E. Giải thích các chi tiết.
ID026574 - Tiết : E. Giải thích các chi tiết. 🖶 Print this Tiết
Chương : 6. Tứ Thời là gì ?
Sách : Bước Đầu Học Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

E. Giải thích các chi tiết.

1*. Nhạc tấu Quân Thiên : (. . . . )

Quân là cái bàn xoay của người thợ nặn đồ gốm. Quân Thiên là chỉ Đấng Tạo Hóa, là Thượng Đế.

Nhạc tấu Quân Thiên là những khúc nhạc tấu lên để hiến lễ Đức Chí Tôn.

Điển tích : Quân Thiên Nhạc.

Theo Sử Ký, Triệu Giản Tư mắc bệnh, năm ngày liền không nhận ra người thân. Biển Thước đến thăm bịnh, coi mạch xong, Đổng An Vu hỏi, Biển Thước trả lời :

- Không có gì lạ cả, trước kia Tần Mục Công cũng bị bệnh như thế, 7 ngày sau mới tỉnh.

Trong lúc bị bệnh như thế, Triệu Giản Tư thấy mình đi lên chơi chốn Thiên đình, nghe tấu một điệu nhạc rất hay, xúc động cả tâm can, gọi là Quân Thiên Nhạc.

Hai ngày rưỡi sau, Triệu Giản Tư tỉnh lại, nói với một quan Đại Phu rằng :

- Dữ bách Thần du ư Quân Thiên, quảng nhạc cửu tấu vạn vũ, bất loại tam đại chi nhạc, kỳ thanh động nhân tâm.

Nghĩa là :

- Cùng trăm Thần ruổi chơi nơi Quân Thiên, quảng nhạc tấu 9 khúc, vạn điệu múa, không khúc nào giống khúc nào thời tam đại, tiếng nhạc làm xúc động lòng người.

Lâu nay, chúng ta thường viết “NHẠC TẤU HUÂN THIÊN”, nên sửa lại viết là “Quân Thiên” mới đúng chánh tả.

Có 3 trường hợp Nhạc tấu Quân Thiên (NTQT) :

1. Cúng Tiểu đàn : NTQT chỉ đờn 3 bài : - Ngũ đối hạ. - Long đăng. - Tiểu khúc.
2. Cúng Đại Đàn 3 Đấng Giáo chủ Tam giáo, Tam Trấn Oai Nghiêm và Đức Chúa Jésus: NTQT đờn 5 bài:
Xàng xê - Ngũ đối thượng - Ngũ đối hạ - Long đăng - Tiểu khúc.
3. Cúng Đại Đàn Vía Đức Chí Tôn (mùng 9 tháng giêng), và 3 ngày rằm lớn của Tam nguơn :
Nhạc tấu Quân Thiên đờn 7 bài, ý nghĩa như sau :
  a. Xàng xê : nghĩa là đưa qua trộn lại, không ở một chỗ, ấy là Hỗn độn sơ khai (khi nổ ra một tiếng).
  b. Ngũ đối thượng : nghĩa là 5 từng trên, trên trời có Ngũ Khí, ấy là khí thanh nổi lên làm trời.
  c. Ngũ đối hạ : nghĩa là 5 từng dưới, đó là Ngũ Hành, ấy là trược khí hạ xuống làm đất.
  d. Long đăng : nghĩa là rồng lên, ấy là Dương.
  e. Long ngâm : nghĩa là rồng xuống, ấy là Âm.
  f. Vạn giá : nghĩa là muôn việc đã định rồi, ấy là muôn loài vật đều có tên.
  g. Tiểu khúc : nghĩa là sự nhỏ, ngắn, ấy là sự nhỏ ngắn đều có định luật và có tên.

Khi Nhạc tấu Quân Thiên thì Bát hồn vận chuyển dâng sự sống lên Đức Chí Tôn, nên chúng ta phải xem trọng giờ phút ấy, giữ mình cẩn thận, phải đứng im lặng, nghiêm trang, không được nói chuyện hay đi tới lui, hoặc cử động như đập muỗi, gãi chỗ ngứa, . . . giữ tư tưởng trong sạch tưởng niệm Đức Chí Tôn.

Tại các Thánh Thất địa phương thường thiếu nhạc sĩ, nên không có khả năng đờn đủ 5 bài hay 7 bài theo như nghi lễ qui định, lúc đó chỉ đờn 3 bài (Ngũ đối hạ, Long đăng, Tiểu khúc); nếu như không đờn được 3 bài nầy thì chỉ đờn 1 bài Ngũ đối hạ, mà đờn 3 hiệp.

2*. Giải nghĩa các bài Kệ trống và chuông:

- Lôi Âm Cổ Đài : cái đài có đặt trống Lôi Âm, thường gọi là Lầu trống. Lôi là sấm, âm là tiếng, cổ là cái trống. Lôi âm cổ là cái trống phát ra tiếng lớn như tiếng sấm.

- Bạch Ngọc Chung Đài : cái đài có đặt chuông Bạch Ngọc, thường gọi là Lầu chuông.

1.- Kệ trống :

C.1 : Lôi Âm thánh cổ triệt hư không.

Tiếng trống Lôi Âm thiêng liêng thấu suốt tới cõi Hư không.

C.2 : Truyền tấu càn khôn thế giới thông.

Tiếng trống truyền đi để tỏ bày cho cả càn khôn thế giới rõ.

C.3 : Đạo pháp đương kim dương chánh giáo.

Giáo lý của Đạo Cao Đài hiện nay nêu cao cho mọi người

biết, đây là một nền tôn giáo chơn chánh.

C.4 : Linh quang chiếu diệu Ngọc Kinh Cung.

Ánh sáng thiêng liêng chiếu sáng rực rỡ tòa Bạch Ngọc Kinh.

2.- Kệ chuông Đại đàn và Tiểu đàn :

C.1 : Thần chung thinh hướng phóng Phong đô.

Tiếng chuông thiêng liêng phát ra hướng đến cõi Phong đô.

C.2 : Địa Tạng khai môn phóng xá cô.

Đức Địa Tạng Bồ Tát mở cửa phóng thích, tha các tội hồn.

C.3 : Tam kỳ vận chuyển kim quang hiện.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ vận chuyển làm hiện ra một dải ánh sáng vàng.

C.4 : Sám hối âm hồn xuất u đồ.

Các chơn hồn nơi cõi Phong đô sám hối tội tình thì đi ra khỏi nơi tối tăm ấy bằng con đường là dải kim quang nói trên.

3.- Kệ chuông bãi đàn :

C.1 : Đàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên, vĩnh mộc từ ân, phong điều võ thuận.

Đàn cúng tế đã đầy đủ và trọn vẹn, Chức sắc trở lại chỗ cũ, lâu dài gội nhuần ơn huệ của Chí Tôn, gió hòa mưa thuận.

C.2 : Thiên phong hải chúng, quốc thới dân an, hồi hướng đàn trường, tận thâu pháp giới.

Trời ban cho dân chúng, nước thạnh dân yên, hồi hướng công đức nơi đàn cúng tế, thâu hết pháp giới.

C.3 : Án dà ra đế dạ ta bà ha.

Câu mật chú bằng tiếng Phạn, có ý nghĩa : Cầu nguyện chúng sanh được tiêu tai tăng phước, đắc thành Phật đạo, chư Phật chứng minh.

4.- Kệ chuông nhứt :

C.1 : Văn chung khấu hướng huệ trưởng càn khôn.

Nghe tiếng chuông, cúi mình xuống hướng đến cái trí huệ lớn của Trời Đất.

C.2 : Pháp giới chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn.

Nhơn sanh nơi các cõi trần cùng lên bờ giải thoát.

C.3 : Án dà ra đế dạ ta bà ha. (như trên)

5.- Kệ chuông nhì :

C.1 : Nhứt vi u ám tất giai văn.

Tất cả trong phạm vi cõi Phong đô ắt hẳn đều nghe biết.

C.2 : Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.

Tất cả chúng sanh đều thành bậc chánh giác (Phật).

C.3 : Án dà ra đế dạ ta bà ha. (như trên)

3*. Giải nghĩa lòng sớ (Vía Đức Lý Thái Bạch).

“ Nay vì đến tiết Trung Thu, ngày lành giờ tốt, chính là ngày Thánh đản (ngày sanh) của Đức Lý Thái Bạch Đại Tiên Trưởng Nhứt Trấn Oai Nghiêm của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Các Chức sắc Thiên phong nghiêm chỉnh thiết lập đại đàn cúng tế gồm nhang, đèn, bông, trà, trái cây, rượu tinh khiết làm thành nghi thức thành tâm dâng lễ.

Ngưỡng nguyện Đức Lý Đại Tiên Trưởng Nhứt Trấn Oai Nghiêm, đạt được trí dũng thiên tài, viết bài văn hồi đáp vua Phiên*, tiếng tăm tốt đứng trên cả một đời, vâng theo mạng lịnh của Đức Chí Tôn, bảo thủ chơn truyền Đại Đạo, phò hộ gìn giữ các đệ tử, đào tạo và rèn luyện trí thức tinh thần cho tài giỏi, thực hành chánh giáo, phổ độ và giáo hóa nhơn sanh hiệp hòa chủng tộc, cởi bỏ và cứu giúp các khổ nạn của chiến tranh, vãn hồi an ninh trật tự, cho dân chung hưởng cảnh thái bình thạnh trị, an nhàn hạnh phúc. “

(* Thảo : viết ra. Hích : hịch, bài văn để lên án hay để kêu gọi. Man : mọi rợ, chỉ nước Bắc phiên. Thơ : thư, văn thư.)