6. Tứ Thời là gì ?
ID026569 - Chương : 6. Tứ Thời là gì ? 🖶 Print this Chương
Sách : Bước Đầu Học Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

 

A. Nghi tiết cúng Đại Đàn tại Thánh Thất.

Đại Đàn tại Thánh Thất thường cúng lúc 12 giờ trưa.

Thí dụ : Đại Đàn cúng Vía Đức Lý Đại Tiên Trưởng Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ngày 18-8 âl hằng năm, tại Thánh Thất của Châu Đạo, có Chức sắc Pháp Chánh Hiệp Thiên Đài và Chức sắc Phước Thiện tham dự.

Gần tới 12 giờ trưa, bổn đạo tụ tập trước Thánh Thất. Đầu Tộc Đạo sắp đặt các Chức việc Bàn Trị Sự và Đạo hữu đứng có hàng ngũ chỉnh tề, nam tả nữ hữu.

6 Lễ sĩ mặc áo rộng màu xanh da trời, đội mão trắng, chia làm 3 cặp đi vào chánh điện. Cặp Lễ xướng đứng 2 bên ngoại nghi giữ phận sự xướng lễ.

Đúng 12 giờ, cặp Lễ Xướng khởi xướng :

1. Tịnh túc thị lập. (Đều nghiêm trang đứng hầu)

2. Chấp sự giả các tư kỳ sự.

(Người được phân công phần việc nào thì đến giữ việc ấy).

Các Ban : Nhạc, lễ sĩ, đồng nhi, lễ vụ, kiểm đàn sẵn sàng thi hành phận sự trong đàn cúng.

3. Lôi Âm Cổ khởi. (Bắt đầu đánh trống Lôi Âm)

Vị Chức việc hầu trống nơi Lôi Âm Cổ Đài khởi đánh trống. Trước tiên đánh 3 tiếng trống, rồi kệ 4 câu, dứt mỗi câu kệ thì đánh 1 tiếng trống lớn. Bài kệ chép ra sau đây :

Lôi Âm Thánh cổ triệt hư không,
Truyền tấu càn khôn thế giới thông.
Đạo pháp đương kim dương chánh giáo.
Linh quang chiếu diệu Ngọc Kinh Cung.

Kế đó, Chức việc hầu trống nhịp lên mặt trống 12 tiếng trống nhỏ liên tiếp gọi là “lôi 12 điểm”, rồi đánh tiếp 3 hồi, mỗi hồi 12 chập, mỗi chập 12 dùi, lúc đầu đánh chậm, sau đánh liên dùi thúc cho mau, sau cùng đánh chậm rãi 3 dùi (2 nhặt 1 thưa) rồi dứt.

Cặp Lễ Xướng tiếp :

4. Bạch Ngọc Chung minh. (dộng chuông Bạch Ngọc)

Vị Chức việc hầu chuông nơi Bạch Ngọc Chung Đài, khởi dộng 3 tiếng chuông, rồi kệ 4 câu kệ chuông. Dứt mỗi câu kệ thì dộng 1 tiếng chuông lớn. Bài kệ chuông chép ra sau đây :

Thần chung thinh hướng phóng Phong Đô,
Địa Tạng khai môn phóng xá cô.
Tam Kỳ vận chuyển kim quang hiện,
Sám hối âm hồn xuất u đồ.

Kế đó, Chức việc hầu chuông nhịp 12 tiếng chuông nhỏ liên tiếp, rồi dộng tiếp 3 hồi, mỗi hồi 12 chập, mỗi chập 12 tiếng, lúc đầu đánh chậm, sau đánh thúc cho mau, cuối cùng đánh chậm rãi 3 tiếng (2 nhặt 1 thưa) rồi dứt.

5. Cung thành thứ tự Chức sắc nhập đàn.

(Các Chức sắc, Chức việc, Đạo hữu nam nữ đi hàng một vào chánh điện, nam bên tả, nữ bên hữu, đi vào trật tự và im lặng).

Chức sắc Pháp Chánh đi vào trước vì thuộc Hiệp Thiên Đài.

Sau đó là Giáo Hữu Khâm Châu Đạo, Chí Thiện Quản Châu Đạo Phước Thiện, Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo, Giáo Thiện Quản Tộc Đạo Phước Thiện, các vị Chánh Trị Sự, Hành Thiện Phước Thiện, Đầu Phòng Văn, Phó Trị Sự, Thông Sự, Thính Thiện, các Đạo hữu từ từ đi vào chánh điện.

Nữ phái Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu cũng sắp đặt trật tự y như bên nam phái đi vào chánh điện, đứng bên phía nữ phái.

Hai bên nam nữ tạo thành hai ban đứng hầu nơi chánh điện, đứng đối diện nhau, tay bắt ấn Tý.

6. Nội Nghi, Ngoại Nghi tựu vị.

CSCĐ xá đàn 1 xá, bước vào đứng trước Nội nghi, CVNN cũng xá đàn, bước vào đứng trước Ngoại nghi, nhìn lên bửu điện.

7. Thiên phong dĩ hạ các tư kỳ vị.

(Chức sắc Thiên phong sắp xuống, vị trí của ai nấy đứng).

Vị hầu chuông khắc 3 tiếng chuông lớn làm hiệu, các Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu nam nữ đồng xá đàn một xá, bước vô, xoay người đứng hướng mặt lên bửu điện.

Chức sắc Pháp Chánh thì đứng trước bàn thờ Đức Hộ Pháp, tay bắt ấn Tý, nhìn vào chánh điện và đứng như vậy suốt thời cúng.

8. Nhạc tấu Quân Thiên.

Đầu tiên, nhạc và trống trổi khúc nhạc Tiếp Giá, Đức Chí Tôn và các Đấng giáng đàn. Dứt trống, nhạc đờn 5 bài hiến lễ vì là vía Đức Lý Nhứt Trấn Oai Nghiêm. [Nếu Ban Nhạc của Thánh Thất thiếu Nhạc sĩ thì đờn 3 bài, hoặc là đờn 3 hiệp Ngũ đối hạ]

9. Nghệ hương án tiền. (Bước tới đứng trước bàn hương)

LSĐĐ bước vào đứng trước vị CVNN. Hai Lễ sĩ đài, một bên đặt bó hương 5 cây bó lại, chưa đốt; một bên đặt một cái lư trầm cũng chưa đốt. [Nếu không có trầm thì dùng nhang thơm cắt khúc bó lại tạo thành bó lớn đặt vào lư].

10. Giai quì. (đều quì xuống)

Chuông khắc 3 tiếng, mọi người xá 3 xá, đồng quì xuống,

Những người không có chỗ quì thì đứng hầu đàn.


Viết tắt : CSCĐ : Chức sắc chứng đàn (quì tại Nội nghi).

CVNN : Chức việc quì Ngoại nghi.

LSĐĐ : Hai cặp Lễ Sĩ Đăng Đài (2 Lễ sĩ cầm đèn, 2 Lễ sĩ cầm đài)

11. Phần hương. (đốt nhang)

CVNN lấy bó hương 5 cây, đưa vô hai ngọn đèn của cặp Lễ sĩ đăng đang dụm lại, đốt cháy, xá 3 xá, trao cho Lễ sĩ cầm đài, rồi đốt lư trầm, cũng xá 3 xá, trao cho Lễ sĩ cầm đài kia.

LSĐĐ đứng dậy, lui ra, xoay người hướng vào bửu điện, chuẩn bị điện vào nội nghi để đem bó hương cho CSCĐ cầu nguyện dâng hương lên Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng.

12. Điện hương.

(Lễ sĩ điện lễ dâng hương, bước đi theo hình chữ Tâm).

LSĐĐ cung tay lên ngang mày, nghe theo điệu trống, bước đi theo hình chữ Tâm (. . .) (cách đi lễ đặc biệt của Đạo Cao Đài), điện từ ngoại nghi vào tới nội nghi.

13. Quì. Trống đổ 3 hồi cho các Lễ sĩ quì.

Bốn Lễ sĩ đăng đài đồng quì xuống, đối diện nhau, trước vị Chức sắc chứng đàn, rồi trao bó hương cho CSCĐ, trao lư trầm cho vị Chức sắc nữ phái quì kế CSCĐ.

Khắc chuông, CSCĐ hai tay cầm bó hương đưa lên trán thỉnh Thánh và niệm :

- Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,
- Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát,
- Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát,
- Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ,
- Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân,
- Nam mô chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần.

Các vị khác trong đàn cũng đưa ấn Tý lên trán lấy dấu Phật Pháp Tăng và niệm y như vị CSCĐ.

14. Thành kính tụng Niệm Hương chú.

(Thành kính tụng kinh Niệm Hương). Các Giáo nhi và đồng nhi tụng kinh Niệm Hương giọng Nam ai. (Ban Nhạc và các đồng nhi đều đứng trên lầu Hiệp Thiên Đài). CSCĐ hai tay cung kính nâng bó hương lên ngang trán trong suốt thời gian đồng nhi tụng kinh. Khi tụng danh hiệu các Đấng thì khắc 1 tiếng chuông để mọi người cúi đầu.

15. Thượng hương. (Đem hương lên cắm vào lư hương)

Hai vị tiếp lễ, một cầm bó hương đem lên cắm vào giữa 5 cây hương sẵn có trong lư hương, một bưng lư trầm đặt kế lư hương. Nhạc đánh thét, LSĐĐ đứng lên, lui ra, trở bộ quay về ngoại nghi.

16. Cúc cung bái. (Cúi mình lạy xuống)

Người hầu chung lần lượt khắc 3 tiếng chuông, toàn thể lạy

Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.

17. Thành kính tụng Khai Kinh chú.

(Thành kính tụng bài Khai Kinh).

Nhạc gài đờn Nam ai, đồng nhi tụng Khai kinh.

Khi dứt bài thì tất cả cúi đầu, không xá, không lạy.

18. Thành kính tụng Ngọc Hoàng Kinh.

(Thành kính tụng kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế). Đồng nhi tụng kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế, giọng Nam xuân.

19. Cúc cung bái.

Nhạc đánh lập ban. Lễ vụ khắc chuông. Toàn thể lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.

20. Thành kính tụng Phật giáo Tâm kinh.

(Thành kính tụng kinh Phật giáo). (Tâm kinh là kinh dạy về Tâm pháp). Đồng nhi tụng kinh Phật giáo, giọng Nam xuân.

21. Cúc cung bái.

Toàn thể lạy Đức Phật Nhiên Đăng 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô Nhiên Đăng Cổ Phật Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

22. Thành kính tụng Tiên giáo Tâm kinh.

Thành kính tụng kinh Tiên giáo, giọng Nam xuân.

23. Cúc cung bái.

Lạy Đức Thái Thượng 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.

24. Thành kính tụng Thánh giáo Tâm kinh.

Thành kính tụng kinh Thánh giáo, giọng Nam xuân.

25. Cúc cung bái.

Lạy Đức Khổng Thánh 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

26. Cung hiến Tiên hoa. (Kính cẩn dâng hoa quí)

Hai Lễ sĩ đài sắp đặt một bên có một bình hoa nhỏ đủ 5 sắc hoa tươi, một bên có 1 trái cây, rồi LSĐĐ đồng đến đứng trước CVNN, day mặt vào nhau.

27. Quì. (4 Lễ sĩ đăng đài quì xuống)

28. Chỉnh Tiên hoa. (Sửa sang hoa quí)

CVNN chỉnh sửa hoa và quả cho ngay ngắn, cầm bình hoa và dĩa quả xá xuống 3 xá, rồi trao cho hai Lễ sĩ đài.

Nhạc đổ 3 hồi, LSĐĐ đứng dậy, lui ra hai bên, quay mặt hướng vào nội nghi, chuẩn bị điện dâng hoa và quả.

29. Điện Tiên hoa. (Lễ sĩ điện dâng hoa quí)

Lễ sĩ điện dâng hoa giống y như lúc Điện Hương. Lúc Lễ sĩ điện thì đồng nhi thài bài Dâng Hoa theo giọng Đảo Ngũ Cung. Khi dứt thài thì Lễ điện cũng vừa tới nội nghi, day mặt vào giữa.

30. Quì. Nhạc đổ 3 hồi, LSĐĐ quì xuống.

Vị Chức sắc chứng đàn tiếp lấy bình hoa, xá 3 xá, đưa bình hoa lên trán cầu nguyện, đồng thời tất cả mọi người trong đàn cũng đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện Dâng Hoa : “ Con xin dâng hình hài của con lên cho Đức Chí Tôn tùy phương sử dụng.”

Vị Chức sắc nữ phái quì bên cạnh CSCĐ, hai tay bưng dĩa trái cây, cũng xá 3 xá rồi đưa lên trán cầu nguyện, cử chỉ giống như CSCĐ nam phái.

31. Thượng Tiên hoa. (Đem Hoa đặt lên bàn thờ)

Cầu nguyện xong đưa bình hoa và dĩa trái cây cho 2 vị tiếp lễ đem lên đặt trên bàn thờ. Trong lúc đó, trống đổ, LSĐĐ đứng lên, trở bộ quay lại đi về ngoại nghi.

32. Cúc cung bái.

Nhạc đánh lập ban, toàn thể lạy Đức Chí Tôn 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.

33. Cung hiến Tiên tửu. (Cung kính dâng rượu quí)

Hai Lễ sĩ đài sắp đặt một bên có một ly nhỏ để đựng rượu, một bên có một cái nhạo rượu trắng tinh khiết, rồi 4 Lễ sĩ đăng đài đồng đến đứng trước CVNN, day mặt vào nhau.

34. Quì. LSĐĐ đều quì xuống trước CVNN.

35. Chước tửu. (Rót rượu)

Vị CVNN cầm nhạo rót rượu vào ly, hai tay cầm ly rượu nâng lên xá 3 xá rồi trao lại cho Lễ sĩ đài.

36. Điện Tiên tửu. (Lễ sĩ đi điện dâng rượu lên)

Công việc giống y như Điện Tiên hoa.

Đồng nhi thài bài Dâng Rượu, Lễ sĩ điện lên nội nghi.

37. Quì. LSĐĐ quì xuống trước CSCĐ.

CSCĐ tiếp ly rượu, vị Chức sắc nữ phái quì kế bên tiếp nhạo rượu, xá 3 xá, đồng đưa lên trán cầu nguyện, có khắc chuông, tất cả mọi người trong đàn cúng cũng đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện Dâng Rượu :“ Con xin dâng chơn thần của con lên cho Đức Chí Tôn tùy phương sử dụng.”

38. Thượng Tiên tửu. (Đem rượu lên đặt trên bàn thờ)

Cầu nguyện xong, trao ly rượu và bình rượu cho tiếp lễ đem lên bàn thờ. Trống đổ, Lễ sĩ đứng lên, trở bộ quay về ngoại nghi.

39. Cúc cung bái.

Lạy Chí Tôn 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm chú của Thầy.

40. Cung hiến Tiên trà. (Cung kính dâng trà quí)

Hai Lễ sĩ đài sắp đặt, một bên đặt 1 bình trà, một bênđặt 1 cái tách để dựng nước trà. LSĐĐ cùng vào đứng trước CVNN.

41. Quì. LSĐĐ quì xuống trước CVNN.

42. Điểm trà. (Rót nước trà)

CVNN cầm bình trà, rót nước trà vào tách, hai tay nâng tách trà đưa lên trán xá 3 xá, trao lại cho hai Lễ sĩ đài.

43. Điện Tiên trà. (Lễ sĩ điện trà dâng lên)

Công việc giống y như Điện Tiên hoa.

Đồng nhi thài bài Dâng Trà, Lễ sĩ điện lên nội nghi.

44. Quì. LSĐĐ quì xuống trước CSCĐ.

CSCĐ tiếp tách trà, vị Chức sắc nữ phái quì kế bên tiếp

bình trà, xá 3 xá, đồng đưa lên trán cầu nguyện, có khắc chuông, tất cả mọi người trong đàn cúng cũng đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện Dâng Trà tức là dâng linh hồn, nhưng lần cầu nguyện chót nầy nên dâng cả Tam bửu lên Đức Chí Tôn, vì đây là Bí pháp giải thoát :“ Con xin dâng cả thể xác, chơn thần và linh hồn của con lên cho Đức Chí Tôn tùy phương sử dụng.”

45. Thượng Tiên trà. (Đem trà lên đặt trên bàn thờ)

Cầu nguyện xong, trao tách trà và bình trà cho tiếp lễ đem lên bàn thờ. Trống đổ, Lễ sĩ đứng lên, trở bộ quay về ngoại nghi.

46. Cúc cung bái. (lạy 1 lạy 4 gật giống như mục 39)

47. Sớ văn thượng tấu. (Sớ văn tâu lên)

Hai Lễ sĩ đăng đi lên nội nghi, bước thường, không điện.

48. Quì.

Hai vị tiếp lễ, 1 vị cầm dĩa đựng sớ văn, 1 vị cầm cái thố (hay cái bình) để đựng tro lúc đốt sớ, quì phía trên cặp Lễ sĩ đăng. Một vị có phận sự đọc sớ lên quì gần CSCĐ.

CSCĐ cầm sớ xá 3 xá, cầu nguyện, rồi rút tờ sớ ra trao cho người đọc sớ, còn vị CSCĐ hai tay cầm bao sớ cung kính nâng lên ngang trán và giữ tư thế nầy trong suốt thời gian đọc sớ.

49. Thành độc sớ văn. (Thành kính đọc bài văn sớ)

Vị đọc sớ, cao giọng đọc to lên, đến danh hiệu của các Đấng thì dừng lại một chút để khắc chuông cúi đầu kỉnh lễ.

Bài văn sớ cúng Vía Đức Lý Đại Tiên chép ra như sau :

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

(Thất thập . . . niên)

Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt.

Thời duy, Thiên vận . . . . . . niên, bát ngoạt, thập bát nhựt, ngọ thời, hiện tại Việt Nam quốc, . . . . . Trấn, . . . . . Châu, . . . . . Tộc, . . . . . Hương, cư trụ Thánh Thất chi trung.

Kim đệ tử . . . (phẩm tước và Thánh danh của vị Chức sắc chứng đàn). . . công đồng chư Chức sắc hiệp dữ Chức việc, Đạo hữu nam nữ đẳng quì tại điện tiền, thành tâm trình tấu.

HUỲNH KIM KHUYẾT NỘI :

Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn.

Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

TAM TÔNG CHƠN GIÁO :

Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn,

Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn,

Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

TAM KỲ PHỔ ĐỘ TAM TRẤN OAI NGHIÊM :

Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai,

Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ,

Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.

Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn,

Thái Công Tướng Phụ Quảng Pháp Thiên Tôn,

Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn,

Thập phương chư Phật, vạn chưởng chư Tiên, liên đài chi hạ.

Kim vì, tiết chí Trung Thu kiết nhựt lương thần, chánh thị Đức Lý Đại Tiên Trưởng Nhứt Trấn Oai Nghiêm Thánh đán, chư Thiên phong nghiêm thiết đàn tràng, hương đăng hoa trà quả, thanh chước chi nghi, thành tâm hiến lễ.

Ngưỡng nguyện Lý Đại Tiên Trưởng, Nhứt Trấn Oai Nghiêm đạt đắc trí dõng thiên tài, thảo hích man thơ, thanh danh quán thế, phụng thừa Thiên mạng, bảo thủ Đại Đạo chơn truyền, phò trì chư đệ tử đào luyện trí thức tinh thần, thật hành chánh giáo, phổ hóa nhơn sanh hiệp hòa chủng tộc, giải cứu chiến tranh khổ nạn, vãn hồi trật tự an ninh, cộng hưởng thạnh trị thái bình, thanh nhàn hạnh phước.

Chư đệ tử đồng thành tâm khấu bái cẩn sớ thượng tấu

Dĩ văn.

Đệ tử : (phẩm tước và Thánh danh của Chức sắc chứng đàn)

50. Cung phần Sớ văn. (Cung kính đốt sớ)

Vị CSCĐ đặt lá sớ vào bao sớ, cầm bao sớ xá 3 xá, hai Lễ sĩ đăng dụm hai ngọn đèn lại cho Chức sắc đốt sớ, thấy cháy được phân nửa thì bỏ vào thố, vị tiếp lễ đem thố đặt lên bàn thờ, hai Lễ sĩ quay trở về ngoại nghi, vị đọc sớ trở về chỗ cũ.

51. Cúc cung bái.

Mục nầy là lạy và niệm danh hiệu của Đấng ghi trong lòng sớ, chỗ Ngưỡng vọng hay Ngưỡng nguyện :

- Trong đàn nầy, Vía Đức Lý Thái Bạch : Ngưỡng nguyện Lý Đại Tiên Trưởng, nên chúng ta lạy Đức Lý 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : “Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”.

- Nếu lòng sớ ghi là : Ngưỡng vọng Vô Trung Từ Phụ, chúng ta lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú Thầy.

- Nếu lòng sớ ghi là : Ngưỡng nguyện Đức Thích Ca Mâu Ni, chúng ta lạy Đức Phật Thích Ca 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn. vv...

52. Thành tâm tụng Ngũ Nguyện.

Đồng nhi tụng Ngũ Nguyện, giọng Nam xuân.

53. Cúc cung bái. (Lạy Chí Tôn 3 lạy 12 gật niệm chú)

54. Hưng bình thân. (Cất mình đứng lên)

Khắc chuông. Mọi người đứng dậy, xá sâu xuống 3 xá, quay trở ra xá chữ KHÍ sau bàn thờ Đức Hộ Pháp 1 xá.

55. Cung thành thứ tự phân lập lưỡng ban.

(Cung kính, thứ tự, phân ra đứng thành hai ban)

Tất cả Chức sắc, Chức việc, Đạo hữu trong đàn, lui ra 2 bên, nam tả nữ hữu, đứng trật tự thành hai ban nam nữ như lúc nhập đàn.

56. Hiệp Thiên Đài Chức sắc nhập nội nghi.

Chức sắc Hiệp Thiên Đài đi vào nội nghi, xá 3 xá, quì, thỉnh Thánh, cầu nguyện, lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy, quay trở ra xá chữ KHÍ 1 xá, xong đi trở về vị trí cũ.

Các Ban : Đồng nhi, Lễ sĩ, lễ vụ, kiểm đàn, lần lượt vào chánh điện lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, niệm câu chú Thầy.

Những người hầu đàn tiếp tục vào lạy Đức Chí Tôn.

Ban Nhạc quì ngay trên lầu Hiệp Thiên Đài lạy Đức Chí Tôn sau chót.

Đến đây, xem chừng có Chức sắc thuyết đạo không ?

Nếu có thì giữ im lặng nghe thuyết đạo.

Xong thì dộng chuông bãi đàn : Người hầu chuông nơi Bạch Ngọc Chung Đài dộng trước 3 tiếng chuông, rồi kệ bài Kệ chuông bãi đàn, kệ xong 1 câu thì dộng 1 tiếng chuông lớn.

Bài kệ chuông bãi đàn có 3 câu :

Đàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên, vĩnh mộc từ ân, phong điều võ thuận.
Thiên phong hải chúng, quốc thái dân an, hồi hướng đàn trường, tận thâu pháp giới.
Án dà ra đế dạ ta bà ha.

Tiếng chuông kệ bãi đàn vừa dứt, cặp lễ sĩ xướng :

57. Lễ thành. (cuộc lễ cúng tế đã xong)

Nhạc đánh thét rồi dứt. Mọi người xá đàn 1 xá.

Chức sắc từ bên trong đi ra trước, đi hàng một, đi ra cũng trật tự như khi đi vào nhập đàn.

Khi ra khỏi chánh điện thì mới được xả ấn Tý.

Đại Đàn tại Thánh Thất có tất cả 57 Nghi tiết.

 

B. Nghi tiết cúng Tiểu Đàn tại Thánh Thất.

Tiểu Đàn tại Thánh Thất thường cúng lúc 12 giờ trưa.

Các nghi tiết Tiểu đàn đơn giản hơn nhiều so với Đại Đàn, vì không lập ngoại nghi, không Chức việc quì ngoại nghi, Lễ sĩ không điện, Nhạc Tấu Quân Thiên đờn 3 bài.

Do đó, trong Nghi tiết Tiểu đàn, bãi bỏ các mục :

- Điện hương - Chỉnh Tiên hoa - Chước tửu - Điểm trà.

Tiểu đàn, bỏ bớt 8 mục, còn lại : 49 mục.

Nghi tiết Tiểu đàn tại Thánh Thất :

1.Tịnh túc thị lập.

2.Chấp sự giả các tư kỳ sự.

3.Lôi Âm Cổ khởi.

4.Bạch Ngọc Chung minh.

5.Cung thành thứ tự Chức sắc nhập đàn.

6.Nội nghi tựu vị.

7.Thiên phong dĩ hạ các tư kỳ vị.

8.Nhạc Tấu Quân Thiên. (Nhạc tiếp giá rồi đờn 3 bài)

9.Nghệ hương án tiền.

- (4 Lễ sĩ đăng đài, một bên có bó hương 5 cây, một bên có lư trầm, bưng đi vào nội nghi, đi thường, không điện, đứng hai bên CSCĐ, quay mặt vào giữa).

10.Giai quì. (Tất cả mọi người trong đàn đều quì xuống, trống đổ cho 4 lễ sĩ đăng đài quì, lễ sĩ trao bó hương cho CSCĐ và trao lư trầm cho vị Chức sắc nữ phái quì kế bên).

11.Phần hương.

12.Thành kính tụng Niệm Hương chú.

13.Thượng hương.

- (Trong lúc 2 tiếp lễ đem bó hương và lư trầm lên bàn thờ thì trống đổ cho 4 lễ sĩ đứng lên, trở bộ đi trở xuống).

14.Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn)

15.Thành kính tụng Khai Kinh chú.

16.Thành kính tụng Ngọc Hoàng Kinh.

17.Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật niệm chú)

18.Thành kính tụng Phật giáo Tâm kinh.

19.Cúc cung bái. (Lạy Đức Nhiên Đăng Cổ Phật)

20.Thành kính tụng Tiên giáo Tâm kinh.

21.Cúc cung bái. (Lạy Đức Thái Thượng Đạo Tổ)

22.Thành kính tụng Thánh giáo Tâm kinh.

23.Cúc cung bái. (Lạy Đức Khổng Thánh).

24.Cung hiến Tiên hoa.

- (4 lễ sĩ đăng đài bưng bình hoa và dĩa quả đi lên nội nghi, đi thường, không điện, vào đứng 2 bên CSCĐ, day vào giữa)

25.Quì. (4 lễ sĩ đăng đài quì xuống, trao bình hoa cho CSCĐ, và trao dĩa quả cho vị Chức sắc nữ quì kế bên).

26.Điện Tiên hoa.

- (CSCĐ hai tay cầm bình hoa xá 3 xá, đưa lên trán cầu nguyện Dâng Hoa, mọi người trong đàn cùng cầu nguyện Dâng Hoa, rồi CSCĐ cung kính nângbình hoa lên ngang trán trong lúc đồng nhi thài bài Dâng Hoa)

27.Thượng Tiên hoa. (CSCĐ cầm bình hoa xá 3 xá, rồi trao cho 2 tiếp lễ đem hoa và quả lên đặt trên bàn thờ, trống đổ, 4 lễ sĩ đứng dậy, trở bộ quay lại, đi xuống).

28.Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn 1 lạy 4 gật, niệm chú)

29.Cung hiến Tiên tửu.

- (Giống như mục 24, nhưng dâng ly rượu và nhạo rượu)

30.Quì.

31.Điện Tiên tửu. (Giống mục 26)

32.Thượng Tiên tửu.

33.Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn 1 lạy 4 gật, niệm chú)

34.Cung hiến Tiên trà.

- (Giống như mục 24, nhưng dâng tách trà và bình trà)

35.Quì.

36.Điện Tiên trà.

37.Thượng Tiên trà.

38.Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn 1 lạy 4 gật, niệm chú)

39.Sớ văn thượng tấu.

40.Quì.

41.Thành độc Sớ văn.

42.Cung phần Sớ văn.

43.Cúc cung bái. .

- (Sau khi đốt sớ thì lạy và niệm danh Đấng ghi trong lòng sớ, chỗ Ngưỡng nguyện, hay Ngưỡng vọng : Thí dụ như :

-Ngưỡng vọng Vô Trung Từ Phụ : chúng ta lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.

-Ngưỡng nguyện Đức Hộ Pháp : chúng ta lạy Đức Hộ Pháp 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn. vv….

44.Thành tâm tụng Ngũ Nguyện.

45.Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật niệm chú)

46.Hưng bình thân.

47.Cung thành thứ tự phân lập lưỡng ban.

48.Hiệp Thiên Đài Chức sắc nhập nội nghi.

49.Lễ thành.

Tiểu đàn cúng tại Thánh Thất có tất cả 49 Nghi tiết.

 

C. Nghi tiết cúng Tứ Thời tại Thánh Thất.

Tại Thánh Thất, cúng Tứ Thời vào 4 thời điểm : Tý (0 giờ), Ngọ (12 giờ), Mẹo (6 giờ) và Dậu (18 giờ).

Cúng Tứ thời tại Thánh Thất có nghi tiết giống y như cúng Tứ thời tại tư gia, chỉ khác là lúc khởi đầu thời cúng có dộng chuông và kệ chuông I - II, và lúc sau cùng có kệ chuông và dộng chuông bãi đàn.

Diễn tiến : Đúng giờ cúng, trên Bạch Ngọc Chung Đài, vị Chức việc khởi dộng chuông nhứt.

Trước hết dộng 3 tiếng chuông, kệ 3 câu, mỗi câu dộng 1 tiếng chuông. Bài kệ chuông nhứt :

Văn chung khấu hướng huệ trưởng càn khôn.
Pháp giới chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn.
Án dà ra đế dạ ta bà ha.

Khi hết chuông nhứt, các Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu nam nữ tham dự cúng Tứ thời đi vào chánh điện, sắp hàng hai bên, nam nữ đứng đối diện nhau, tay bắt ấn Tý, chờ nghe chuông nhì.

Kệ chuông nhì, dứt mỗi câu thì dộng 1 tiếng :

Nhứt vi u ám tất giai văn.
Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.
Án dà ra đế dạ ta bà ha.

Người hầu chuông nơi chánh điện gõ 3 tiếng chuông, hai bên xá đàn 1 xá, bước vào trong, nhìn lên Thiên bàn, gõ chuông 3 lần, xá 3 xá, quì xuống.

Gõ chuông lấy dấu Phật Pháp Tăng, thỉnh Thánh ...

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

(giống y như khi cúng Tứ thời tại tư gia)

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Khi đến phần Dâng Tam bửu, tùy theo thời mà thài.

- Cúng khuya và trưa : thài bài Dâng Rượu.

- Cúng sáng và chiều : thài bài Dâng Trà.

- Khi cúng có Dâng sớ (sớ tân cố, sớ tuần cửu, sớ tiểu tường, đại tường, vv . . .) : thài đủ 3 bài : Dâng Hoa, Dâng Rượu, Dâng Trà.

Dù thài dâng 1 bửu hay thài dâng đủ 3 bửu, chúng ta cũng cứ cầu nguyện dâng đủ Tam bửu lên Đức Chí Tôn vì đây là Bí pháp giải thoát chúng ta khỏi luân hồi :

“Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát,
Nam mô Tam Tông Chơn Giáo,
Nam mô Tam Trấn Oai Nghiêm,
Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.
Con xin dâng cả thể xác, chơn thần và linh hồn của con lên cho Đức Chí Tôn tùy phương sử dụng.
Cầu xin các Đấng thiêng liêng chứng minh.“

Tụng Ngũ Nguyện, lạy xong đứng dậy, xá 3 xá, quay ra xá chữ Khí 1 xá, lui ra hai bên, chờ kệ chuông bãi đàn.

“Đàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên . . . . .”

Dứt kệ chuông bãi đàn, hai bên xá đàn 1 xá, bắt đầu đi ra, trong đi ra trước, lần lần tới ngoài. Hết.

 

D. Nghi tiết cúng tế Cửu Huyền Thất Tổ tại Thánh Thất.

1. Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ tại Thánh Thất :

Đây là bàn thờ Ông Bà Chung cho các tín đồ cư ngụ trong một Tộc Đạo.

Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ được thiết lập nơi nhà hậu của Thánh Thất hoặc hậu điện Điện Thờ Phật Mẫu.

Cách sắp đặt trên bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ tại hậu điện Thánh Thất hay Điện Thờ nên theo mẫu thống nhứt là bàn thờ Phước Lộc Thọ nơi hậu điện Báo Ân Từ.

Mẫu nầy đã được trình bày nơi Chương 4 mục VII.

2. Nghi tiết cúng tế Cửu Huyền Thất Tổ :

Vào ba ngày rằm lớn, tại Thánh Thất hay Điện Thờ Phật Mẫu đều có tổ chức cúng tế Cửu Huyền Thất Tổ, có một cặp lễ xướng, hai người tiếp lễ, ban nhạc và đồng nhi.

Các nghi tiết cúng tế giống y như nghi tiết CÁO TỪ TỔ trong Tang lễ.

Nghi châm chước cúng tế Cửu Huyền Thất Tổ :

Cặp lễ bắt đầu xướng :

1. Tử tôn tựu vị. (con cháu tới đứng tại vị trí của mình)

Người chủ tế đứng hàng đầu, tay bắt ấn Tý.

Tất cả những người quì tế phải mặc áo dài trắng quần trắng, nam đội khăn đóng đen, nữ để đầu trần.

2. Giai quì. (đều quì xuống). Tất cả xá 3 xá, quì xuống.

3. Phần hương. (đốt nhang)

Tiếp lễ đốt 3 cây hương, trao cho người chủ tế.

4. Nguyện hương. (cầm nhang cầu nguyện)

Chủ tế cầm 3 cây hương đưa lên trán cầu nguyện.

5. Thượng hương. (dâng hương cắm vào lư nơi bàn thờ)

Người tiếp lễ tiếp 3 cây hương đem cắm vào lư hương.

6. Cúc cung bái. (cúi mình lạy xuống)

Tất cả những người quì tế lạy xuống 3 lạy trơn.

7. Chước tửu. (rót rượu)

Người tiếp lễ lấy nhạo rót rượu vào ly rượu trên bàn thờ.

8. Cúc cung bái.

Tất cả những người quì tế lạy xuống 3 lạy trơn.

9. Ai chúc. (đọc kinh tế lễ với giọng Nam ai)

Đồng nhi tụng Kinh Cầu Tổ Phụ Đã Qui Liễu, rồi tụng tiếp ba biến Kinh Cứu Khổ. Chỗ cứu hộ đệ tử thì tụng là : cứu hộ Cửu Huyền Thất Tổ thoát ly khổ nạn . . . . . .

10. Cúc cung bái.

Tất cả những người quì tế lạy xuống 3 lạy trơn.

11. Điểm trà. (rót nước trà)

Người phụ lễ rót nước trà vào tách nước trà trên bàn thờ.

12. Cúc cung bái.

Tất cả những người quì tế lạy xuống 3 lạy trơn.

13. Hưng bình thân. (cất mình đứng thẳng lên)

Tất cả những người quì tế đứng dậy, xá 3 xá.

14. Tử tôn dĩ hạ giai xuất. (Tất cả con cháu từ đó

sắp xuống đều bước ra ngoài).

15. Lễ thành. (Cuộc tế lễ đã xong).

 

E. Giải thích các chi tiết.

1*. Nhạc tấu Quân Thiên : (. . . . )

Quân là cái bàn xoay của người thợ nặn đồ gốm. Quân Thiên là chỉ Đấng Tạo Hóa, là Thượng Đế.

Nhạc tấu Quân Thiên là những khúc nhạc tấu lên để hiến lễ Đức Chí Tôn.

Điển tích : Quân Thiên Nhạc.

Theo Sử Ký, Triệu Giản Tư mắc bệnh, năm ngày liền không nhận ra người thân. Biển Thước đến thăm bịnh, coi mạch xong, Đổng An Vu hỏi, Biển Thước trả lời :

- Không có gì lạ cả, trước kia Tần Mục Công cũng bị bệnh như thế, 7 ngày sau mới tỉnh.

Trong lúc bị bệnh như thế, Triệu Giản Tư thấy mình đi lên chơi chốn Thiên đình, nghe tấu một điệu nhạc rất hay, xúc động cả tâm can, gọi là Quân Thiên Nhạc.

Hai ngày rưỡi sau, Triệu Giản Tư tỉnh lại, nói với một quan Đại Phu rằng :

- Dữ bách Thần du ư Quân Thiên, quảng nhạc cửu tấu vạn vũ, bất loại tam đại chi nhạc, kỳ thanh động nhân tâm.

Nghĩa là :

- Cùng trăm Thần ruổi chơi nơi Quân Thiên, quảng nhạc tấu 9 khúc, vạn điệu múa, không khúc nào giống khúc nào thời tam đại, tiếng nhạc làm xúc động lòng người.

Lâu nay, chúng ta thường viết “NHẠC TẤU HUÂN THIÊN”, nên sửa lại viết là “Quân Thiên” mới đúng chánh tả.

Có 3 trường hợp Nhạc tấu Quân Thiên (NTQT) :

1. Cúng Tiểu đàn : NTQT chỉ đờn 3 bài : - Ngũ đối hạ. - Long đăng. - Tiểu khúc.
2. Cúng Đại Đàn 3 Đấng Giáo chủ Tam giáo, Tam Trấn Oai Nghiêm và Đức Chúa Jésus: NTQT đờn 5 bài:
Xàng xê - Ngũ đối thượng - Ngũ đối hạ - Long đăng - Tiểu khúc.
3. Cúng Đại Đàn Vía Đức Chí Tôn (mùng 9 tháng giêng), và 3 ngày rằm lớn của Tam nguơn :
Nhạc tấu Quân Thiên đờn 7 bài, ý nghĩa như sau :
  a. Xàng xê : nghĩa là đưa qua trộn lại, không ở một chỗ, ấy là Hỗn độn sơ khai (khi nổ ra một tiếng).
  b. Ngũ đối thượng : nghĩa là 5 từng trên, trên trời có Ngũ Khí, ấy là khí thanh nổi lên làm trời.
  c. Ngũ đối hạ : nghĩa là 5 từng dưới, đó là Ngũ Hành, ấy là trược khí hạ xuống làm đất.
  d. Long đăng : nghĩa là rồng lên, ấy là Dương.
  e. Long ngâm : nghĩa là rồng xuống, ấy là Âm.
  f. Vạn giá : nghĩa là muôn việc đã định rồi, ấy là muôn loài vật đều có tên.
  g. Tiểu khúc : nghĩa là sự nhỏ, ngắn, ấy là sự nhỏ ngắn đều có định luật và có tên.

Khi Nhạc tấu Quân Thiên thì Bát hồn vận chuyển dâng sự sống lên Đức Chí Tôn, nên chúng ta phải xem trọng giờ phút ấy, giữ mình cẩn thận, phải đứng im lặng, nghiêm trang, không được nói chuyện hay đi tới lui, hoặc cử động như đập muỗi, gãi chỗ ngứa, . . . giữ tư tưởng trong sạch tưởng niệm Đức Chí Tôn.

Tại các Thánh Thất địa phương thường thiếu nhạc sĩ, nên không có khả năng đờn đủ 5 bài hay 7 bài theo như nghi lễ qui định, lúc đó chỉ đờn 3 bài (Ngũ đối hạ, Long đăng, Tiểu khúc); nếu như không đờn được 3 bài nầy thì chỉ đờn 1 bài Ngũ đối hạ, mà đờn 3 hiệp.

2*. Giải nghĩa các bài Kệ trống và chuông:

- Lôi Âm Cổ Đài : cái đài có đặt trống Lôi Âm, thường gọi là Lầu trống. Lôi là sấm, âm là tiếng, cổ là cái trống. Lôi âm cổ là cái trống phát ra tiếng lớn như tiếng sấm.

- Bạch Ngọc Chung Đài : cái đài có đặt chuông Bạch Ngọc, thường gọi là Lầu chuông.

1.- Kệ trống :

C.1 : Lôi Âm thánh cổ triệt hư không.

Tiếng trống Lôi Âm thiêng liêng thấu suốt tới cõi Hư không.

C.2 : Truyền tấu càn khôn thế giới thông.

Tiếng trống truyền đi để tỏ bày cho cả càn khôn thế giới rõ.

C.3 : Đạo pháp đương kim dương chánh giáo.

Giáo lý của Đạo Cao Đài hiện nay nêu cao cho mọi người

biết, đây là một nền tôn giáo chơn chánh.

C.4 : Linh quang chiếu diệu Ngọc Kinh Cung.

Ánh sáng thiêng liêng chiếu sáng rực rỡ tòa Bạch Ngọc Kinh.

2.- Kệ chuông Đại đàn và Tiểu đàn :

C.1 : Thần chung thinh hướng phóng Phong đô.

Tiếng chuông thiêng liêng phát ra hướng đến cõi Phong đô.

C.2 : Địa Tạng khai môn phóng xá cô.

Đức Địa Tạng Bồ Tát mở cửa phóng thích, tha các tội hồn.

C.3 : Tam kỳ vận chuyển kim quang hiện.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ vận chuyển làm hiện ra một dải ánh sáng vàng.

C.4 : Sám hối âm hồn xuất u đồ.

Các chơn hồn nơi cõi Phong đô sám hối tội tình thì đi ra khỏi nơi tối tăm ấy bằng con đường là dải kim quang nói trên.

3.- Kệ chuông bãi đàn :

C.1 : Đàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên, vĩnh mộc từ ân, phong điều võ thuận.

Đàn cúng tế đã đầy đủ và trọn vẹn, Chức sắc trở lại chỗ cũ, lâu dài gội nhuần ơn huệ của Chí Tôn, gió hòa mưa thuận.

C.2 : Thiên phong hải chúng, quốc thới dân an, hồi hướng đàn trường, tận thâu pháp giới.

Trời ban cho dân chúng, nước thạnh dân yên, hồi hướng công đức nơi đàn cúng tế, thâu hết pháp giới.

C.3 : Án dà ra đế dạ ta bà ha.

Câu mật chú bằng tiếng Phạn, có ý nghĩa : Cầu nguyện chúng sanh được tiêu tai tăng phước, đắc thành Phật đạo, chư Phật chứng minh.

4.- Kệ chuông nhứt :

C.1 : Văn chung khấu hướng huệ trưởng càn khôn.

Nghe tiếng chuông, cúi mình xuống hướng đến cái trí huệ lớn của Trời Đất.

C.2 : Pháp giới chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn.

Nhơn sanh nơi các cõi trần cùng lên bờ giải thoát.

C.3 : Án dà ra đế dạ ta bà ha. (như trên)

5.- Kệ chuông nhì :

C.1 : Nhứt vi u ám tất giai văn.

Tất cả trong phạm vi cõi Phong đô ắt hẳn đều nghe biết.

C.2 : Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.

Tất cả chúng sanh đều thành bậc chánh giác (Phật).

C.3 : Án dà ra đế dạ ta bà ha. (như trên)

3*. Giải nghĩa lòng sớ (Vía Đức Lý Thái Bạch).

“ Nay vì đến tiết Trung Thu, ngày lành giờ tốt, chính là ngày Thánh đản (ngày sanh) của Đức Lý Thái Bạch Đại Tiên Trưởng Nhứt Trấn Oai Nghiêm của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Các Chức sắc Thiên phong nghiêm chỉnh thiết lập đại đàn cúng tế gồm nhang, đèn, bông, trà, trái cây, rượu tinh khiết làm thành nghi thức thành tâm dâng lễ.

Ngưỡng nguyện Đức Lý Đại Tiên Trưởng Nhứt Trấn Oai Nghiêm, đạt được trí dũng thiên tài, viết bài văn hồi đáp vua Phiên*, tiếng tăm tốt đứng trên cả một đời, vâng theo mạng lịnh của Đức Chí Tôn, bảo thủ chơn truyền Đại Đạo, phò hộ gìn giữ các đệ tử, đào tạo và rèn luyện trí thức tinh thần cho tài giỏi, thực hành chánh giáo, phổ độ và giáo hóa nhơn sanh hiệp hòa chủng tộc, cởi bỏ và cứu giúp các khổ nạn của chiến tranh, vãn hồi an ninh trật tự, cho dân chung hưởng cảnh thái bình thạnh trị, an nhàn hạnh phúc. “

(* Thảo : viết ra. Hích : hịch, bài văn để lên án hay để kêu gọi. Man : mọi rợ, chỉ nước Bắc phiên. Thơ : thư, văn thư.)