lễ. Tất cả đều bắt ấn Tý.

2. Xá đàn 1 xá, tất cả bước vào đứng trước Thiên bàn.

3. Xá 3 xá, quì xuống. Người phụ lễ đốt bó nhang 5 cây trao cho vị Lễ Sanh chứng đàn.

4. Lấy dấu : Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng.

Đem ấn Tý đặt giữa ngực, vừa cúi đầu vừa niệm :

- Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát

- Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát,

- Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ,

- Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế QuanThánh Đế Quân

- Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.

(mỗi câu niệm, gõ 1 tiếng chuông, cúi đầu)

5. Đồng nhi khởi tụng kinh Niệm Hương.

Dứt kinh, Chức sắc chứng đàn trao bó hương 5 cây cho phụ lễ đem cắm vào lư hương, giữa 5 cây hương đã cắm trước.

Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy. (mỗi lạy mỗi điểm chuông)

6. Đồng nhi tụng bài Khai Kinh.

Dứt kinh, cúi đầu, không lạy. Khi tụng danh hiệu của các Đấng, điểm 1 tiếng cho mọi người cúi đầu.

7. Đồng nhi tụng Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Dứt kinh, lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, giống mục 5.

8. Đồng nhi tụng Kinh Phật giáo.

Dứt kinh, lạy 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô Nhiên Đăng Cổ Phật Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

9. Đồng nhi tụng Kinh Tiên giáo.

Dứt kinh, lạy 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.

10. Đồng nhi tụng Kinh Nho giáo.

Dứt kinh, lạy 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô KhổngThánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

11. Đồng nhi thài bài Dâng Hoa.

Dứt thài, mọi người đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện :

Dâng thể xác lên Đức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng. (Cách cầu nguyện dâng Tam bửu : Hoa, Rượu, Trà,

xem chi tiết nơi Chương 5 : Cúng Tứ thời)

Lạy 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.

12. Đồng nhi thài bài Dâng Rượu.

Y như mục 11 nhưng cầu nguyện Dâng chơn thần.

13. Đồng nhi thài bài Dâng Trà.

Y như mục 11 nhưng cầu nguyện Dâng linh hồn.

14. Dâng sớ : Người phụ lễ bưng dĩa sớ trên Thiên bàn trao sớ cho Lễ Sanh chứng đàn. Vị nầy cầm đứng bao sớ, xá 3 xá (có điểm chuông), cầu nguyện, rút lá sớ ra, đưa cho người đọc sớ. (Đọc sớ, đến chỗ danh hiệu các Đấng thì cúi đầu).

Đọc sớ :

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

(Thất thập . . . niên)

Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt.

Thời duy, Thiên vận . . . . . . niên, . . . . ngoạt, . . . . . nhựt, ngọ thời, hiện tại Việt Nam quốc, . . . . . Trấn, . . . . Châu, . . . . , Tộc, . . . . . Hương, cư trụ gia đường chi trung.

Kim đệ tử . . . (phẩm tước và Thánh danh của vị Lễ Sanh chứng đàn) . . . . . công đồng chư Chức sắc hiệp dữ Chức việc, Đạo hữu nam nữ đẳng quì tại Thiên bàn tiền, thành tâm trình tấu.

HUỲNH KIM KHUYẾT NỘI :

Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn.

Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

TAM TÔNG CHƠN GIÁO :

Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn,

Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn,

Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

TAM KỲ PHỔ ĐỘ TAM TRẤN OAI NGHIÊM :

Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai,

Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ,

Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.

Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn,

Thái Công Tướng Phụ Quảng Pháp Thiên Tôn,

Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn,

Thập phương chư Phật, vạn chưởng chư Tiên, liên đài chi hạ.

Kim vì, kiết nhựt lương thần, thỉnh an Thánh tượng chi lễ, chư Thiên phong nghiêm thiết đàng tràng, hương đăng hoa trà quả, thanh chước chi nghi, thành tâm phụng hiến.

Cẩn thỉnh chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần, chứng minh tọa hạ.

Phục vọng Vô Trung Từ Phụ, phát hạ hồng ân, chuyển họa vi phước, tập kiết nghinh tường, bảo hộ gia đường . . . . (tên gia chủ xin thượng tượng) . . . . . diên niên hạnh phước.

Ngưỡng nguyện Đại Từ Bi vận chuyển thế cuộc tảo đắc hòa bình, trật tự an ninh, quốc thới dân an, phong điều võ thuận.

Chư Thiên phong hiệp dữ Chức việc, Đạo hữu nam nữ đẳng thiết triêm Thiên ân gia huệ dã.

Chư đệ tử đồng thành tâm khấu bái cẩn sớ thượng tấu

Dĩ văn.

Đệ tử : . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

(phẩm tước và Thánh danh của vị Chức sắc chứng đàn)

Đọc sớ xong, người đọc đưa sớ cho vị chứng đàn bỏ vào bao sớ, vị nầy cầm bao sớ xá 3 xá, đốt sớ bỏ vào thố, đem đặt giữa chuông và mõ dưới Thiên bàn.

Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, niệm chú đầy đủ.

15. Đồng nhi tụng Ngũ Nguyện.

Dứt Ngũ nguyện, tuy đã có cầu nguyện theo sớ văn, nhưng vị chứng đàn có thể cầu nguyện thêm cho gia chủ (vì đây là sự khích lệ rất lớn lao đối với gia đình gia chủ).

Khi cầu nguyện thêm, vị chứng đàn nên cất tiếng cầu nguyện rõ ràng vừa đủ nghe để mọi người cùng nghe cùng dâng lời cầu nguyện lên Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng, lời cầu nguyện có thể đặt ra như sau :

“ Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát,

Nam mô Tam Tông Chơn Giáo,

Nam mô Tam Trấn Oai Nghiêm,

Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.

Hôm nay, đệ tử và Bàn Trị Sự Hương đạo . . . . . . đến khai đàn thượng tượng tại nhà của Đạo hữu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Nguyện cầu Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, Tam Trấn Oai Nghiêm, chư Phật, Tiên, Thánh, Thần ban ân lành cho Đạo hữu . . . .. . . . . và toàn gia quyến, tinh thần mẫn huệ, trí não quang minh, giữ lời Minh Thệ, gìn tròn luật Đạo, lập công bồi đức, giải quả tiền khiên, gội hưởng Thiên ân trong kỳ ba đại ân xá.

Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.”

Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, niệm chú đầy đủ.

16. Tất cả đều đứng dậy, xá 3 xá, lui ra hai bên. (không có quay ra sau xá chữ Khí vì đây là tư gia)

17. Đồng nhi, ban nhạc và những người hầu đàn vào lạy Đức Chí Tôn.

18. Vị Chức sắc chứng đàn có thể thuyết đạo ngắn gọn nói về ích lợi của việc Thượng tượng, việc cúng tứ thời và bổn phận của người tín đồ đối với Đạo.

19. Bãi đàn : đánh 3 tiếng chuông, xá đàn, lui ra, dứt lễ.

Sau đó, tất cả tập họp trở lại để tụng :

- Di Lạc Chơn Kinh. - Kinh Cứu Khổ.

Trước khi tụng kinh, mọi người vào quì trước Thiên bàn, thỉnh Thánh, cầu nguyện, rồi bắt đầu tụng Di-Lạc Chơn Kinh. Tụng xong thì lạy, khỏi cầu nguyện.

Tiếp theo là tụng Kinh Cứu Khổ.

Trong Kinh Cứu Khỗ, chỗ : cứu hộ đệ tử. . . . , nên tụng cầu nguyện cho chủ nhà và gia quyến, như sau :

cứu hộ đệ tử . . . .(tên họ chủ nhà) và gia quyến thoát ly khổ nạn, tự ngôn Quan Thế Âm anh lạc . . . .

Sau cùng, đồng nhi và chư vị hầu đàn vào cầu nguyện và lạy Đức Chí Tôn. Xong, đánh 3 tiếng chuông bãi đàn, mọi người xá đàn 1 xá. Buổi lễ Thượng tượng đã xong.

Ở các hương đạo địa phương, thông thường thì BTS còn đến cúng thời cùng gia chủ trong hai ngày nữa, tới ngày thứ ba huờn kinh, mới chấm dứt.

Ngày hôm sau, tức là ngày thứ nhì, BTS cử Chức việc đến cùng với chủ nhà cúng thời Ngọ (hoặc thời Dậu), không có dâng sớ, chỉ thài bài Dâng Rượu (nếu thời Dậu thì thài bài Dâng Trà). Cúng thời xong thì tụng Di Lạc Chơn Kinh và Kinh Cứu Khổ y như ngày hôm qua.

Ngày hôm sau nữa, tức ngày thứ ba, Chức việc cũng đến cúng thời với chủ nhà. Cúng xong thì tụng Kinh Di Lạc và Cứu Khổ y như hai lần trước, nhưng bữa thứ ba nầy, tụng thêm Kinh Sám Hối.

Như vậy, sau lễ Thượng tượng, Bàn Trị Sự tiếp tục đến nhà, hiệp cùng gia chủ, cúng thời và tụng kinh hai lần nữa để bắt trớn cho gia chủ tiếp tục cúng trong Tứ thời trước Thiên bàn tại tư gia của mình.