11. Cơ quan Lập Pháp (Ba Hội lập Quyền Vạn linh)
ID026601 - Chương : 11. Cơ quan Lập Pháp (Ba Hội lập Quyền Vạn linh) 🖶 Print this Chương
Sách : Bước Đầu Học Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

 

A. Quyền Vạn linh là gì ?

Vạn linh là toàn cả các chơn linh (linh hồn) trong càn khôn vũ trụ, gồm đủ Bát hồn.

Bát hồn là tám phẩm chơn hồn trong càn khôn vũ trụ, gồm : kim thạch hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.

Quyền Vạn linh là quyền quyết nghị của các đại biểu của Vạn linh, tức là các đại biểu của Bát hồn.

Khi lập Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn lập ra 3 đài tương ứng với 3 quyền : Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp.

- Quyền Lập pháp là của Bát Quái Đài do Đức Chí Tôn nắm giữ.

- Quyền Hành pháp là của Cửu Trùng Đài do Đức Giáo Tông nắm giữ.

- Quyền Tư pháp là của Hiệp Thiên Đài do Đức Hộ Pháp nắm giữ.

Khi lập Đạo xong thì Đức Chí Tôn giao Quyền Lập pháp lại cho Vạn linh, vì Đức Chí Tôn cho Quyền Vạn linh được ngang bằng với Quyền Chí linh. (Chí linh là Đức Chí Tôn). Vì thế, Quyền Vạn linh lập thành Cơ quan Lập pháp của Đạo Cao Đài.

Cơ quan Lập pháp của Đạo Cao Đài là một cơ quan có nhiệm vụ lập ra hay hủy bỏ các luật pháp tu hành cho các tín đồ Cao Đài, để các luật pháp nầy lúc nào cũng thích hợp với trình độ tiến hóa của nhơn sanh.

Quyền Vạn linh lập pháp của Đạo Cao Đài thể hiện lần đầu tiên là lập thành Tân Luật, luật tu hành của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Muốn thực hiện Quyền Vạn linh thì phải quyết nghị qua 3 Hội :

- Hội Nhơn sanh,
- Hội Thánh,
- Thượng hội.

- Hội Nhơn sanh là hội nghị của các đại biểu nhơn sanh gồm : đại biểu của hạng Đạo hữu (đối phẩm Địa Thần), đại biểu của hạng Bàn Trị Sự (đối phẩm Nhơn Thần), đại biểu của hạng Lễ Sanh (đối phẩm Thiên Thần).

Hội Nhơn sanh còn là đại biểu của các hạng chúng sanh : kim thạch, thảo mộc, thú cầm, nhơn loại, bởi vì trong chúng sanh thì nhơn loại tiến hóa và linh hơn tất cả, nên làm đầu chúng sanh.

Cho nên, Hội Nhơn sanh đại biểu cho 5 phẩm chơn hồn : kim thạch hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, Nhơn hồn và Thần hồn.

- Hội Thánh là hội nghị của các đại biểu của hàng Thánh, gồm : các Giáo Hữu (đối phẩm Địa Thánh), các Giáo Sư (đối phẩm Nhơn Thánh), các Phối Sư và Chánh Phối Sư (đối phẩm Thiên Thánh).

- Thượng Hội là hội nghị của các đại biểu hàng Tiên và Phật, gồm : các vị Đầu Sư (đối phẩm Địa Tiên), các vị Chưởng Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh (đối phẩm Nhơn Tiên), Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp (đối phẩm Thiên Tiên và Phật vị).

Ba hội nầy hiệp lại quyết nghị một điều gì thì đó là quyết nghị của Vạn linh, tạo thành Quyền Vạn linh.

Hội Nhơn sanh thể hiện ý nguyện của nhơn sanh nên có tánh cách dục tấn, cấp tiến, thường đi quá cao so với năng lực của nhơn sanh, nên cần phải có Hội Thánh để dung hòa và kềm chế bớt, còn Thượng Hội thì chỉnh đốn cho hợp với Thiên điều.

Do đó, một quyết nghị mà được thông qua 3 Hội như thế thì nhứt định là xác đáng, hợp lý và hợp Thiên điều.

Cho nên, luật nào được Ba Hội lập Quyền Vạn linh quyết nghị thông qua, thì được xem là Thiên điều tại thế, không ai có quyền sửa cải. Khi có điều luật nào áp dụng lâu ngày trở nên lỗi thời thì chỉ có Quyền Vạn linh mới được sửa cải mà thôi.

 

B. Hội Nhơn Sanh

1- Các Đại biểu của Hội Nhơn sanh gồm :

1. Các vị Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo.
2. Các Nghị viên.
3. Các Phái viên.

- Lễ Sanh làm đầu nhơn sanh, nên các vị Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo phải có mặt trong Hội Nhơn sanh.

- Nghị viên là đại biểu của ba hạng : Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự. Lấy đơn vị bầu cử là Tộc đạo :

Các vị Chánh Trị Sự đương quyền trong Tộc đạo bầu ra 1 đại biểu Chánh Trị Sự.

Các vị Phó Trị Sự đương quyền trong Tộc đạo bầu ra 1 đại biểu Phó Trị Sự.

Các vị Thông Sự đương quyền trong Tộc đạo bầu ra 1 đại biểu Thông Sự.

Như vậy trong 1 Tộc đạo có 3 Nghị viên : 1 Chánh Trị Sự, 1 Phó Trị Sự, và 1 Thông Sự.

- Phái viên là đại biểu các Đạo hữu trong Tộc đạo.

Trong Tộc đạo, cứ 500 Đạo hữu thì bầu ra 1 Phái viên. Thí dụ như trong Tộc đạo có 800 Đạo hữu nam phái thì được bầu ra 2 Phái viên nam phái. (Nếu có 980 Đạo hữu thì cũng chỉ bầu ra 2 Phái viên mà thôi, vì vẫn chưa tới số 1000).

Đối với nữ phái, số Nghị viên và Phái viên bên nam phái thế nào thì số Nghị viên và Phái viên nữ phái cũng y như thế.

Nhiệm kỳ của Nghị viên là Phái viên là 3 năm.

2- Tổ chức Hội Nhơn sanh :

Tất cả các Đại biểu nam nữ của Hội Nhơn sanh họp chung với nhau, chỗ ngồi phân biệt hai bên nam nữ.

1. Nghị trưởng : Thượng Chánh Phối Sư.
2. Phó Nghị trưởng : Nữ Chánh Phối Sư.
3. Từ hàn : - 1 Nghị viên nam - 1 Nghị viên nữ.
4. Phó Từ hàn : - 2 Nghị viên nam - 2 Nghị viên nữ.
5. Tất cả các Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo, các Nghị viên và Phái viên đều là Hội viên của Hội Nhơn sanh, có quyền bàn cãi và bỏ thăm biểu quyết.
6. Một Chức sắc Hiệp Thiên Đài được cử tới dự Hội Nhơn sanh để chứng kiến và giữ cho cuộc hội nhóm của Hội không phạm đến luật đạo. Vị nầy không đặng biểu quyết.

3- Phận sự của Hội Nhơn sanh :

Hội Nhơn sanh mỗi năm nhóm họp một lần vào ngày 15 tháng giêng, để bàn cãi các việc sau đây :

1. Giáo hóa nhơn sanh.
2. Liệu phương hay cho Đạo và Đời không phản khắc nhau và nâng cao tinh thần trí thức của nhơn sanh.
3. Phổ độ nhơn sanh vào cửa Đạo, dìu dắt tín đồ trọn tuân các luật pháp của Đạo.
4. Sửa cải, thêm bớt hay hủy bỏ những luật lệ của nhơn sanh không còn phù hạp.
5. Lo cho nền Đạo được điều hòa và đủ phương tiện đặng phổ thông chơn đạo.
6. Xem xét tài chánh, kiểm tra tài sản của Đạo, phỏng định số thâu xuất trong năm tới.
7. Xem xét sổ cầu phong và cầu thăng của Chức việc và Chức sắc.

4- Ban Ủy viên :

Sau khi khai mạc Đại Hội Nhơn sanh, Nghị trưởng trình bày chương trình nghị sự xong thì toàn hội chọn cử ra 4 Ban Ủy viên ngánh theo phái đặng thảo luận các vấn đề cho được cặn kẽ và thấu đáo :

1) Ban Ủy viên phái Thái.
2) Ban Ủy viên phái Thượng.
3) Ban Ủy viên phái Ngọc.
4) Ban Ủy viên Nữ phái.

Số hội viên của Hội Nhơn sanh được chia đều cho 4 Ban Ủy viên nầy.

Mỗi Ban Ủy viên cử : 1 Nghị trưởng, 1 Phúc sự viên.

5- Hội Ngánh thường xuyên Hội Nhơn sanh.Mục đích của Hội Ngánh thường xuyên Hội Nhơn Sanh tại Tòa Thánh là bàn tính các điều ngoài chương trình nghị sự của Đại hội và các việc trọng hệ xảy ra thình lình, nhứt là việc giao thiệp cùng chánh phủ. Hội Ngánh thường xuyên của Đại Hội Nhơn sanh gồm có :

- Thượng Chánh Phối Sư : Nghị trưởng.
- Nữ Chánh Phối Sư : Phó Nghị trưởng.
- Từ hàn nam nữ của Đại hội : Từ hàn.
- Phó Từ hàn nam nữ của Đại hội : Phó Từ hàn.
- Mỗi Châu đạo chọn 1 Nghị viên nam và 1 Nghị viên nữ tham dự Hội Ngánh.
- Một Chức sắc Hiệp Thiên Đài chứng kiến, bảo thủ luật pháp.

Hội Ngánh thường xuyên Hội Nhơn sanh nhóm mỗi năm 3 lần : mùng 6 tháng 4; 13 tháng 8; 13 tháng 10.

 

C. Hội Thánh

Đại Hội Hội Thánh gồm tất cả Chức sắc nam nữ Cửu Trùng Đài thuộc hàng Thánh (gồm các phẩm : Giáo Hữu, Giáo Sư, Phối Sư, Chánh Phối Sư) và Thập nhị Thời Quân của Hiệp Thiên Đài với tánh cách là Hội viên, có quyền bàn cãi và bỏ phiếu, nhưng số phiếu nầy tính riêng.

Các Chức sắc hàm phong không được dự vào Hội viên của Đại hội nầy.

1- Tổ chức của Đại hội Hội Thánh :

1. Nghị trưởng : Thái Chánh Phối Sư.
2. Phó Nghị Trưởng : Nữ Chánh Phối Sư.
3. Từ hàn : - 1 Chức sắc nam - 1 Chức sắc nữ.
4. Phó Từ hàn : - 2 Chức sắc nam - 2 Chức sắc nữ.
5. Nghị viên : Tất cả Chức sắc Cửu Trùng Đài nam nữ từ Giáo Hữu đến Chánh Phối Sư.
6. Thập nhị Thời Quân Hiệp Thiên Đài phải có mặt đặng bảo thủ luật đạo không cho Hội phạm đến, cũng đồng quyền như Nghị viên.

Đại Hội Hội Thánh nhóm họp vào ngày 15 tháng 7 âm lịch hằng năm.

Nơi nhóm Đại Hội Hội Thánh : giữa Tòa Thánh.

2- Nhiệm vụ của Đại hội Hội Thánh :

1. Thảo luận các vấn đề của Hội Nhơn sanh dâng lên, hoặc của Thượng Hội đưa xuốngđặng lập phương ban hành.
2. Lo về sự phổ độ nhơn sanh, việc châu cấp cho Chức sắc hành đạo tha phương, xem xét lại tài chánh của Đạo, kiểm thảo lại lịch trình hành đạo.
3. Bàn cãi và công nhận số phỏng định thâu xuất tài chánh trong năm tới.
4. Hủy bỏ, thêm bớt, sửa cải những luật lệ nào không phù hạp với sự tiến hóa của nhơn sanh.
5. Quan sát các việc có ảnh hưởng đến nền Đạo.

 

D. Thượng Hội

Thượng Hội là hội tối cao trong Ba Hội lập Quyền Vạn linh, gồm 11 Chức sắc cao cấp nhứt của Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài.

Thượng Hội gồm :

- Đức Giáo Tông : Nghị trưởng.
- Đức Hộ Pháp : Phó Nghị trưởng.
- Thượng Phẩm : Nghị viên.
- Thượng Sanh : Nghị viên.
- 3 Chưởng Pháp : Nghị viên.
- 3 Nam Đầu Sư : Nghị viên.
- 1 Nữ Đầu Sư : Nghị viên.

Một vị Phối Sư hay Giáo Sư làm Từ hàn, không có quyền bàn cãi và bỏ thăm.

Mỗi năm, sau ngày lễ Noel, Thượng Hội nhóm thường niên trong hạn kỳ là 15 ngày.

Ngoài phiên nhóm lệ nầy, Thượng Hội còn nhóm 3 tháng 1 lần.

Thượng Hội nhóm trong Đền Thánh với nghi thức Khai hội và Bãi hội rất long trọng.

Khi Thượng Hội nhóm thường xuyên thì nhóm tại Giáo Tông Đường.

Phận sự của Thượng Hội :

Xem xét và phê chuẩn :

1. Các điều của Hội Nhơn sanh và Hội Thánh bàn luận về việc Đạo.

2. Các điều ước nguyện của Hội Nhơn sanh và Hội Thánh, những điều nào, hoặc của Hội Thánh, hoặc của Hội Nhơn sanh đánh đổ thì không được phép đệ lên Thượng Hội, trừ khi nào có đơn của hai ông Nghị trưởng kêu nài.

3. Thượng Hội bàn luận và định đoạt các việc cần gấp, hoặc yếu trọng phải ban hành trong Đạo.

Biểu quyết :

Khi đã bàn cãi xong, Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp bày tỏ ý kiến sau cùng, rồi Đức Giáo Tông cho bỏ thăm, vẫn lấy đa số làm qui tắc.

Quyền của Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp lại là quyền Chí Tôn nên hai vị Đại Thiên Phong nầy không bỏ thăm.

Nếu cả Ba Hội trong Quyền Vạn linh phản khắc nhau thì Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp hiệp lại chỉ định thế nào thì toàn đạo phải tuân theo thế ấy.

Thảng như Giáo Tông và Hộ Pháp phản khắc nhau, thì cả thảy ý kiến của hai hội dưới đều bị hủy bỏ. Chừng ấy, cả Ba Hội lập Quyền Vạn linh phải nhóm lại từ đầu để thảo luận lần thứ hai.

Trước giờ bế mạc Thượng Hội 15 phút, Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp vào đại điện mật nghị, rồi trở ra cho Thượng Hội biết rõ quyết định chung của hai vị.