C. Nhiệm vụ của Đầu Tộc Đạo.
ID026584 - Tiết : C. Nhiệm vụ của Đầu Tộc Đạo. 🖶 Print this Tiết
Chương : 8. Hành Chánh Đạo địa phương.
Sách : Bước Đầu Học Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

C. Nhiệm vụ của Đầu Tộc Đạo.

Nhiệm vụ của Đầu Tộc Đạo rất nặng nề, vì đây là cấp Hành Chánh Đạo cơ sở, làm việc trực tiếp với nhơn sanh, chịu hệ thống nhiều cấp chỉ huy, cho nên ngoài khả năng điều hành công việc, Pháp Chánh Truyền còn buộc Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo phải là người có đầy đủ đức hạnh mới có thể nhẫn nại vượt qua những nỗi khó khăn gặp phải.

Nhiệm vụ của Đầu Tộc Đạo có hai phần: đối ngoại và đối nội.

A. ĐỐI NGOẠI :

Đối với chánh quyền địa phương cấp quận, huyện hay cấp xã; đối với các tôn giáo bạn và các chi phái.

1. Đối với chánh quyền địa phương :

Đầu Tộc Đạo dùng sự chơn thật và hiền hòa của người tu hành tạo sự giao thiệp tốt đẹp với các quan chức của chánh quyền đời, tham gia tích cực vào các hoạt động từ thiện và các hoạt động văn hóa nâng cao dân trí, luôn luôn bày tỏ chủ trương thuần túy đạo đức tu hành của tôn giáo Cao Đài, dứt khoát không dung túng các phần tử xấu ẩn núp trong tôn giáo để gây chia rẽ hay mượn danh đạo làm chánh trị để tạo danh đời.

2. Đối với các tôn giáo bạn :

Đầu Tộc Đạo không nên chỉ trích hay bài bác các tôn giáo khác, cho rằng hiện nay chỉ có Đạo Cao Đài là chánh pháp, còn các tôn giáo khác là mạt pháp. Đây là điều tối kỵ mà nếu đụng vào thì hư hết các mối giao hảo.

Tôn chỉ “Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt” của Đạo Cao Đài chỉ có Đức Phật Di-Lạc mới thực hiện được và cũng không biết đến bao giờ, còn đối với người đạo chúng ta trong kiếp sanh nầy thật là quá lý tưởng, cho nên điều nầy không làm cho các tôn giáo bạn hài lòng.

Đầu Tộc Đạo lấy tinh thần hòa đồng trong sự bình đẳng giữa các tôn giáo với mục đích chung là giáo dân vi thiện, cứu khổ ban vui, làm phương châm giao tiếp gây cảm tình với các tôn giáo bạn.

3. Đối với các chi phái của Đạo Cao Đài :

Hiện nay, những tín đồ trong các Chi phái của Đạo Cao Đài chỉ là những nạn nhân của một số ít Chức sắc tiền bối mà trước đây vì bất đồng quan điểm với Tòa Thánh Tây Ninh, quí vị nầy tách ra để lập Chi phái.

Đáng thương hơn nữa là họ có mặc cảm tự ti bởi Đạo Nghị Định số 8 ngày 15-7-Giáp Tuất (1934) của Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp, cho rằng “Chi phái là bàng môn tả đạo”.

Tình thế hiện nay có nhiều đổi khác, vì từ năm 1934 đến nay trải qua gần 70 năm, việc đời việc Đạo biết bao thương hải tang điền, nền văn minh tiến hóa vượt bực, thì tư duy của người đạo cũng cần phải thay đổi theo cho phù hợp với tình thế mới.

Chính Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp cũng đã nói từ năm 1957 và năm 1964 rằng :

“Về Đạo Nghị Định của Lão đối với Chi phái là phương pháp lúc trước để phổ độ nhơn sanh mà thôi, hiện giờ cửa Đạo đã mở rộng thì cơ qui nhứt thế nào cũng thực hiện được.” (Thánh Ngôn Sưu Tập. Q4 B 11)

“Vậy ngày giờ đã gần đến nên Bần đạo để lời khuyên cả Chức sắc và toàn đạo ráng thế nào thống nhứt Đạo cho được mới có đủ sức mạnh để làm gương cho vạn quốc.” (Thánh Ngôn Sưu Tập. Q4 B 33)

Việc phân chia Chi phái là một vết thương âm ỉ trong lòng của mỗi tín đồ Cao Đài có nhiệt tâm vì Thầy vì Đạo, khi nhắc đến thì đau buốt cả tâm can, vì bao nhiêu lời dạy bảo thương yêu của Đức Chí Tôn đều bị phàm tâm bỏ chảy theo dòng sông ô nhiễm.

Người tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh mà không thương yêu được tín đồ Cao Đài của các Chi phái thì làm sao dám nói đến sự thương yêu đối với tín đồ các tôn giáo khác trong tôn chỉ qui nguyên phục nhứt. Cho nên, ưu tiên hàng đầu của Đạo Cao Đài là thực hiện cơ qui nhứt, như lời dạy của Đức Hộ Pháp, một là để có đủ sức mạnh phổ độ nhơn sanh, hai là làm gương tốt cho thế giới.

Cần mở rộng vòng tay đón mời các huynh đệ trong các Chi phái với một tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, giúp đỡ nhau như anh em một nhà. Còn nếu chúng ta vẫn giữ theo nếp suy nghĩ cũ, xem những người Chi phái như những kẻ hồi chánh, lầm đường lạc lối trở về, lại tự cho mình là kẻ bề trên, thì cơ qui hiệp biết đến bao giờ mới thực hiện được !

Cũng có nhiều vị tự cho mình là người đạo kỳ cựu nhưng họ tu lè phè, phất phơ theo cuộc thủy triều, không siêng năng cúng kiếng và làm công quả, thì bước đường tiến hóa của họ đi được bao nhiêu mà khoe là kỳ cựu ?

Tuy rủi ở trong Chi phái nhưng có nhiều người có trí thức cao, đạo hạnh tốt, trình độ tiến hoá tâm linh đáng trọng. Dù ở vị trí nào, ở hoàn cảnh nào, cũng có thể tu hành chơn chánh được, miễn là biết giữ tâm cho chơn chánh, xa lánh điều tà vạy; nhưng nếu ở trong nghịch cảnh hoài thì sự tiến hóa ắt phải khó khăn chậm trễ, chi bằng chuyển đổi hoàn cảnh cho thuận chiều Thiên lý thì sự tiến hóa tâm linh ắt dễ dàng nhanh chóng.

Chúng ta cũng cần kêu gọi những tín đồ Chi phái nên đặt lợi ích chung, danh dự chung của Đạo Cao Đài, hy sinh phần nào quyền lợi cá nhân, xem phẩm tước phàm trần là giả tạm, mà qui tụ đoàn kết với nhau trong một Hội Thánh duy nhứt, một Tòa Thánh duy nhứt, làm vui lòng hai Đấng Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu, hầu tạo được phẩm vị chơn thật nơi cõi thiêng liêng.

Con đường tiến hóa tất yếu của Đạo Cao Đài là phải qui hiệp, những chướng ngại trên con đường tiến hóa nầy sẽ bị dẹp bỏ, ai giữ mãi tinh thần chia rẽ sẽ bị đào thải là lẽ tất nhiên không thể nào tránh khỏi.

B. ĐỐI NỘI :

1. Cấp trên trực tiếp của Đầu Tộc Đạo là Khâm Châu Đạo, nên tất cả Đạo sự trong Tộc đạo, Đầu Tộc Đạo phải báo cáo đầy đủ chi tiết lên Khâm Châu Đạo, gặp những việc khó khăn thì phải xin ý kiến của Khâm Châu Đạo giải quyết. Ngoài ra, Đầu Tộc Đạo còn phải làm đủ tất cả các phúc trình Đạo sự gởi lên Châu đạo, Trấn đạo và Hội Thánh ở Trung ương.

2. Đầu Tộc Đạo phải ban hành các các giấy tờ của Đạo do cấp trên gởi xuống như : Đạo lịnh, Thánh lịnh, Huấn lịnh, Thông tri, Châu tri, vv. . .

3. Thiết lập các đàn cúng Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng vào những ngày Vía hay Sóc Vọng.

Sau thời cúng thì đọc Thánh Ngôn hay thuyết đạo, nhưng cần ngắn ngọn vì các tín đồ đã mỏi mệt nhiều.

4. Đầu Tộc Đạo lo nhập môn cho Tân tín đồ, khai đàn, thượng tượng và dẫn giải lễ nghi thờ cúng của Đạo.

5. Đầu Tộc Đạo chủ tọa các phiên họp của các Chức việc Bàn Trị Sự và Ban Tứ Vụ của Thánh Thất, Đầu Phòng Văn làm Từ hàn lập biên bản các phiên họp.

6. Đầu Tộc Đạo cùng Chức việc Bàn Trị Sự, Ban Tứ Vụ lo tang tế sự cho các bổn đạo trong địa phận của mình, hoặc đi thăm viếng và giúp đỡ các gia đình đạo gặp khó khăn.

7. Đầu Tộc Đạo chủ tọa việc công cử các chức vụ Bàn Trị Sự khi bị khuyết, có mời vị Pháp Chánh của Tộc đạo đến giám thị. (Xem chi tiết nơi phần sau).

8. Về quyền sửa trị và giáo hóa của Đầu Tộc Đạo :

“Lễ Sanh khi đã nhậm chức Đầu Tộc Đạo thì có quyền giáo hóa chư Chức việc và tín đồ trong Tộc đạo mình cai quản và có quyền hòa giải những sự xích mích giữa người bổn đạo.

a- Khuyên giải : Khi có người phạm lỗi nhẹ về Thế luật hoặc thiếu hạnh kiểm làm mất tư cách người đạo, làm tổn thương đến danh thể chung của người đồng đạo thì Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo phải có bổn phận dạy khuyên cho người biết ăn năn chừa lỗi.

b- Răn phạt : Nếu vị nào chẳng biết sửa mình chừa lỗi, lại còn tái phạm thì Đầu Tộc Đạo có quyền răn phạt bằng cách quì hương tụng kinh Sám Hối.

c- Hòa giải : Những việc xích mích tranh tụng thường sự giữa người đồng đạo, dầu thuộc về việc đời hay việc đạo, Đầu Tộc Đạo chẳng nên dễ dãi bỏ qua để mất hòa khí, sanh những mầm hờn giận ghét ganh, mất tình tương thân tương ái cùng nhau.

Trong trường hợp nầy, Đầu Tộc Đạo cần mời tất cả đôi bên đến, dùng lời lẽ đạo đức giải thích phép đời luật đạo, lời thuận lẽ êm, cân phân phải quấy, cho đôi bên hiểu rõ, rồi hòa giải cho được thuận hòa cùng nhau.

d- Răn trị : Người giữ đạo buộc phải tuân y luật pháp của Đạo :

- Luật có Tân Luật
- Pháp có Pháp Chánh Truyền

Thoảng như có vị nào phạm luật, phạm pháp về mấy khoản nặng mà Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo đặng hiểu biết hay do Chức việc Bàn Trị Sự phúc tờ lên thì Đầu Tộc Đạo chẳng nên im ẩn mà chính mình phải đích thân đến tận nơi mở cuộc minh tra cho minh bạch, hoặc mời đến văn phòng hạch vấn cho ra lẽ, rồi phúc sự lên Giáo Hữu Khâm Châu Đạo để cho người liệu phương giáo hóa, hay Khâm Châu Đạo tư tờ về Hội Thánh định đoạt.

e - Kiện tụng : Thoảng như có việc kiện tụng rắc rối đại sự, Đầu Tộc Đạo đã hết lời hòa giải mà chẳng đặng, đôi đàng vẫn cố tình tranh đua hơn thiệt, hoặc vì quyền lợi, hoặc vì danh thể cá nhân, có ảnh hưởng đến quyền dân sự, chừng đó mới buộc lòng để hai đàng kiện đến tòa án quốc gia.

Còn những vụ tranh tụng về đạo mà Đầu Tộc Đạo hòa giải không đặng thì nên dùng quyền điều tra riêng, với tư cách vô tư, rồi phúc sự nội vụ lên cho Giáo Hữu Khâm Châu Đạo phân xử.

Chú ý : Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo cần phải am hiểu bộ Luật lệ xử đoán đã ban hành ngày 29-5-Đinh Dậu (1957) của Ngài Hiến Pháp Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh.

“Để có thực lực hữu hiệu điểm tô nghiệp đạo tại địa phương được tốt đẹp, Đầu Tộc Đạo phải đặt tình thương lên trên hết, thật hành bác ái, vị tha, hướng dẫn điều hành thuộc cấp. Về tâm lý, phải sửa sai những lầm lẫn trong trách vụ, vui nhận mọi ý kiến của đàn em xây dựng mới đáng bậc đàn anh, có như vậy mới đẩy mạnh guồng máy Hành Chánh Đạo được nhịp nhàng và đắc nhơn tâm, thực hành đúng câu “thể Thiên hành hóa” mà Hội Thánh tin giao cho mỗi vị Đầu Tộc Đạo đó vậy.” (Trích tài liệu Hạnh Đường Lễ Sanh)